QC Shop

Một vài suy nghĩ về triết lý của I.Cantơ về ý thức đạo đức

TS. Lê Thanh Sinh(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 5 (156), tháng 5 - 2004

I.Cantơ (Nguồn: Internet)

I.Cantơ (Nguồn: Internet)

 

 

 


Với Những cơ sở của siêu hình học (1785) và Phê phán lý tính thực tiễn (1788), I.Cantơ đã xác định rõ mục đích của ông là nghiên cứu lý tính với tư cách ý chí con người có thể tự quyết một cách hoàn toàn do mọi nguyên tắc tiên nghiệm mà không cần phải dựa vào bất cứ tri thức kinh nghiệm thông thường nào hết - đó là ý chí tự do. Bởi lẽ, với ông, "ý chí tự do và ý chí phục tùng các quy tắc đạo đức - đó chỉ là một"(1). Để đạt mục đích này, I.Cantơ đã nghiên cứu và tiến hành luận giải nguồn gốc của ý thức đạo đức trên cơ sở phê phán tất cả các thuyết đạo đức dựa trên các nguyên tắc đạo đức do kinh nghiệm thông thường đem lại. Từ đó, ông đã xây dựng siêu hình học đạo đức trên nền tảng của lý tính con người - lý tính tự nó.

Ngay từ những trang đầu của Những cơ sở của siêu hình học, I.Cantơ đã khẳng định, trong số tất cả những sự việc được chúng ta quan niệm là tốt lành ở trần gian và ở ngoài trần gian này, không một sự việc nào được chúng ta coi là hoàn toàn tốt đẹp, ngoại trừ thiện chí. Rằng, cái Thiện, ở mọi nơi, mọi lúc, bao giờ cũng tồn tại một cách tự thân; cái Thiện - đó là cái Thiện tự nó; nó tồn tại ngay cả khi không có cái gì được coi là Thiện. Đây được coi là một trong những công thức đặc sắc mà I.Cantơ đã sử dụng để trình bày quan niệm của ông về đạo đức. Với khẳng định này, I.Cantơ coi mọi nguyên tắc đạo đức không phải là cái được rút ra từ kinh nghiệm; các nguyên tắc đạo đức đều mang tính tiên nghiệm và là những cái vốn có của lý tính con người. Quan niệm này của I.Cantơ chắc chắn là xuất phát từ niềm tin tôn giáo của ông, khi ông "buộc phải hạn chế tri thức để giải phóng và tạo chỗ đứng cho niềm tin"(2), khi ông đặt lên hàng đầu tính xác thực hiển nhiên của ý thức đạo đức với tư cách cái có sứ mệnh vinh quang là giải phóng niềm tin tôn giáo khỏi những mâu thuẫn nan giải và khỏi mọi sự bí ẩn.

Như vậy, đối với I.Cantơ, tất cả những cái mà chúng ta gọi là tốt đều có thể trở thành xấu, chẳng hạn hiền hậu có thể trở thành hung dữ, điềm tĩnh có thể trở thành lạnh lùng, còn của cải, tiền tài có thể làm ám muội lương tâm, thay đen đổi trắng, tài năng có thể được sử dụng vào những mưu đồ đen tối. Với ông, chỉ duy nhất thiện chí được coi là tốt và tốt một cách tuyệt đối.

Sở dĩ I.Cantơ quả quyết như vậy là bởi thiện chí tốt không phải do những đối tượng mà chúng ta hướng đến chúng khi hành động, mà là do hành vi của chúng ta được coi là tốt và hợp lý. Trong cuộc sống, con người còn hành động vì những mục tiêu kinh nghiệm thông thường, nghĩa là hành động để mưu cầu một lợi ích nào đó. Hành động đó, theo I.Cantơ, chưa chắc đã là hợp lý và cũng chưa chắc đã phải là xuất phát từ lòng thành. Chỉ khi chúng ta nhìn nhận hành vi của mình hay hành vi của người khác một cách "tỉnh táo", xác định rõ hành vi đó là chính đáng hay không chính đáng, thì khi đó, chúng ta mới dám chắc là mình đã hành động theo lý trí. Bởi vậy, theo I.Cantơ, thiện chí không thể được coi là cái Thiện vì những gì mà nó thể hiện ra, cũng không phải vì nó giúp chúng ta dễ dàng đạt được mục đích mà chúng ta đang theo đuổi. Nó chỉ được coi là cái Thiện khi chúng ta hành động mong muốn của mình, nghĩa là chỉ khi nó mang tính tự quyết, tự trị. Ông viết: "Chỉ thiện chí tự nó mới có giá trị đạo đức tuyệt đối và mọi hành vi cũng chỉ trở thành hành vi đạo đức khi thiện chí đóng vai trò là cơ sở quyết định hành vi ấy"(3).

Tư tưởng này của I.Cantơ cho thấy rõ sự khác biệt căn bản giữa đạo đức học của ông với quan niệm về đạo đức của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp thường coi cái Thiện ngoài lý trí như một đối tượng và cho rằng chính cái Thiện đã lôi kéo tâm hồn con người và do vậy, cái Thiện là một đối tượng. Với I.Cantơ thì trái lại, ông đặt cái Thiện vào trong tâm hồn con người, vì cái Thiện, theo ông, chỉ là tên gọi khác của sự thành tâm và thiện chí. Với quan niệm này, I.Cantơ cho rằng con người chỉ được coi là có đạo đức nếu đó không phải là người hành động theo bổn phận, mà là người hành động vì bổn phận. Bởi lẽ, hành động theo bổn phận là hành động theo những tôn chỉ, ý muốn mà người khác áp đặt cho ta, buộc ta phải thực hiện; còn hành động vì bổn phận là hành động vì chính ta ý thức rằng đó là việc phải làm và có làm thì lương tâm ta mới trở nên thanh thản.

Theo I.Cantơ, thiện chí là thước đo hành vi đạo đức của con người. Thiện chí là thước đo giá trị không thể thay thế của hành vi đạo đức và thiện chí là cái mà bất cứ ai cũng nhận thức được một cách tiên thiên, tiên nghiệm. Khác với tri thức khoa học là cái con người phải học tập nhiều năm mới có và thường đòi hỏi ở con người những khả năng đặc biệt, ý thức đạo đức là cái có tính xác thực hiển nhiên, là cái vốn có trong lý tính con người. Chẳng hạn, đứng trước một việc xảy ra trong khu phố, tất cả mọi người đều đàm luận và phán xét. Trong những lời đàm luận và phán xét đó, ta dễ nhận thấy có những người cho rằng đương sự hành động như thế là phải hay là trái. Thế nhưng, ngoài việc phán xét là phải hay là trái, họ lại không biết rằng, cái đáng lý là phải đưa ra nhận xét cần phải làm như thế này hoặc như thế kia. Bởi lẽ, bản chất của những phán đoán đạo đức là thế: Nó không liên quan đến những gì đã có sẵn, mà chỉ liên quan đến cái phải làm. Và, I.Cantơ gọi những phán đoán đạo đức như thế là “những mệnh đề tổng hợp tiên thiên trong lĩnh vực sinh hoạt tự do”.

I.Cantơ cho rằng, thiện chí là một chân lý hiển nhiên và mang tính tiên thiên, tiên nghiệm. Nó là hiển nhiên vì phán đoán về tính chất, Thiện, Ác của hành vi đạo đức là loại phán đoán trực tiếp và rõ ràng, không cần phải chứng minh và biện luận. Và, dẫu có biện luận thì cũng chỉ là thuyết phục người khác để họ nhận ra sự thành tâm, thiện ý của ta mà thôi, còn chính ta thì không bao giò hoài nghi. Thiện chí mang tính chất tiên thiên, tiên nghiệm, vì nó không do kinh nghiệm mà có, nó là cái vốn có, cái nằm ngay trong lý tính con người, là năng lực phán đoán của con người. Với quan niệm này, I.Cantơ đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng, một con người không có năng lực phán đoán thì đừng nên tốn công, uổng sức uốn nắn cho họ, bởi người không có năng lực phán đoán sẽ cứ nhận định sai lầm về những gì mới xuất hiện. Năng lực phán đoán là cái không thể giáo dục; nó là cái tiên thiên, cái mang tính tiên nghiệm.

Để khẳng định tính chất hiển nhiên và tiên thiên của năng lực phán đoán đạo đức, I.Cantơ đưa ra những lập luận để chứng minh rằng, tri thức khoa học là cái không giúp gì con người trong việc phán xét sự thiện - ác của hành vi, bởi trong việc phán xét này, một người vô học có lương tri vẫn có thể đưa ra những phán đoán chân thực và đúng đắn hơn một triết gia có năng lực phán đoán sai lệch. Với khẳng định này, I.Cantơ cho rằng, việc nghiên cứu những lý tưởng đạo đức của tâm trí bình dân sẽ dẫn ta tới nguyên lý của những lý tưởng này. Tâm trí bình dân không quan niệm nguyên lý này một cách tổng quát và trừu tượng, nhưng lại luôn đặt nguyên lý này trước mắt và coi đó là thước đo những phán đoán của mình. Đó là: Nếu có kim chỉ nam trong tay, con người sẽ phân biệt được một cách đích thực cái gì là thiện và cái gì là ác, cái gì đúng và cái gì trái với bổn phận. Do vậy, theo ông, chúng ta không cần dạy thêm điều gì cho người bình dân, mà chỉ cần giúp cho họ có được ý thức về bổn phận của chính họ, bởi với họ, cả khoa học lẫn triết học cũng không thể giúp họ trở thành người lương thiện, trở nên khôn ngoan và có đạo đức.

Cái mà I.Cantơ gọi là tâm trí bình dân trong đạo đức cũng chính là cái mà chúng ta gọi là lương tri, là ý thức đạo đức tự nhiên của con người. Ý thức này vừa có tính hiển nhiên, vừa có tính tiên thiên, nghĩa là do tạo hoá phú cho con người, chứ không phải do giáo dục. Lương tri con người giúp cho họ có được những phán đoán đích thực, đúng đắn mỗi khi tâm trí họ không bị vẩn đục vì dục vọng và tư lợi. Bởi vậy, con người thường sáng suốt khi phán định hành vi của những người mà họ không quen biết và thường thiếu minh mẫn, ít sáng suốt khi phán định về công việc của chính họ hoặc của những người thân quen. Do chỗ lương tri là cái không cần học và nếu thiếu thì học cũng không được, nên I.Cantơ gọi đó là tâm trí đạo đức bình dân. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng, ý thức bình dân chỉ là khuôn thước đúng mực khi nó được lọc sạch khỏi những gì là vụ lợi và tình cảm; nhà đạo đức học không cần phải thêm gì vào ý thức bình dân cả. Năng lực phán đoán đạo đức là cái có sẵn trong tâm trí. Nhà đạo đức học chỉ cần gạn lọc lấy những yếu tố đạo đức hoàn toàn trong sạch để từ đó, tiến hành phân tích và tìm ra những điều kiện tiên thiên của nó. Có thế và chỉ có thế, đạo đức học mới có thể xây dựng được trên cơ sở của lý tính thuần tuý.

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của I.Cantơ ý thức đạo đức là cái hoàn toàn dựa trên lý tính, chứ không phải là cái dựa trên tình cảm và những toan tính dục vọng và tư lợi. Tương tự như vậy, đạo đức học chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở của lý tính và hơn nữa, đó là lý tính thực tiễn. I.Cantơ viết: "Các nguyên lý cảm tính nói chung là không thích hợp để từ đó, chúng ta có thể xây dựng các quy tắc đạo đức"(4). Rằng, con người chỉ có thể hy vọng vươn tới cái Thiện đích thực, cái Thiện tự nó khi hướng hoạt động, hành động của mình theo sự mách bảo của lý tính thực tiễn(5). Nhưng làm thế nào để xây dựng các nguyên tắc đạo đức chỉ dựa trên cơ sở của lý tính ấy? Để trả lời câu hỏi này, I.Cantơ không đưa ra những luận cứ rõ ràng, mà đưa ra một sự kiện mà ông gọi là "Sự kiện lý tính". Đó là sự kiện mà ai cũng nghiệm thấy các quy tắc đạo đức phổ quát đã in đậm trong lý tính của mình và đó là những quy tắc không cần ai phải dạy cho con người. Do vậy, theo I.Cantơ, nếu thử so sánh một nguyên lý khoa học với một nguyên tắc đạo đức, chúng ta đều có thể dễ dàng nhận thấy tính chất vừa hiện thực, vừa tuyệt đối của nguyên tắc đạo đức. Rằng, tính hiện thực của những nguyên tắc đạo đức luôn gắn với tính tuyệt đối, vô điều kiện và do vậy, trong mọi hoàn cảnh, nguyên tắc đạo đức luôn mách bảo con người phải hành động thế này hoặc thế kia như là "mệnh lệnh tuyệt đối" và không mang tính giả định theo kiểu: nếu anh làm thì sẽ được lợi ích này, lợi ích kia, mà mang tính tuyệt đối, nghĩa là nhất định phải làm. Về thực chất "Sự kiện lý tính" mà I.Cantơ đưa ra không ám chỉ một sự kiện kinh nghiệm thông thường nào cả, nó là sự kiện duy lý nhưng lại diễn tả sự hiện diện thực sự của các nguyên tắc đạo đức trong con người. Và, đó cũng chính là cái làm nên nét độc đáo trong triết lý của I.Cantơ về ý thức đạo đức.

 

 

(*) Tiến sĩ triết học, Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh.

(1) I.Cantơ. Tác phẩm, gồm 6 tập, t.4, ph.I. Nxb Tư tưởng, Mátxcơva, 1964, tr.290.

(2) I.Cantơ. Sđd., t.3, tr.95.

(3) I.Cantơ. Sđd., t.4, ph.I, tr.229.

(4) I.Cantơ. Sđd., t.4, ph.I, tr.285.

(5) Xem: I.Cantơ. Sđd., t.4, ph.I, tr.229.

Đã xem: 475
Thời gian đăng: Thứ hai - 15/06/2015 23:19
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất