QC Shop

Triết học Hêraclít và phép biện chứng của ông dưới nhãn quan của các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác - Lênin

PGS, TS. Đặng Hữu Toàn(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (153), tháng 2 - 2004

Là  người sáng lập phép biện chứng, Hêraclít (520 - 460 trước CN) đã có ảnh hưởng lớn lao và mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học nhân loại. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã không ít lần đưa ra những đánh giá khách quan về giá trị lịch sử và vai trò khai phá trong những quan điểm, luận điểm, những “phỏng đoán thiên tài” của Hêraclít. Dưới nhãn quan của các ông, Hêraclít không chỉ là đại diện tiêu biểu, là một trong những nhà triết học duy vật xuất sắc của nền triết học  Hy Lạp cổ đại, mà còn là người sáng lập ra phép biện chứng. Đánh giá cao giá trị tư tưởng, ý nghĩa lịch sử trong quan niệm duy vật của Hêraclít về Lửa, về cái Logos Vũ trụ, về “dòng chảy”, về tính thống nhất của Vũ trụ, về sự hài hoà và đấu tranh của các mặt đối lập, về linh hồn và Thượng đế, v.v., các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin còn chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong triết học Hêraclít, trong phép biện chứng của ông và bác bỏ, phê phán những cách hiểu không đúng về triết học Hêraclít.

Hêraclít (Nguồn: Internet)

Hêraclít (Nguồn: Internet)

Là người sáng lập phép biện chứng, Hêraclít (520-460 TCN.) đã có ảnh hưởng lớn lao và mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học nhân loại. Chắc chắn là không phải ngẫu nhiên, khi đánh giá ý nghĩa lịch sử và ảnh hưởng của triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học Hêraclít và phép biện chứng của ông nói riêng, C.Mác đã khẳng định: “Triết học hiện đại chỉ tiếp tục cái công việc do Hêraclít và Arixtốt đã mở đầu mà thôi”(1). Cùng với C.Mác là Ph.Ăngghen và sau các ông là V.I.Lênin, đã không ít lần đưa ra những đánh giá khách quan về giá trị lịch sử và vai trò khai phá trong những quan niệm, luận điểm, những “phỏng đoán thiên tài” của triết học Hêraclít và phép biện chứng của ông đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng triết học nhân loại.

Triết học Hy Lạp cổ đại - cái nôi của triết học châu Âu và toàn thế giới, cội nguồn của hầu hết các loại thế giới quan sau này - đã đi vào lịch sử tư tưởng nhân loại với tư cách đỉnh cao rực rỡ của nền văn minh thế giới cổ đại. Nói đến triết học Hy Lạp cổ đại với tư cách ấy, chúng ta không thể không nhắc đến những đại diện tiêu biểu của nó. Đó là Talét - “nhà triết học đầu tiên”, “nhà toán học đầu tiên”, “nhà thiên văn học đầu tiên” đã giải thích đúng đắn hiện tượng nhật thực và xác định độ dài của một năm là 365 ngày; người đã đi vào lịch sử triết học nhân loại với luận điểm nổi tiếng coi Nước là bản nguyên vật chất đầu tiên của Vũ trụ. Là Pitago - “người cha của triết học thần thánh”, người coi Con số là bản chất của mọi cái hiện tồn, là cái tạo nên tính đa dạng của thế giới, thiết lập nên cả “trật tự” Vũ trụ lẫn “trật tự” xã hội. Là Dênông - nhà triết học thuộc trường phái Êlê, nổi tiếng với tài hùng biện, với học thuyết về Tồn tại duy nhất, bất biến, bất động được luận chứng bằng các Apôri - những nghịch lý gây ra không ít cuộc tranh luận kéo dài mà cho đến nay, không mấy ai đã có thể bác bỏ được một cách dễ dàng. Là Empêđôclơ - người sáng lập môn tu từ học, nhà lý luận về nghệ thuật hùng biện; nhà triết học nổi tiếng với luận điểm coi sự vận động diễn ra dưới tác động của hai cực đối lập nhau - Tình yêu Căm thù của Đất, Nước, Lửa, Không khí - những khởi nguyên vật chất đầu tiên - là nguyên nhân hình thành Vũ trụ. Là Đêmôcrít - người xây dựng nên thuyết Nguyên tử cổ điển từ quan niệm của Lơxíp, nổi tiếng với tư cách “bộ óc bách khoa đầu tiên trong những người Hy Lạp”, người điều khiển tư duy trên mọi lĩnh vực, người đã tạo ra “đường lối Đêmôcrít” trong lịch sử triết học nhân loại. Là Prôtagorơ - nhà triết học thuộc trường phái Xôphistơ (nguỵ biện), nổi tiếng với luận điểm “vật chất trôi chảy” và “con người là thước đo của vạn vật”. Là Xôcrát - người sáng lập chủ nghĩa duy tâm khách quan, nổi tiếng với luận điểm “Con người, hãy nhận thức chính mình”, “Hãy nói ra để tôi biết về anh”, “Tôi biết là tôi không biết gì”, “Người hạnh phúc là người có lối suy nghĩ trong sáng và trí tuệ sắc sảo”. Là Platôn - “bậc thầy dẫn dắt nhân loại”, nổi tiếng với học thuyết về Ý niệm, về “nhà nước lý tưởng”, về sự hổi tưởng của linh hồn bất tử; người đã tạo ra “đường lối Platôn” trong lịch sử triết học nhân loại. Là Arixtốt - “Alếchxanđrơ Maxêđoan của triết học Hy Lạp”, “người khổng lồ về tư tưởng”, “khối óc toàn diện nhất” trong số các nhà triết học cổ đại Hy Lạp, người sáng lập Lôgíc học hình thức. Là Êpiquya - “nhà khai sáng Hy Lạp vĩ đại bậc nhất”, “nhà vô thần chiến đấu”, “nhà triết học tự ý thức”; người đã đưa ra nguyên tử luận của Đêmôcrít đến độ “hoàn chỉnh”, đến “những kết luận cuối cùng với tất cả những mâu thuẫn của nó”, người coi mục đích của triết học là mưu cầu hạnh phúc cho con người. Là Pirông - người sáng lập chủ nghĩa hoài nghi trong lịch sử triết học; người nổi tiếng với luận điểm “mọi câu nói đều có câu nói ngược lại”, không nên khẳng định bất cứ điều gì, tốt nhất là không tỏ thái độ nhất quyết trong phán đoán, hoài nghi là thảo luận mọi vấn đề mà luôn kiềm chế phán đoán, là cái Ataraxi (thanh tịnh, bình thản) của tâm hồn, người coi nghĩa vụ thiêng liêng của nhà triết học là đấu tranh cho hạnh phúc con người, v.v..

Cùng với tất cả các nhà triết học nổi tiếng ấy, Hêraclít - người sáng lập phép biện chứng, “nhà triết học vận động”, nổi tiếng với luận điểm coi Lửa là bản nguyên vật chất đầu tiên của Vũ trụ, với học thuyết về “dòng chảy”, về Logos - đã đem lại vinh quang có một không hai cho triết học Hy Lạp cổ đại. Đó là cái vinh quang của những trí tuệ bách khoa kỳ diệu, của những năng lực tư duy triết học hiếm thấy mà cho đến nay, như Ph.Ăngghen đã khẳng định trong Biện chứng của tự nhiên, “trong triết học cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dân tộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sử phát triển của nhân loại”; rằng “từ các hình thức muôn hình muôn vẻ” của nền triết học này, “đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này” và do vậy, ngay cả “khoa học tự nhiên lý thuyết” cũng “buộc phải quay trở lại với người Hy Lạp, nếu nó muốn truy cứu lịch sử phát sinh và phát triển của những nguyên lý chung của nó ngày nay”(2). Ánh hào quang đó đã đem lại cho triết học Hy Lạp cổ đại “tràn đầy sức sống và bước ngạo nghễ trên vũ đài toàn thế giới”(3). Nó đã khiến C.Mác vĩ đại phải quan tâm đến ngay từ khi ông bắt đầu sự nghiệp triết học của mình. Mặc dù chọn triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya làm đối tượng nghiên cứu, trong luận án tiến sĩ triết học của mình, hơn một lần, C.Mác đã nhắc đến Hêraclít và quan niệm duy vật thô sơ, mộc mạc của người sáng lập phép biện chứng này. Ông đánh giá cao cái nhìn biện chứng dẫu còn “ngây thơ” nhưng là “khách quan” của Hêraclít trong việc mổ xẻ, phân tích và lý giải để tìm ra “ánh sáng thuần khiết”, mặc dù đó là “ánh sáng mờ nhạt” trong bản chất của các hiện tượng tự nhiên. Với đóng góp này của Hêraclít, C.Mác đã khẳng định Hêraclít và các nhà triết học duy vật khác của triết học Hy Lạp cổ đại “mãi mãi là những người thầy của chúng ta nhờ sự ngây thơ khách quan kỳ vĩ ấy”(4). Cũng trong luận án tiến sĩ triết học của mình, không dưới một lần, C.Mác đã nói về ảnh hưởng và giá trị lịch sử của triết học Hêraclít trong lịch sử phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại.

Nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học và phép biện chứng của Hêraclít nói riêng, Ph.Ăngghen đã khẳng định triết học Hêraclít là một trong những hình thức đầu tiên của quan niệm biện chứng và duy vật về triết học. Trong tác phẩm nổi tiếng - Chống Đuyrinh, khi nói đến quan niệm của Hêraclít về sự vận động và biến đổi phổ biến của sự vật, hiện tượng trong thế giới, Ph.Ăngghen viết: “Khi chúng ta dùng tư duy để xem xét giới tự nhiên, lịch sử loài người, hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trước nhất, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại trong đó không có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi. Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhưng xét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và lần đầu tiên đã được Hêraclít trình bày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”(5).

Nói về triết học Hêraclít, với cái nhìn khách quan, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ chỉ ra giá trị tư tưởng, ý nghĩa lịch sử và tính chất vô thần trong những luận điểm, quan niệm của nhà triết học này về cái bản nguyên vật chất đầu tiên của Vũ trụ là Lửa; về cái Logos Vũ trụ; về “dòng chảy”; về tính thống nhất của Vũ trụ ở ngọn lửa sống vĩnh hằng; về sự hài hoà và đấu tranh của các mặt đối lập với tư cách một phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; về linh hồn và Thượng đế, v.v., mà còn chỉ ra những thiếu sót và hạn chế của ông trong lĩnh vực nhận thức do “chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên”, chưa chứng minh được về chi tiết mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên, chỉ ra những hạn chế và sai lầm về quan điểm chính trị, xã hội của ông. Và, khi coi các nhà triết học Hy Lạp cổ đại “đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định Hêraclít là một đại biểu xuất sắc của phép biện chứng tự phát ấy, đồng thời làm rõ những hạn chế lịch sử, tính chất ngây thơ, tự phát trong những quan niệm biện chứng của Hêraclít về Vũ trụ.

Không chỉ thế, với cái nhìn khách quan, khoa học về lịch sử triết học, với sự am hiểu sâu sắc về triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học Hêraclít nói riêng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thẳng thắn phê phán và bác bỏ những cách hiểu hay lý giải không đúng về triết học Hêraclít và phép biện chứng của ông. Chúng ta có thể thấy điều đó qua sự phê phán của các ông đối với những đánh giá sai lầm của Ph.Látxan về triết học Hêraclít.

Ngay sau khi Ph.Látxan cho xuất bản tại Béclin tác phẩm viết về triết học Hêraclít (năm 1858) - “Die Philosophie Herakleitos des Dunklen von Ephesos” - “Triết học của Hêraclít khó hiểu ở Êphedơ” (V.I.Lênin dịch chữ Dunklen là Bí ẩn - Đ.H.T), C.Mác đã lập tức tìm đọc và gửi cho Ph.Ăngghen cùng đọc. Trong thư gửi cho Ph.Látxan ngày 31 tháng Năm 1858, C.Mác nói ông “đã nghiên cứu kỹ” tác phẩm này của Látxan  và bày tỏ thái độ không tán thành đối với cách hiểu không đúng của Ph.Látxan về triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học Hêraclít nói riêng(6). Trong một bức thư viết cho Ph.Ăngghen, khi nói về tác phẩm này của Ph.Látxan, C.Mác cho rằng, “về thực chất”, đây chỉ là “một tác phẩm rất ti tiện đáng thương hại” của “một cậu học sinh trong một giờ học, muốn chứng tỏ ngay lập tức rằng mình vừa nắm được “bản chất” bài đó, vừa nắm được “hiện tượng”, lại nắm được cả “quá trình biện chứng” của nó”. Cái “ti tiện đáng thương hại” trong cách lý giải của Ph.Látxan về triết học Hêraclít, theo C.Mác, là ở chỗ không hiểu đúng tư tưởng biện chứng của Hêraclít, “không biết thực chất vấn đề” mà Hêraclít đã đặt ra và do vậy, đã “đưa ra cách lý giải theo kiểu Hêgen (coi Hêraclít là “nhà triết học của sự diễn tiến” trên cơ sở duy tâm - diễn tiến từ “thực tại thuần tuý” sang “hư vô” và ngược lại - Đ.H.T) với tất cả các thủ thuật đa ngôn pháp biện”. Rằng, Ph.Látxan đã không hiểu Hêraclít nhưng lại coi triết học Hêraclít là “thứ không ai hiểu được” và về thực chất, “cũng hoàn toàn chẳng thêm thắt được  một chút gì mới mẻ vào những điều mà Hêgen đã nói” trong “Lịch sử triết học” của ông(7).

Ph.Ăngghen khi đọc tác phẩm này của Ph.Látxan viết về triết học Hêraclít cũng đã bày tỏ sự đồng tình với nhận xét của C.Mác và khẳng định: “Rõ ràng là về thực chất ngài Látxan đã có thái độ khá dễ dàng đối với Hêraclít khó hiểu”(8).

Triết học của Hêraclít khó hiểu ở Êphedơ” của Ph.Látxan cũng đã thu hút sự quan tâm của V.I.Lênin. Trong Bút ký triết học, khi xuất phát từ sự phê phán của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với cách hiểu không đúng của Ph.Látxan về triết học Hêraclít, V.I.Lênin đã phát triển một cách triệt để sự phê phán đó và đưa ra những đánh giá khách quan, khoa học về Hêraclít và triết học của ông. Vạch rõ sự giải thích xuyên tạc của Ph.Látxen đối với Hêraclít, V.I.Lênin không những đã chỉ rõ thực chất duy tâm chủ nghĩa trong những luận điểm triết học của Ph.Látxan, mà còn phê phán Ph.Látxan về “sự sao chép hoàn toàn, sự nhắc lại một cách nô lệ những luận điểm của Hêgen về Hêraclít”; rằng “Látxan chỉ giản đơn nhắc lại Hêgen, cóp lại Hêgen, nhai lại hàng triệu lần những luận điểm cá biệt của Hêgen về Hêraclít, nhồi nhét vào tác phẩm của mình cả cái đống học vấn cực kỳ thông thái rởm không thể tưởng tượng được”. “Látxan hoàn toàn không có ý thức về mức độ trong tác phẩm này: ông ta đã thẳng tay nhấn chìm Hêraclít trong Hêgen(9). Giải thích triết học Hêraclít theo hướng tối tân hoá Hêraclít, Hêgen hoá Hêraclít trên tinh thần của chủ nghĩa duy tâm khách quan và phép biện chứng duy tâm như Ph.Látxan đã làm, theo V.I.Lênin, là không biết, không hiểu được “cái tinh thần triết học Hy Lạp” chân chính trong Hêraclít; là sự phức tạp hoá cái giản dị, thô sơ và mộc mạc trong quan niệm biện chứng tự phát của Hêraclít về thế giới; là “làm hỏng tính sinh động, tính tươi tắm, tính chất phác, tính hoàn chỉnh lịch sử của Hêraclít bằng những sự giải thích gò ép Hêraclít theo Hêgen” và đã “để trong bóng tối chủ nghĩa duy vật hay là những khuynh hướng duy vật của Hêraclít bằng cách gò ép Hêraclít theo Hêgen”(10).

Thật vậy, phép biện chứng của Hêraclít và học thuyết của ông về “dòng chảy”, theo V.I.Lênin, đã được Ph.Látxan lý giải theo nghĩa “sự sinh thành” - cái mà trong phép biện chứng duy tâm của Hêgen có nghĩa là bước chuyển của “tồn tại thuần tuý” thành “không tồn tại thuần tuý” và của những khái niệm thuần tuý “tồn tại” thành những khái niệm thuần tuý “không tồn tại”. Rằng, do diễn đạt “một cách tự do” di sản triết học còn lưu giữ được của Hêraclít từ nguyên bản tiếng Hy Lạp cổ, nên ở Ph.Látxan, không những “dòng chảy”, mà cả ngọn lửa sống vĩnh hằng luôn bùng cháy và lụi tàn theo quy luật của nó ở Hêraclít cũng bị biến thành “sự sinh thành” của Hêgen theo nghĩa là sự chuyển hoá không ngừng, “đều đặn” từ tồn tại đến không tồn tại (“đang trôi qua”) và từ không tồn tại đến tồn tại (“đang trôi qua”)(11). Với cách diễn đạt kiểu đó, V.I.Lênin chỉ rõ, Ph.Látxan đã đi đến chỗ khẳng định rằng “nguyên tắc về sự phát triển, về des Werdens (sự sinh thành), ở Hêraclít, logisch - präexistent (có trước một cách logíc), rằng triết học của Hêraclít = ideal - philosophie (Triết học duy tâm)”(12).

Cũng với cách diễn đạt “tự do” như vậy, theo V.I.Lênin, Ph.Látxan đã gán cho quan niệm của Hêraclít về sự đồng nhất - “sự hài hoà” của các mặt đối lập cái mác duy tâm kiểu Hêgen mà theo đó, thoạt đầu các mặt đối lập hiện thực bị tước mất nội dung cụ thể của chúng để sau đó, chúng bị biến thành các mặt đối lập tinh thần và trở nên đồng nhất với nhau trong quá trình sinh thành ở lĩnh vực các khái niệm thuần tuý. Ở đây, sai lầm của Ph.Látxan, theo V.I.Lênin, là ở chỗ, ông ta đã không hiểu khi Hêraclít nói rằng trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển (sinh thành), mỗi sự vật, hiện tượng đều có khuynh hướng chuyển sang mặt đối lập của nó (cái xuất hiện sẽ tiêu vong, cái đang sống sẽ chết,…) thì điều đó không có nghĩa là Hêraclít phủ nhận sự khác biệt giữa các mặt đối lập (sống và chết, thiện và ác,…), mà nó có nghĩa là các mặt đối lập luôn có ở mỗi sự vật, hiện tượng trong cùng một mức độ, trong cùng một lúc và về cùng một phương diện nào đó. Hêraclít khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều có mặt đối lập theo nghĩa là các sự vật, hiện tượng ấy luôn chứa đựng trong bản thân nó các yếu tố mà sớm hay muộn, sẽ đưa nó tới chỗ diệt vong; còn Ph.Látxan thì lại hiểu sự tồn tại của các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng theo nghĩa là mỗi lần và ở một mức độ như nhau, sự vật, hiện tượng ấy vừa là nó, vừa là mặt đối lập của nó.

Với cách hiểu mang tính chất duy tâm chủ nghĩa đó, Ph.Látxan đã lý giải học thuyết về “dòng chảy” của Hêraclít theo tinh thần phép biện chứng duy tâm của Hêgen. Từ quan niệm cho rằng, “trong quá trình phát triển của mình, mọi sự vật, hiện tượng đều chuyển hoá thành mặt đối lập tuyệt đối của nó”, Ph.Látxan đã đưa ra một kết luận hết sức võ đoán: “Mọi sự vật, hiện tượng cùng một lúc vừa chính là nó, vừa là mặt đối lập của nó”(13). Và, khi gán kết luận này cho học thuyết về “dòng chảy” của Hêraclít, Ph.Látxan không chỉ quy học thuyết với những phỏng đoán thiên về sự vận động và biến đổi phổ biến của vạn vật trong Vũ trụ đã được Hêraclít đưa ra về học thuyết của Cratin (nửa sau thế kỷ thứ V TCN.) và coi Hêraclít là người theo thuyết nhị nguyên, mà còn, như V.I.Lênin khẳng định, “nhấn mạnh và nhai lại không chán” rằng Hêraclít “thừa nhận sự vận động ở tất cả, lấy sự vận động hay là sự sinh thành (Werden) làm nguyên tắc” để từ đó đi đến kết luận: với Hêraclít thì toàn bộ vấn đề chính là ở chỗ phải hiểu sự vận động đó là “tính đồng nhất diễn tiến của những mặt đối lập tuyệt đối (schelechthin)”. Lý giải học thuyết về “dòng chảy” của Hêraclít theo cách đó, Ph.Látxan, - V.I.Lênin khẳng định, - đã “dùng búa đóng vào đầu óc độc giả cái ý của Hêgen cho rằng, trong những khái niệm trừu tượng (và trong hệ thống của chúng), không thể diễn tả nguyên tắc vận động bằng cách nào khác hơn là bằng nguyên tắc đồng nhất các mặt đối lập”(14).

Bác bỏ cách giải thích theo lối duy tâm chủ nghĩa kiểu Hêgen của Ph.Látxan đối với học thuyết về “dòng chảy” của Hêraclít, V.I.Lênin khẳng định, trong học thuyết về “dòng chảy” của mình, Hêraclít không chỉ thừa nhận tính phổ biến của vận động, mà hơn thế nữa, còn đưa ra quan niệm về “vận động biện chứng” và “diễn tả rất tuyệt và chất phác” quan niệm này trong công thức: “Chúng ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông” (câu cách ngôn nổi tiếng của Hêraclít)(15).

Không chỉ phê phán và bác bỏ sự lý giải triết học Hêraclít theo lối tối tân hoá Hêraclít, Hêgen hoá Hêraclít của Ph.Látxan, V.I.Lênin còn chỉ rõ, mặc dù di sản triết học của Hêraclít mà chúng ta còn lưu giữ được là hết sức ít ỏi, song chỉ từng ấy cùng đã đủ để thấy triết học Hêraclít “thật là tuyệt vì cái tính chất phác ngây thơ của nó”. Rằng, trong học thuyết về “dòng chảy” nổi tiếng, Hêraclít đã đưa ra những phỏng đoán thiên tài về “vận động biện chứng”, và trong quan niệm về ngọn lửa sống vĩnh hằng, ông đã nói đến sự “hài hoà” và đấu tranh của các mặt đối lập, đến tính thống nhất vật chất của Vũ trụ. Và, với Hêraclít, thế giới hay Vũ trụ này là một chỉnh thể bao gồm vạn vật; thế giới hay Vũ trụ ấy không phải do bất cứ một vị thần hay bất cứ người nào sáng tạo ra, mà đã, đang và sẽ mãi còn là một ngọn lửa vĩnh viễn sống, bùng cháy và tắt đi theo những quy luật vốn có của nó, theo cái Logos Vũ trụ của nó - đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”(16).

Từ tất cả những điều đó, V.I.Lênin khẳng định: “Nói về Hêraclít với mức độ vừa đủ, coi đó là một trong những người sáng lập ra phép biện chứng, thì thật là vô cùng có ích”(17). Cái “vô cùng có ích” mà V.I.Lênin nói đó là ở chỗ, phép biện chứng của Hêraclít là “phép biện chứng hoàn toàn khách quan, coi như là nguyên lý của tất cả cái gì tồn tại”(18).

Như vậy, có thể nói, dưới nhãn quan của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, Hêraclít không chỉ là đại diện tiêu biểu, là một trong những nhà triết học duy vật xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại, mà còn là người sáng lập ra phép biện chứng. Với tư cách nhà triết học duy vật, người sáng lập phép biện chứng, Hêraclít đã đi vào lịch sử tư tưởng nhân loại và để lại những dấu ấn sâu đậm mà cho đến nay, sau gần 25 thế kỷ, chúng ta vẫn phải trở lại với chủ nghĩa duy vật thô sơ, mộc mạc và phép biện chứng ngây thơ, tự phát của ông với tư cách “bản nguyên đầu tiên”, cội nguồn lý luận của thế giới quan duy vật biện chứng.

 


(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó tổng biên tập Tạp chí Triết học.

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.166.

 

 

 

 

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.491.

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.40, tr.107.

(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.40, tr.218.

(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.35.

(6) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.29, tr.715 -716.

(7) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.29, tr.345 -348.

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.29, tr.349 -350.

(9) V.I.Lênin. Toàn tập, t.29. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr.363, 364, 367-368.

(10) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.372, 376.

(11) Xem: V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.371.

(12) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.371.

(13) F.Lassalle. Die Philosophie Herakleitos des Dunklen von Ephesos. Berlin, 1858, B.I, s.72.

(14) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.366 - 367.

(15) Xem: V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.367.

(16) Xem: V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.364, 366, 371.

(17) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.368.

(18) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr.277.

Đã xem: 2014
Thời gian đăng: Thứ ba - 02/06/2015 04:21
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất