QC Shop

Triết học với tư cách lịch sử triết học (Hội nghị bàn tròn về cuốn sách của V.V.Xôcôlốp "Nhập môn lịch sử triết học" (Kỳ 1)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 1 (188), tháng 1 - 2007

LTS: Triết học với tư cách lịch sử triết học là tiêu đề Hội nghị bàn tròn về cuốn “Nhập môn lịch sử triết học” của V.V.Xôcôlốp – nhà nghiên cứu lịch sử triết học nổi tiếng, Giáo sư, Tiến sĩ, Khoa Triết học, Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva mang tên M.V.Lômônôxốp. Trong cuốn sách này, Giáo sư, Tiến sĩ V.V.Xôcôlốp đã đưa ra một quan niệm mới về triết học với tư cách lịch sử triết học mà có ý kiến cho là còn xuất sắc hơn cả quan niệm của Cantơ và Hêghen. Không chỉ thế, trong cuốn sách này, ông còn đưa ra quan điểm coi lịch sử triết học như là triết học trong quá trình phát triển lịch sử của nó và nhiều tư tưởng độc đáo khác liên quan đến tính đặc thù của tri thức triết học, đến nhận thức triết học và lịch sử của nó.

Ngay sau khi ra mắt độc giả, cuốn sách này đã được sử dụng như một giáo trình cho sinh viên khoa triết học của các trường đại học tổng hợp ở Liên bang Nga; đồng thời, cũng nhận được nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét, phê bình của các học giả có tên tuổi.

Trong bầu không khí đó và với những quan niệm mới, tư tưởng mới của cuốn sách này, Tạp chí “Những vấn đề triết học” (Nga) đã tổ chức Hội nghị bàn tròn với sự tham gia của nhiều học giả nổi tiếng của Tạp chí “Những vấn đề triết học”, Viện Triết học và một số trường đại học tổng hợp thuộc Liên bang Nga, dưới sự điều khiển của V.A.Léctorơxki – Tiến sĩ triết học, Tổng biên tập Tạp chí “Những vấn đề triết học”, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Nga. Nội dung Hội nghị này được đăng toàn văn trên Tạp chí “Những vấn đề triết học”, số 3, 2006.

Để đưa nội dung này đến với đông đảo những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nước ta làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học, nhất là lịch sử triết học, Toà soạn Tạp chí Triết học cho đăng toàn văn bản dịch của PGS.TS.Trần Nguyên Việt, PGS.TS.Đặng Hữu Toàn (hiệu đính) trên một số số Tạp chí, bắt đầu từ số này.

Toà soạn Tạp chí Triết học hy vọng đem lại cho đông đảo người đọc những thông tin bổ ích và mong nhận được nhiều ý kiến trao đổi về những nội dung đã được các nhà khoa học Nga đề cập đến trong Hội nghị bàn tròn về cuốn sách của Giáo sư, Tiến sĩ V.V.Xôcôlốp – “Nhập môn Lịch sử triết học”.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Các nhà khoa học tham gia Hội thảo:

V.A.Léctorơxki – TS. triết học, Tổng biên tập Tạp chí “Những vấn đề triết học”, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAN).

V.V.Xôcôlốp – TS. triết học, GS. Bộ môn Lịch sử triết học nước ngoài, Khoa Triết học, Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva (MGU) mang tên M.V.Lômônôxốp.

T.I.Ôiderơman – TS. triết học, Viện sĩ RAN.

A.Ph.Dôtốp – TS. triết học, GS. Bộ môn Lịch sử triết học nước ngoài, Khoa Triết học, MGU.

N.S.Kirabaép – TS. triết học, Chủ nhiệm khoa Khoa các khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Tổng hợp Lumumba.

G.G.Maiorốp – TS. triết học, GS. Bộ môn Lịch sử triết học nước ngoài, Khoa Triết học, MGU.

V.V.Vaxiliép – TS. triết học, GS. Bộ môn Lịch sử triết học nước ngoài, Khoa Triết học, MGU.

A.L.Đôbrôkhôtốp – TS. triết học, Chủ nhiệm khoa Khoa Lý luận và lịch sử văn hoá thế giới, Khoa Triết học, MGU.

A.V.Xemuskin – TS. triết học, GS Bộ  môn Lịch sử triết học,  Khoa các khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Tổng hợp Lumumba.

A.A.Guxâynốp – TS. triết học, Viện trưởng Viện Triết học, RAN, Viện sĩ RAN.

V.A.Giutrơcốp – TS. triết học, Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Triết học, RAN.

V.A.Léctorơxki: Hôm nay, chúng ta gặp nhau tại Hội nghị bàn tròn này để thảo luận về vấn đề “Triết học với tư cách lịch sử triết học”. Đây là dịp tốt để chúng ta tiến hành cuộc thảo luận này vì vừa qua, một cuốn sách rất thú vị của nhà nghiên cứu lịch sử triết học nổi tiếng – Vaxili Vaxiliêvích Xôcôlốp với nhan đề “Nhập môn Lịch sử triết học” đã được xuất bản. Cuốn sách này không phải là sự trình bày các quan điểm triết học khác nhau trong tiến trình phát triển lịch sử của chúng - điều mà chúng ta thường thấy trong các cuốn sách về lịch sử triết học, mà là sự phân tích về nguồn gốc của các vấn đề triết học, về tiến trình phát triển của chúng và từ đó, đề xuất những giải pháp để giải quyết các vấn đề này. Nói cách khác, tác giả đã đưa ra quan niệm riêng của mình về triết học và luận chứng cho quan niệm đó bằng sự phân tích một khối lượng tư liệu lịch sử đồ sộ. Triết học được trình bày như vậy chính là lịch sử triết học.

Hiện nay, trong chúng ta đang tồn tại hai loại quan niệm khác nhau về mối quan hệ của triết học đối với lịch sử của bản thân nó.

Loại quan niệm thứ nhất đang được phổ biến rộng rãi ở các nước Anh – Mỹ. Đó là quan niệm xuất hiện do ảnh hưởng của triết học phân tích. Theo quan niệm này thì quan niệm của Xôcôlốp dường như còn xuất sắc hơn cả quan niệm của Cantơ hoặc Hêghen. Vấn đề không phải là ở chỗ V.V.Xôcôlốp thông minh hơn các nhà triết học cổ điển Đức đáng kính, mà ở điều giản đơn là, nhà triết học của chúng ta sống ở thời đại sau các nhà triết học cổ điển, hiểu được cái mà họ không thể hiểu và nắm được kỹ thuật phân tích mà cách đây một hoặc hai trăm năm chưa hề có.

Loại quan niệm thứ hai đang được phổ biến một cách khá rộng rãi ở châu Âu và ở một loạt các nhà triết học nước ta. Các nhà triết học theo quan niệm này cho rằng, triết học chính là lịch sử triết học, bởi chính lịch sử triết học quy định ý nghĩa của các vấn đề triết học và họ đưa ra những phương thức được coi là khả thi cho việc giải quyết các vấn đề ấy. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa tìm ra được những phương thức triết lý nào khác để làm việc đó và do vậy, nếu một ai đó muốn nghiên cứu triết học thì hãy cố mà tìm hiểu và nắm lấy lịch sử triết học.

Tôi không thể đi vào việc trình bày một cách chi tiết nhận thức của mình về vấn đề này, mà chỉ có thể nói về nó một cách hết sức ngắn gọn. Đó là tôi không tán thành cả hai loại quan niệm nêu trên. Bởi lẽ:

Một mặt, chúng ta không thể nghiên cứu triết học một khi không biết gì về lịch sử triết học và không lưu tâm đến nó một cách thường xuyên. Bởi lẽ, chính ý nghĩa của các vấn đề triết học đã luôn mang tính lịch sử và trong lịch sử triết học, người ta cũng đã đưa ra những giải pháp cho các vấn đề cần được biết đến và do vậy, nếu không nhận thức được điều đó thì không thể nói đến nghiên cứu triết học. Song, vấn đề lại không phải là ở đó. Trong lịch sử triết học, cũng như trong lịch sử tư tưởng nói chung, đã từng có những quan niệm mà vào thời điểm xuất hiện của chúng, cũng như ở các thời điểm tiếp theo, chưa được hiểu như hiện nay. Và, ngay ở thời điểm này, những quan niệm đó vẫn cần phải được làm rõ và phát triển trong bối cảnh của những vấn đề đang được đặt ra đối với triết học hiện đại. Theo đó, sự phát triển của triết học luôn đòi hỏi phải có sự đối thoại thường xuyên với lịch sử của bản thân nó. Đó không chỉ là những suy tư về lịch sử triết học dưới ánh sáng của kinh nghiệm hiện đại, mà còn phải phát hiện ra trong nó những quan niệm có giá trị bổ trợ cho việc suy tư và giải quyết những vấn đề mà hiện đang buộc chúng ta phải quan tâm. Chính vì thế mà lịch sử triết học thể hiện ra như là triết học, còn triết học là lịch sử triết học.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phương diện của vấn đề. Phương diện khác của vấn đề này là ở chỗ, hệ các vấn đề triết học không thể quy về các vấn đề mà trước đây chưa được thảo luận. Thật ra, triết học, về một phương diện nào đó mà nói, đã bàn đến những vấn đề “muôn thuở”. Đó là những vấn đề rất cụ thể và chuyên biệt trong mỗi thời kỳ lịch sử. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là ở chỗ, triết học trước hết là sự phản tư về những vấn đề do sự phát triển của văn hoá đặt ra; đồng thời, chính những vấn đề này cũng luôn thay đổi theo lịch sử; và do vậy, mỗi khi các nhà triết học cần phải đưa ra những giải đáp mới cho các vấn đề “muôn thuở” thì đó cũng là lúc họ đưa ra những quan niệm độc đáo. Nếu không phải như vậy thì làm gì có lịch sử triết học để giờ đây, chúng ta cần phải nghiên cứu.

Công trình nghiên cứu của V.V.Xôcôlốp đã đem lại nhiều vấn đề lý thú cho chủ đề mà chúng ta đang thảo luận. Không chỉ thế, công trình này còn giúp cho chúng ta hiểu lịch sử triết học như là triết học trong quá trình phát triển lịch sử của nó và chỉ ra những chủ đề quan trọng trong quá trình lịch sử đó. V.V.Xôcôlốp đã xây dựng lịch sử triết học xung quanh vấn đề về mối quan hệ qua lại giữa chủ thể và khách thể. Tôi cũng có một quan niệm tương tự như vậy về lịch sử triết học, nhưng quan niệm này có thể và cần phải được thảo luận. Tôi rất thích khái niệm mà V.V.Xôcôlốp đã đưa ra là “tri thức về niềm tin” (“Верознание” -  chúng tôi tạm dịch là tri tín – ND). Đó là một phát hiện hay, liên quan đến nhận thức của tác giả về tính đặc thù của tri thức triết học, về sự khác biệt của nó, một mặt, với niềm tin trong khoa học; mặt khác, với thần học. Trong công trình nghiên cứu này còn có nhiều tư tưởng thú vị khác liên quan đến nhận thức triết học và lịch sử của nó. Vì vậy, hôm nay chúng ta vừa thảo luận về nội dung cuốn sách của V.V.Xôcôlốp, vừa bàn đến những vấn đề mà cuốn sách này đã đề cập.

V.V.Xôcôlốp: Vlađixláp Alếchxanđrôvích Léctorơxki kính mến! Ngoài những vấn đề mà ông đã nói tới, còn có những vấn đề khác được đặt ra trong cuốn sách này của tôi. Và, nếu đề cập đến điều mà ông đã nói tới, thì ý kiến của tôi là, triết học chính là lịch sử triết học và vì vậy, tôi đặt tiêu đề cho cuốn sách này là “Nhập môn Lịch sử triết học”. Tính chủ - khách thể là mô hình mang tính gợi mở và chính nó cho phép chúng ta nhìn nhận con người trong lịch sử triết học một cách gần gũi nhất, cũng có thể nói, là cụ thể nhất, thậm chí cả khi chúng ta thảo luận về những vấn đề của nền văn minh nhân loại.

T.I.Ôiderơman: Giáo sư V.V.Xôcôlốp đã giới thiệu cuốn sách của mình với tôi kèm theo dòng chữ mong nhận được sự góp ý phê bình. Nhưng, trước khi đưa ra lời góp ý, tôi chỉ muốn nói rằng, đây là một cuốn sách rất thú vị; rằng, trong số các cuốn sách mang tiêu đề “Nhập môn Lịch sử triết học” đã được xuất bản từ trước tới nay, thì cuốn sách này là thú vị nhất, đáng giá nhất. Tôi không dám gọi cuốn sách này là “Giáo trình kinh điển của Đại học Tổng hợp”, nhưng trong thâm tâm, tôi rất muốn như vậy và trong bất cứ trường hợp nào tôi cũng mong là như vậy…

V.V.Xôcôlốp: Tôi có gọi như thế đâu.

T.I.Ôiderơman: Đó là một cuốn giáo trình tốt. Bây giờ, tôi xin đi vào vấn đề chính - đó là đưa ra những ý kiến nhận xét chân thành. Ý kiến nhận xét đầu tiên của tôi có liên quan đến việc định nghĩa triết học. Đương nhiên, hiện chúng ta không có những định nghĩa chung, có thể chấp nhận được về triết học. Mỗi nhà triết học đều có thể đưa ra những định nghĩa riêng của mình về triết học, cũng như quan niệm riêng về đối tượng của triết học, v.v.. Thế nhưng, định nghĩa mà V.V.Xôcôlốp đã đưa ra, theo tôi, lại không thể coi đó là một khái niệm triết học mà ít ra, về mặt hình thức, triết học cũng có thể được coi như một hệ thống tri thức khoa học, nghĩa là một tri thức khoa học về mặt hình thức mà tôi muốn nói đến, bởi ở các khoa triết học còn có sự hiện diện của các nhà triết học có học hàm, các giáo sư triết học, v.v.. Trong khi đó, V.V.Xôcôlốp lại viết: “Triết học là một hệ thống tri tín tương đối phức tạp”. Theo tôi, tri tín dường như là một định nghĩa mang tính thần học về triết học. Bên cạnh từ này, trong tiếng Nga và ở các thứ tiếng khác còn có những từ hay hơn nhiều - đó là “tín niệm” (“убеждение”). Triết học là hệ thống các tín niệm. Các tín niệm này, trong một số trường hợp, có thể là những tín niệm khoa học, trong một số trường hợp khác lại không phải như vậy, còn ở trường hợp thứ ba là phản khoa học, mang tính thần thoại. Mọi cái đều có thể trở thành tín niệm. Nhưng, cái mà tôi muốn nói đến chính là những tín niệm tạo thành triết học, chứ không phải tri tín. Do vậy, tôi rất muốn đề nghị V.V.Xôcôlốp hãy suy nghĩ một cách chuẩn xác hơn về việc xác định khái niệm triết học là gì. Ý kiến nhận xét thứ hai của tôi có liên quan đến chính kết cấu của cuốn sách. Tác giả đã cho thấy bản thân ông cũng không chỉ muốn trình bày một cách giản đơn lịch sử bản thân của các nhà triết học, mà là lịch sử các vấn đề. Về điều này, ở một mức độ nhất định, đã được tác giả trình bày ở phần thứ nhất của cuốn sách, khi chủ yếu đề cập đến các nhà triết học tự nhiên thời Cổ đại. Tôi đánh giá cao việc làm này, nhưng khiếm khuyết của tác giả là ở chỗ đã quên mất một chân lý giản đơn rằng, điều đó đối với sinh viên chắc gì đã hợp. Bởi lẽ, chỉ khi nào sinh viên nắm được học thuyết của Empêđôcơlơ, Anaxago và các nhà triết học tự nhiên khác thì khi đó, họ mới biết các nhà triết học này đã nhận thức vấn đề này hay vấn đề khác như thế nào. Do vậy mà trong cuốn sách “Triết học thời kỳ tiền cách mạng tư sản”, chúng tôi đã trình bày theo các vấn đề, nhưng đó là sự trình bày dưới hình thức nghiên cứu, chứ không phải là sách giáo khoa. Còn ở đây, tác giả lại trình bày dưới dạng một giáo trình và không phù hợp với trình độ sinh viên. Do vậy, cần phải có một cách trình bày khác. Phải chăng, trước hết nên viết về các nhà triết học tiêu biểu và sau đó, tổng kết, khái quát hoá quan điểm của các nhà triết học này theo những vấn đề cơ bản. Làm như thế, liệu có trái với nguyên tắc mà ngay từ đầu, tác giả đã tự tuyên bố. Phần tiếp theo của cuốn sách này là các chương viết về Platôn, về Arixtốt, rồi sau đó là các chương viết về các nhà triết học nổi tiếng khác. Trong các chương này, theo tôi, thiếu sót của tác giả là ở chỗ, giữa các chương không có một sự cân đối nhất định. Từ thiếu sót này của tác giả, tôi muốn nói rằng, trong một cuốn giáo trình không nhất thiết phải trình bày học thuyết của một nhà triết học nào đó nhiều hơn học thuyết của nhà triết học khác. Đương nhiên, chúng ta có thể trách cứ Hêghen, vì trong ba tập “Bài giảng về lịch sử triết học”, ông đã dành đến hai tập cho triết học cổ đại. Nhưng, đó là việc của Hêghen, còn việc của chúng ta là viết sách giáo khoa cho sinh viên nước ta. Khi viết về Platôn, tác giả đã dành cho nhà triết học này 35 trang, còn về Arixtốt là 49 trang. Tôi không phản đối việc này. Nhưng, việc tác giả dành cho Đêcáctơ, Xpinôda, Manbranxơ, Lépnít, Hốpxơ, Lốccơ, mà cả thảy cộng lại chỉ có 20 trang thì quả là không thể chấp nhận được. Khi xem phần viết về các nhà triết học lớn của thế kỷ XVII, có thể nói, tác giả đã dành cho các nhà triết học này một sự quan tâm quá ít. Tôi cho rằng, dường như tác giả đã dành trọn thiện cảm của mình cho Platôn, Arixtốt. Nhưng, chỉ riêng Platôn mà viết đến 39 trang, còn về Đêcáctơ, Xpinôda, Manbranxơ, Lépnít, Hốpxơ, Lốccơ lại chỉ có 20 trang thì sinh viên nào có thể nắm được lịch sử triết học.

Việc tác giả khẳng định triết học cổ đại có cội nguồn tiền triết học là đúng đắn. Song, điều làm tôi không hài lòng là tác giả đã không đả động gì đến các công trình về lịch sử triết học của Tranưsép. Tôi nói như vậy không biết có sai không?

V.V.Xôcôlốp: Trong danh mục các tài liệu tham khảo, đương nhiên là có.

T.I.Ôiderơman: Mặc dù Tranưsép đã dành phần lớn công sức cho việc nghiên cứu về cái gọi là triết học sơ khai, nhưng tôi vẫn khẳng định một cách chắc chắn rằng, công trình của nhà triết học này hoàn chỉnh hơn và có nội dung phong phú hơn tác phẩm của Nétxlơ mà ông đã nhắc tới. Đó là cuốn “Từ thần thoại đến logos”.

Ý kiến nhận xét tiếp theo của tôi có liên quan đến vấn đề là, tại sao cuốn giáo trình này lại kết thúc ở triết học Cantơ. Đến Cantơ thì chấm hết, mặc dù trong cuốn giáo trình này đã có sự luận giải nhất định về khuynh hướng của “Triết học cổ điển Đức”. Dừng lại ở Cantơ có nghĩa là nói với sinh viên: “Còn nữa!”. Nhưng, tôi không hiểu, có hay không sự “còn nữa” đó. Trong cuốn giáo trình này không hề thấy tác giả nói tới điều đó. Do vậy, ở đây nảy sinh sự hình dung về cách tiếp cận chủ quan của tác giả.

Sự trình bày về triết học Cantơ nhìn chung là đúng. Nhưng, ở đây chủ yếu vẫn là mô tả, trong khi sự trình bày này cần phải mang tính phê phán. Ưu điểm của sự trình bày đó, đương nhiên là có. Cụ thể là, V.V.Xôcôlốp đã luôn viện dẫn chuyên khảo của V.V.Vaxiliép về Cantơ. Tôi xin nói ngay rằng, đây là một cuốn chuyên khảo hay nhất trong số các chuyên khảo ở nước ta viết về triết học Cantơ; thậm chí, nó còn tốt hơn cả công trình của V.Ph.Axmút. Nói như vậy, nhưng Axmút không có lỗi gì trong chuyện này, bởi giản đơn là ông đã viết ở một thời điểm khác. Tuy nhiên, về điểm này, V.V.Xôcôlốp còn mắc một vấn đề mà tôi coi đó là sai lầm đến khó hiểu. Ông đã trích câu nói của Cantơ: “Ich mubte das Wissen aufheben um zu den Glauben Platz zu bekommen” mà theo cách dịch của chúng ta, từ “aufheben” là “hạn chế”. Sai lầm của V.V.Xôcôlốp quả là trầm trọng, khi ông khẳng định rằng, trong tiếng Đức thì “aufheben” cũng là từ dùng để chỉ sự “hạn chế”. Thế nhưng, trong tiếng Đức, từ “aufheben” lại không mang nghĩa như vậy, mà nó có nghĩa là “nâng lên”, “phấn khích”, và thường được sử dụng chủ yếu với nghĩa là “loại bỏ”. Tôi muốn nói thêm rằng, trong bản dịch ra tiếng Pháp, người ta dùng từ “abolir”, còn trong tiếng Anh là “abolish” và chúng đều có nghĩa là “loại bỏ”. Tôi cho đây là cách dịch đúng và trong các nguồn tư liệu của Đức cũng thể hiện điều đó. Vấn đề là ở chỗ, trước câu này, trong cuốn sách của mình, V.V.Xôcôlốp đã cho rằng, Cantơ muốn nói đến sự huỷ bỏ không phải tri thức, mà là sự loại bỏ tri thức ảo, tức là loại bỏ siêu hình học cũ. Ở đây, dường như Cantơ đã có một sự cẩu thả nào đó trong việc diễn đạt tư tưởng của mình, và nhiều tác giả cũng đã nhận thấy rằng, Cantơ đã mắc không ít sai sót trong việc này. Chẳng hạn, Cantơ gọi khách thể siêu nghiệm là cái tiên nghiệm. Và, ở đây, đúng ra phải dịch là: “Tôi phải loại bỏ tri thức ảo để dành chỗ cho niềm tin”. Nếu câu này mà dịch từ “aufheben” là “hạn chế” thì hoàn toàn không hiểu hạn chế cái gì? Hạn chế tri thức ảo ư? Điều rõ ràng là trong văn cảnh đang được đề cập đến thì siêu hình học cũ là cái mà Cantơ phủ định. Tôi còn có thể đưa ra không chỉ trích dẫn đó, mà cả những mệnh đề khác của Cantơ cũng có liên quan đến lĩnh vực này. Ở đây, ý tôi muốn nói đến bài báo của mình trong tập kỷ yếu về Cantơ được xuất bản vào năm 2005. Như vậy, về từ “aufheben”, chúng ta cần phải xem lại và hơn nữa, càng cần phải xem lại nhà nghiên cứu Gulưga và một số người khác, trong đó có cả Mamarơđasvili. V.V.Xôcôlốp đã giải thích “aufheben” là “nâng lên”. Chúng ta phải hiểu thế nào về từ này trong văn cảnh nói trên nhỉ? “Nâng lên” có nghĩa là nâng tri thức lên để đặt nó vào niềm tin. Điều đó thật là vụng về. Có lẽ, Gulưga đã viết lách không đến nỗi nào, nhưng sự hiểu biết của ông về triết học thì quả là thiếu sâu sắc.

Nhân thể, tôi cũng xin nói luôn về triết học xã hội của Cantơ, tức là về cái mà Cantơ đã đặt ở vị trí cao hơn so với các nhà kinh điển của triết học Đức. V.V.Xôcôlốp dành cho triết học xã hội của Cantơ chỉ vẻn vẹn có 4 trang, trong khi ông viết về Cantơ trong cuốn sách này có ít trang đâu! Tại sao tôi lại nhấn mạnh điều này? Bởi lẽ, chính Cantơ là người đầu tiên trong triết học Đức đã đưa ra nguyên lý xây dựng học thuyết về nền cộng hoà mà ông hiểu như là sự phân chia quyền lực. Đó mới là thực chất của học thuyết về nền cộng hoà. Và, ở đó, việc Cantơ nghi ngờ không biết có tồn tại nền quân chủ hay không - đó không phải là điều quan trọng. Chẳng phải đã từng có sự tồn tại các nền cộng hoà quý tộc ở Vơnidơ và Phlorenxơ mà hoàn toàn không có dân chủ đấy thôi! Điều quan trọng là sự phân chia quyền lực và chúng ta đều biết rằng, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ, Anh, Hà Lan ngày nay đều là những nước quân chủ, nhưng đồng thời lại là những nước dân chủ nhất hiện nay. Không thể so sánh nơi nào dân chủ hơn Pháp – nơi mà “liberté, égalité, fraternité” đã trở thành câu khẩu hiệu. Do vậy, khi nói đến các quan điểm xã hội của Cantơ cần phải nói cho đầy đủ. Còn một điều đáng lưu ý là, trong cuốn sách này, khi đề cập đến khái niệm “vật tự nó” của Cantơ, V.V.Xôcôlốp chưa có sự trình bày một cách thật đầy đủ. V.V.Xôcôlốp đã nói đến “vật tự nó” với tư cách không chỉ là cái tác động đến cảm giác của chúng ta, mà đến cả lý tính thuần tuý và ý chí thuần tuý nữa, nhưng ông chỉ nhắc đến điều này một cách qua loa. Thêm nữa, còn có sự khác nhau căn bản giữa “vật tự nó” và “vật tự nó” không được nhận thức. Đối với Cantơ, sự tồn tại của “vật tự nó” là quá quen thuộc, còn các “vật tự nó” không được nhận biết thì Cantơ lại cho đó là ý niệm của lý tính mà sự tồn tại của chúng là có vấn đề. Do vậy, có thể nói, sự phân tích của V.V.Xôcôlốp về khái niệm “vật tự nó” mà Cantơ đã đưa ra còn mang tính phiến diện. Nên nhớ rằng, “vật tự nó” là khái niệm trung tâm của triết học Cantơ. Tôi hy vọng rằng, vào lần xuất bản sau, cuốn giáo trình này sẽ trình bày vấn đề đó một cách rõ hơn. Trong cuốn giáo trình này cũng đã đề cập đến khuynh hướng duy vật của Cantơ, khi nói về lập trường nhị nguyên luận của ông… Tôi chưa thấy một nhà duy vật nào tiến hành cuộc chiến trực diện chống lại chủ nghĩa duy tâm cả. Duy nhất, tôi chỉ thấy có một cuộc luận chiến nổi tiếng giữa hai nhà triết học cùng thời – đó là Hốpxơ và Đêcáctơ. Hốpxơ đưa ra các câu hỏi, còn Đêcáctơ thì trả lời các câu hỏi đó. Cuộc tranh luận khá sôi nổi, nhưng với một thái độ tế nhị và đúng mực. Có thể coi đây là ví dụ duy nhất về “cuộc chiến” giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Nếu các ngài đọc “Từ điển về Cantơ” (Nhà xuất bản Eissler), hoặc “Từ điển về Hêghen” (Nhà xuất bản Glokner), thì sẽ thấy, ở đó, Cantơ và Hêghen chỉ vài lần nhắc đến chủ nghĩa duy vật có tính phê phán. Đương nhiên, đó không phải là “cuộc chiến”; thậm chí cũng không phải là sự phê phán, mà chỉ giản đơn là tỏ thái độ phủ định. Cả Cantơ lẫn Hêghen đều cho rằng, chủ nghĩa duy vật không phải là triết học thực thụ. Các nhà duy vật cũng vậy. Họ không hề tiến hành một “cuộc chiến” nào nhằm chống chủ nghĩa duy tâm, bởi theo họ, chủ nghĩa duy tâm không phải là triết học thực thụ. Hônbách chống lại tôn giáo và chủ nghĩa giáo quyền, còn đối với chủ nghĩa duy tâm thì Hônbách không tỏ một thái độ nào cả. Hônbách chỉ một lần đề cập đến Béccơli mà thôi. Những lý giải này có thể được xem là quan trọng để khắc phục chủ nghĩa giáo điều mà cụ thể là, để hiểu đúng mối quan hệ mang tính kế thừa giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật. Tôi xin nhắc lại, vào những năm 60, Treloian là người đầu tiên đã nói đến điều này. Quan điểm của Treloian đã từng gây ngạc nhiên, bởi vào thời đó, nói về tính kế thừa giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thường bị coi là sự xúc phạm, đặc biệt là sau cuộc thảo luận triết học diễn ra vào năm 1947. Bây giờ thì tôi có thể đưa ra kết luận được rồi. Theo tôi, V.V.Xôcôlốp đã viết cuốn sách một cách rất xuất sắc và nó có thể hoàn thiện để cho lần tái bản thứ hai bằng việc trình bày triết học cổ điển Đức một cách đầy đủ hơn và đương nhiên, phải trình bày một cách cân đối học thuyết của các nhà triết học, nghĩa là không được phép quên Đêcáctơ, Xpinôda, và cả Manbranxơ, và đừng viết về họ có vài ba trang. Khi đó, cuốn giáo trình này mới thực sự có thể coi là một cuốn sách kinh điển, còn hiện tại thì nó chưa xứng đáng với tên gọi đó.

V.V.Xôcôlốp: Chúng ta đã có đến vài trăm loại “Giáo trình kinh điển” như vậy do Đại học Tổng hợp Mátxcơva xuất bản. Tôi cho rằng, cần phải loại bỏ tất cả những loại sách giáo khoa này ra khỏi triết học. Đó là cách tối ưu cho sự hiện diện của một loại “giáo trình” mới trong triết học.

A.Ph.Dôtốp: Việc xuất bản cuốn sách của V.V.Xôcôlốp, rõ ràng là một sự kiện to lớn trong đời sống của giới triết học chúng ta. Thật vậy, thoạt đầu tôi không thích tiêu đề của nó là “Nhập môn Lịch sử triết học”, bởi đơn giản là cuốn sách mang tiêu đề như vậy dường như đã thể hiện một sự kiêu căng nào đó. Chính vì vậy, đây là lần đầu tiên trong nhiều cuốn sách “Nhập môn triết học” xuất hiện với tiêu đề như vậy đã trở thành một sự kiện lịch sử. Thế nhưng, trong sự khôi hài này, dường như lại hàm chứa không ít sự thật, bởi toàn bộ nội dung của cuốn sách này đã cho thấy những vấn đề quan trọng nhất của lịch sử triết học như một phương thức tồn tại đặc thù, vốn có của hiện tượng văn hoá. Vào thời điểm cách đây không lâu (nhưng đối với thế hệ các nhà triết học trẻ và cả với sinh viên của chúng ta hiện nay, thì có thể xem đó là thời tiền sử) đã xuất hiện một cuốn sách rất thú vị, có liên quan đến vật lý học – đó là cuốn sách có tiêu đề “Đời sống khoa học”. Nội dung của cuốn sách này là những lời dẫn luận của một loạt nhà khoa học thuộc các thời kỳ lịch sử khác nhau về những công trình mà họ cho đó là những thành tựu căn bản của mình. Những nhà bác học vinh dự được đưa vào cuốn sách này đều là những nhà bác học nổi tiếng, bởi thành tựu và tên tuổi của họ đã được các thế hệ sau ghi nhận, đặt cơ sở cho vật lý học (và không chỉ có vật lý học) trong suốt tiến trình lịch sử của ngành khoa học này. Còn những người biên soạn cuốn sách đó (trước hết là S.P.Kapitsơ - người khởi xướng làm việc này) đã đưa vào đây tất cả những dẫn luận của mình, bởi theo họ, trong những dẫn luận đó, các nhà nghiên cứu tự nhiên nổi tiếng đã thể hiện quan niệm của mình về đối tượng mà họ nghiên cứu và làm rõ tại sao nó lại quan trọng và thú vị đến thế, tại sao họ đã dành cả cuộc đời của mình cho công trình đó. Hiện nay, các dẫn luận đó vẫn còn nguyên giá trị, bởi ở đó, trước hết và trên thực tế đã cho thấy Đời sống khoa học. Nói đúng hơn, nó đã cho thấy quá trình hình thành và hoàn thiện của khoa học mà chúng ta gọi là sự tiến bộ. Ngày nay, một số nhà vật lý học đã đưa ra một quan niệm khá phổ biến rằng, vật lý học (cụ thể là vật lý học hiện đại) không có lịch sử. Hoặc, chính xác hơn, khoa học này không có lịch sử, còn nói một cách thận trọng – hoàn toàn không có ý nghĩa gì đối với các nhà vật lý học hiện đại: vật lý học hiện đại là một “khoa học không có tổ tiên”. Do vậy, theo họ, không nên mất thời gian cho việc nghiên cứu lịch sử khoa học trong các trường đại học. Theo tôi, cho đến nay, cuốn sách này vẫn là một trong những phản bác hay nhất đối với ý kiến của những người có quan niệm như vậy về vật lý học hiện đại.

Có lẽ, trong các nhà triết học, thái độ như vậy về đối tượng nghiên cứu của mình đã được thể hiện một cách rõ ràng, chứ không phải như thái độ hời hợt của R.Feinman đối với vật lý học. Vả lại, không ít nhà triết học nước ta cũng có những ý kiến tương tự như vậy, khi họ đưa ra những quan niệm nông cạn trong các cuộc hội thảo khoa học về đối tượng của triết học. Trong số những người phản đối một cách dứt khoát nhất ý kiến đó luôn có sự hiện diện của V.V.Xôcôlốp với định nghĩa nổi tiếng: “Triết học, xét về thực chất của nó, chính là lịch sử triết học”. Theo tôi, ý nghĩa khẳng định đó của V.V.Xôcôlốp đã bị thay đổi cùng với thời gian; hơn nữa, có thể nói, đã bị thay đổi một cách căn bản. Nếu như lúc đầu, V.V.Xôcôlốp thường xuyên nhắc lại luận điểm của một trong những nhà triết học - thông thái cổ đại rằng, triết học, trong mọi trường hợp, là một trong những khoa học tuyệt vời, còn trong khi thuyết giảng, thì ông thường “gây áp lực”, mà trước hết là bắt sinh viên phải nắm vững tư liệu (hơn thế nữa, đó lại là tư liệu gốc) để từ đó, đưa ra kết luận rằng, khái niệm tiến bộ được áp dụng cho triết học mang tính hoài nghi không kém gì so với nghệ thuật (và, do đó, đề tài về các chức năng xã hội và văn hoá của triết học không liên quan gì đến bản chất của tri thức triết học), thì trong cuốn sách vừa xuất bản này, chúng ta dễ nhận thấy một cái gì đó hoàn toàn khác, thậm chí cả tên gọi của nó nữa. Thật vậy, ở đây, tên đề tài, từ đầu chí cuối, từ thuở hưng thịnh đến chỗ suy thoái của triết học, không hề trùng lặp và ngay cả những vấn đề về mối quan hệ giữa triết học và các hình thái khác của văn hoá, trước hết là khoa học theo nghĩa “chuẩn xác” của từ này, mặc dù không được bàn tới một cách rõ ràng, nhưng bằng những cách diễn đạt nhất định, theo tôi, đã tạo dựng được một hình ảnh nhất định về lịch sử triết học như một phương thức tồn tại của nó, như đời sống của nó và vì thế, tên gọi của cuốn sách đã minh chứng cho điều này. Tiêu đề của cuốn sách này, tôi xin nhắc lại, đã cho thấy, lịch sử triết học là cuộc đời triết học.

V.V.Xôcôlốp: Cuộc đời triết học hay cuộc sống trong triết học?

A.Ph.Dôtốp: Cuộc đời triết học. Điều đó có nghĩa là, lịch sử triết học, theo tôi hiểu, là ý nghĩa căn bản, là chức năng văn hoá và là công dụng của triết học. Sau khi đọc cuốn sách của V.V.Xôcôlốp, thấy được cái căn bản trong triết học, tôi mới có được ý kiến xác đáng như  vậy. Không có văn cảnh lịch sử sẽ không có luận văn triết học nào có thể đem lại cho chúng ta một cái căn bản nào đó. Nếu vấn đề nghiên cứu (và cả vấn đề giảng dạy lịch sử triết học) được đặt ra theo cách này, thì những câu hỏi sau đây sẽ lập tức được giải đáp: phải chăng tất cả các nhà triết học đều được nhắc đến (dù chỉ được nhắc đến thôi) trong các chương trình giảng dạy, trong các từ điển bách khoa và trong những công trình có tính khái quát, mang ý nghĩa nền tảng của các nhà sử liệu học triết học nước ta; phải chăng, tất cả các nhà triết học đều được nhà sử liệu học đánh giá công lao để sau đó, dành cho họ người thì cả chương, người thì một số trang, người thì mấy dòng và có người thì chỉ được nhắc tới trong vài dòng chú thích, v.v.. Có thể nói, dù đã cố gắng để đạt tới tính khách quan ở mức độ tối đa, song các nhà chú giải và hiệu đính các loại từ điển và bách khoa thư triết học mới được xuất bản ở nước ta cũng mới chỉ bước đầu nhận thấy chúng có sự khác biệt nào đó với các loại sách tra cứu dưới dạng “sách ghi chép tiểu sử” mà ở đó, người ta ghi lại tất cả những ai có tiểu sử rõ ràng hoặc đã từng được nhắc tới trong các tài liệu chuyên môn với tư cách một nhà triết học. Loại công trình này, theo tôi, là hoàn toàn có ích và hiện nay, nó có thể được coi như một cỗ máy có chức năng cung cấp thông tin, nếu đưa ra được những tiêu chí nào đó đủ để xác định những người xứng đáng được ghi tên vào hàng các nhà triết học. Nếu các nhà sử liệu học triết học giải quyết được nhiệm vụ này thì có lẽ, lịch sử triết học với tư cách một lĩnh vực khoa học mới bị xoá sổ trong xã hội thông tin phát triển cao và khi đó, tổ bộ môn lịch sử triết học sẽ trở thành trung tâm thông tin dành cho những người gàn dở và những người theo khuynh hướng hoài cổ mà những tư liệu hiện có chỉ “giản đơn là thú vị” mà thôi. Và, mọi cái khi đó sẽ trở nên đơn điệu. Nhưng ở đâu trong thế giới thông tin này còn chỗ cho đời sống sinh động của tư tưởng triết học, ở đâu mà công việc chủ yếu là tìm kiếm chân lý và ở đâu còn phát minh ra cái mới, phát hiện ra sai lầm. Khi đó đề tài về ý nghĩa của triết học với công dụng lịch sử, xã hội của nó trong thế giới này chắc chắn sẽ bị loại bỏ như một “vấn đề nguỵ tạo”.

Chẳng hạn, chính E.Makhơ đã từng không thừa nhận mình là nhà triết học; ông ta đã luôn nhắc đi nhắc lại là: “Không có triết học Makhơ!”. Thế nhưng, trên thực tế, trong mọi cuốn giáo trình về lịch sử triết học đều trình bày chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, tức là triết học Makhơ và người ta thường dành cho triết học này nếu không được cả chương thì cũng có đến vài trang. Nói cách khác, các nhà sử liệu học triết học đều đề cập đến triết học Makhơ. Cũng tương tự như vậy là trường hợp đối với triết học Nítsơ. Thận trọng hơn Makhơ, chính Nítsơ đã viết: “Tôi không biết mình có phải là nhà triết học hay không”. Vả lại, phần lớn những người chống lại ông thời đó, chứ chưa nói đến những người kế tục ông, đều không tỏ ra nghi ngờ gì về điều này, một số người cho ông là nhà triết học, số khác lại bảo là không. Nhiều người cùng thời với Makhơ khi nhận mình là nhà triết học đã tiến hành luận chiến với ông hoặc với chủ nghĩa thực chứng nói chung. Trong cuộc luận chiến này, họ thường bắt đầu sự lập luận của mình từ cái hoàn toàn không phải là triết học, mà là sử dụng triết học, v.v.. Có thể coi những cuộc luận chiến này là những sự kiện của đời sống triết học! Các sự kiện của lịch sử triết học cũng như những sự kiện của bất kỳ khoa học nào đều mang tính văn cảnh, tức là viện dẫn các sự kiện khác và vạch ra ý nghĩa của nó trong sự viện dẫn đó và do vậy, chúng đã làm sáng tỏ phương diện thứ hai – tiến trình lịch sử khách quan của triết học. Điều này có lẽ còn quan trọng hơn cả việc định hình một cách chính xác những dữ liệu trong “tài liệu kinh nghiệm” của các tư liệu lịch sử mà ở đó, ý nghĩa của tiến trình lịch sử triết học được phản ánh.

Như vậy, trên thực tế, V.V.Xôcôlốp đã là một nhà sử học, chứ không phải là nhà biên niên sử; ông là nhà tư tưởng, chứ không phải là người làm công tác lưu trữ trí tuệ cổ. Đ.K.Mắcxoen – một trong những nhà vật lý học vĩ đại đã từng nêu câu hỏi: “Ai là người dẫn dắt tôi vào đám mây mù mà ở đó, tư duy kết hợp với sự kiện?”. Trong vấn đề này – vấn đề về sự gắn kết lý thuyết với kinh nghiệm, Đ.K.Mắcxoen đã nhận thấy một trong những nhiệm vụ khó khăn và căn bản nhất của nhà khoa học và chính ông cũng đã đạt được không ít thành tựu trong lĩnh vực đó. Đáng tiếc là, không ít nhà sử liệu học triết học có bằng cấp lại coi đó là vấn đề căn bản của lịch sử triết học (không có nó thì hoàn toàn không có khoa học và hơn nữa, không có cả bảo tàng về thời cổ đại). Đương nhiên, về mặt này, V.V.Xôcôlốp không đơn độc (cũng như chính Đ.K.Mắcxoen chưa từng bị đơn độc bao giờ). Tấm gương sáng của những người đã từng suy tư về lịch sử triết học vẫn còn đó đối với chúng ta. Chẳng hạn, V.Ph.Axmút – hiện nay, người ta đang chuẩn bị cho tái bản lần thứ hai cuốn sách của ông về thân thế và sự nghiệp của Đêcáctơ - cuốn “Đêcáctơ”. Chính vì thế mà V.V.Xôcôlốp đã hợp nhất hai nguyên lý nền tảng mà thiếu chúng thì lịch sử triết học không thể trở thành một khoa học. Đọc các công trình của ông, đặc biệt là cuốn sách vừa mới xuất bản, chúng ta sẽ nhận thấy đời sống tư tưởng triết học, trên thực tế, chính là lịch sử triết học. Loại lịch sử này không phải là sự tập hợp các công trình bất hủ. Ở đây, tôi không chỉ đồng tình với V.V.Xôcôlốp, mà còn với cả một số người đi trước, chẳng hạn như Nítsơ và Haiđơgơ. Khi viện dẫn Nítsơ, Haiđơgơ đã nói rằng, đương nhiên, có một loại lịch sử có thể được coi là lịch sử tượng đài. Như vậy, ngay cả lịch sử “tượng đài” cũng là lịch sử, bởi mỗi “pho tượng” của nó đã được sự hiểu biết của con người chuyển thành sự kiện và gắn kết những sự kiện như vậy vào một lớp mô sống động, vào tổng hoà các mối liên hệ để tạo nên những mô thức văn hoá, những bức tranh lịch sử của thời đại. Đương nhiên, bản thân các tượng đài ấy chưa phải là đời sống khoa học, đời sống triết học và văn hoá; song những điểm mốc này chính là cơ sở cho tất cả những ai có ý định “sống chết” với triết học dựa vào đó để không chỉ khôi phục quá khứ, mà còn khai thác nó, làm cho nó trở thành một quá khứ đặc biệt, tức là trở thành một phần của hiện tại, và hơn nữa, còn có thể coi nó như là điều kiện cho triển vọng tương lai. Theo đó, có thể coi cuốn sách của V.V.Xôcôlốp là công trình của lý trí lịch sử, bởi ở đó, ông đã chỉ rõ cần phải làm cách nào để hợp nhất các văn bản đã có và hơn nữa, đó lại là các văn bản đang ở tình trạng “đứng im” (nói theo nguyên nghĩa của từ này), dưới một hình thức sinh động. Trong công trình này, V.V.Xôcôlốp không chỉ nói về “các nhà tư tưởng” và những tác phẩm của họ, mà ông còn phân loại các nhà tư tưởng này, song đáng tiếc là sự phân loại đó thường không rõ và vì thế, ông đã không trình bày được khát vọng cá nhân và “sở thích” của họ. Quan điểm mà V.V.Xôcôlốp đã đưa ra là: “cái chủ quan” thường thể hiện cái khách quan. Với quan điểm này, ông không chỉ tạo cơ hội cho các cuộc tranh luận mà hơn thế nữa, ông còn tạo ra điểm trống cho việc thảo luận. Có thể chúng ta không tán thành với quan điểm này của ông, song cuộc tranh luận về vấn đề này cần phải có nội dung, bởi quan điểm của ông, như chúng ta đã thấy, được luận chứng một cách rõ ràng. Bởi vậy, những ai không tán thành với V.V.Xôcôlốp, có lẽ cần phải đối chiếu quan điểm của ông với một số quan điểm khác, với cách tiếp cận khác, với cách nhìn nhận khác. Đương nhiên công trình này của V.V.Xôcôlốp chỉ là tập hợp các tư liệu đã có thành giáo trình và hướng dẫn cho sinh viên sử dụng nó như “nguồn tư liệu thứ cấp”. Nó không thuộc loại tài liệu được ghi trong danh mục “các tài liệu tham khảo bắt buộc”. Nhưng, vấn đề không chỉ giản đơn như vậy, khi chúng ta cần phải xác định chỗ nào là trọng tâm, chỗ nào là “nguồn tư liệu thứ cấp” trong chương trình giảng dạy về lịch sử triết học. Nếu chúng ta coi đây là một “nguồn tư liệu thứ cấp” thì cần phải coi nó là một cuốn giáo trình, hoặc ít nhất cũng tương đương với một cuốn giáo trình mà V.V.Xôcôlốp là tác giả. Thêm nữa, điều đặc biệt quan trọng là, việc giải quyết vấn đề này để đưa nó vào chương trình giảng dạy bộ môn lịch sử triết học lại vượt ra ngoài giới hạn của khoa triết học.

Chính V.V.Xôcôlốp đã nhiều lần nói rằng, lịch sử triết học (cũng như triết học) không nên nghiên cứu theo sách giáo khoa. Vâng, đương nhiên là vậy, đặc biệt là, nếu xem sách giáo khoa như bản tóm tắt các bài giảng và hơn thế nữa, như cuốn sách tra cứu đa năng. Song, nếu bắt đầu làm quen với triết học thì điều đó là có thể và cần thiết! Còn trong trường hợp ngược lại thì không có nơi nào giảng dạy môn lịch sử triết học tốt hơn ở khoa triết và hơn thế nữa, là tổ bộ môn lịch sử triết học. Chính vì vậy, ở phần lớn các trường đại học mà hiện nay có tên gọi là trường “kỹ thuật”, chúng ta cũng không nên giảng lịch sử triết học làm gì. Nhưng, theo tôi, sự hiện diện của lịch sử triết học mà bản mẫu của nó là do V.V.Xôcôlốp thiết kế, kể cả sự hiện diện của triết học được hiểu theo nghĩa của thuật ngữ này, dẫu sao cũng phải dành cho nó một chỗ, bằng cách này hay cách khác, không thể bỏ qua việc đó.

Tôi cũng thông cảm với V.V.Xôcôlốp ở chỗ, ông đã gặp khó khăn trong việc lược bỏ từ bản thảo cuốn sách của mình vô số những dẫn chứng không chỉ giản đơn là rất hay và thú vị, thậm chí còn rất quan trọng mà ông biết, trong lúc phần lớn các đồng nghiệp - chuyên gia khác chưa hề biết. Đó cũng là điều dễ hiểu và dường như, Ortega cũng đã nói rằng, người ta có thể trở thành nhà triết học thực thụ, nếu sống được hai nghìn năm trăm năm. Nghệ thuật, - nói đúng hơn, thiên tài - đó là người viết lịch sử triết học, khi đã tìm được cách thức “nén” thời gian lịch sử và nhờ đó, làm được cái việc tưởng chừng không thể làm được. Để làm được điều này, người viết lịch sử triết học phải có phương pháp khoa học nhằm tiến hành sự lựa chọn một cách có ý thức (hoặc dưới dạng tiềm thức được “thăng hoa” của nhà khoa học) những tư liệu cần thiết nhất mà nhờ đó, các thời đại trong đời sống triết học, kể cả những bước ngoặt, ngay lập tức được liên kết lại hoặc tách bạch. Ngay từ đầu, V.V.Xôcôlốp đã nói ông cố gắng giới thiệu lịch sử triết học không chỉ theo những vấn đề, mà còn theo cả lịch đại (mặc dù, theo tôi, đó là hai mặt của tấm huân chương, điều đó đã được nội dung của cuốn sách này chỉ ra). Cách tiếp cận của V.V.Xôcôlốp đối với nguồn tư liệu lịch sử không mang tính biên niên. Ông chỉ lựa chọn những yếu tố nhất định nào đó của thời đại, khi mà “cái khởi đầu” và “cái bên ngoài” làm cho đời sống triết học vận động một cách tương đối ổn định và sau đó, bắt đầu nói đến những điểm khác biệt mà ở đó, đã xuất hiện sự thâm nhập lẫn nhau không phải giữa các nhà triết học, mà giữa các giai đoạn phát triển khác nhau của bản thân văn hoá. Theo nghĩa như vậy thì có lẽ, đó là cách thức tối ưu, nếu không muốn nói là duy nhất, để lịch sử triết học thể hiện đời sống tinh thần như là hiện thực “khách quan”; thậm chí, theo nghĩa xác định, có thể nói, như là hiện thực siêu nhân loại.

Theo tôi hiểu, khi đề cập đến nền văn hoá theo kiểu phương Tây, có thể nói rằng, nền văn hoá đó vốn đã có mật mã di truyền nào đó, hoặc một số tổ hợp mật mã nào đó theo các cấp độ khác nhau. Hơn nữa, chức năng mật mã mang tính cơ sở của nền văn hoá này lại do triết học thực hiện.

Như vậy, có thể nói, tiến trình lịch sử hoàn toàn không phải là dòng chảy liên tục của thời gian; trong tiến trình này còn có “sự cô đọng” và cả những thời kỳ “chết yểu”, hoàn toàn trống rỗng, khi mà tư tưởng không đi tới đâu cả, còn cái đầu của người đang tư duy với tất cả những gì đã có khi tiếp cận với dư luận xã hội lại tỏ ra là một bộ phận hoàn toàn vô tác dụng. Theo tôi, đó là triệu chứng căn bản của căn bệnh nhu cầu xã hội ở xã hội “hậu công nghiệp” mà cư dân của nó rất giống với những người trong toà tháp Krưlốp – “Con lợn dưới gốc cây”, họ không hề nghĩ tới việc “phúc lợi nhu cầu” chính là sản phẩm của kỹ thuật, mà nền tảng của kỹ thuật lại là công nghệ, và để có công nghệ, lại phải có khoa học, mà để có khoa học, cần phải có ít nhất cũng là sự hỗ trợ để thói quen tư duy lý luận giữ được trạng thái bình thường, tức là cần phải hiểu thế nào là suy tư. Chính con đường dẫn đến nhận thức như vậy, trong mọi trường hợp, ở nền văn hoá châu Âu, đã được lịch sử triết học chỉ ra, và đó chính là lịch sử triết học mà V.V.Xôcôlốp đã trình bày trong cuốn sách “Nhập môn Lịch sử triết học”. Vì lẽ đó, tôi tin rằng, hiện nay, chúng ta cần phải giảng dạy lịch sử triết học cổ điển theo cuốn sách này. Liệu sinh viên có hiểu được không? Vâng, nhiều sinh viên còn không hiểu cả cái mà người ta giảng cho họ theo các kinh sách truyền thống. Nếu như chúng ta cứ chạy theo sự hiểu biết phổ biến về đối tượng mà mình giảng dạy như là mục đích cao nhất của hoạt động giảng dạy thì “ở đầu vào”, chúng ta sẽ chỉ nhận được sự tổn hại phổ biến của tư duy. Việc chỉ có một số (dù là không nhiều) sinh viên hiểu, thì điều đó vẫn cứ thực sự quan trọng hơn nhiều việc một số (dù là nhiều) sinh viên không hiểu. Có thể, số sinh viên hiểu được đó chỉ hiểu được cái mà nhiều người không hiểu và họ cũng không thể trở thành Xôcrát được, song ít nhất, họ cũng biết tôn trọng tư duy. Số này, ngay cả ở Khoa Triết học của Đại học Tổng hợp, cũng rất hiếm… Lịch sử triết học, xét trên phương diện khách quan của nó, đó là con đường của tư duy nhân loại. Và, lịch sử triết học với tư cách môn học cần phải trở thành tư duy học đường. Còn việc học lịch sử triết học thì như chúng ta đã thấy, bao giờ cũng khó.

Để kết luận, một lần nữa, tôi xin nhắc lại rằng, điểm căn bản trong cuốn sách của V.V.Xôcôlốp chính là ở tư tưởng của cuốn sách đó. Còn phần lớn các cuốn sách về lịch sử triết học đã được xuất bản ở nước ta hoặc là không có tư tưởng, hoặc là tư tưởng đó quá sâu xa, hoặc là bản thân tôi không có thiện cảm lắm đối với những cuốn sách đó.r

(Còn nữa)

Người dịch: PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT

Người hiệu đính: PGS.TS. ĐẶNG HỮU TOÀN

(Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)

    

 

Đã xem: 464
Thời gian đăng: Thứ tư - 18/11/2015 05:08
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất