QC Shop

Về các loại hình cơ bản của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại

Đinh Thanh Xuân(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (158), tháng 7 - 2004

Những quan niệm và tư tưởng biện chứng đã chiếm một vị trí, có thể nói, là đáng kể trong thế giới quan triết học của người Hy Lạp cổ đại. Về thực chất, xét trên nhiều phương diện, những quan niệm và tư tưởng biện chứng đó là một hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn mà từ đó, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại đã ra đời.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Tuy nhiên, nói tới phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại, cần phải hiểu nó theo hai nghĩa: thứ nhất, đó là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử nhận thức mang tính biện chứng về sự phát triển của hiện thực. Thứ hai, đó là phép biện chứng theo nghĩa cổ điển của từ này.

 “Chú ý trước nhất đến cái biện chứng trong lịch sử triết học”, Hêgen, như V.I. Lênin nhận xét, đã nhiều lần nói về phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, về vị trí, vai trò và ý nghĩa của nó với tư cách loại hình đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học, về các nhà triết học thuộc trường phái Êlê, Dênông, Hêraclít,... với tư cách là những người sáng lập phép biện chứng(1). Bản thân V.I. Lênin cũng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã không ít lần nói về phép biện chứng này. C.Mác đã viết về phép biện chứng này ngay trong luận án tiến sĩ của ông - Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya - và trong nhiều tác phẩm lớn sau này, khi ông nghiên cứu di sản của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, cũng như các tác phẩm của những nhà triết học viết về nền triết học này, chẳng hạn như tác phẩm viết về triết học Hêraclít của Látxan - Triết học của Hêraclít khó hiểu ở Êphedơ. Ph.Ăngghen cũng đã nói về phép biện chứng Hy Lạp cổ đại trong nhiều tác phẩm của ông. Khi xác định phép biện chứng là khoa học “về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”, Ph.Ăngghen đã nhận thấy nguồn gốc lịch sử của nó trong tư tưởng biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và  khẳng định rằng: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát,  bẩm sinh...”(2).

Dường như phần lớn các định nghĩa mang tính tổng quát về phép biện chứng đều đã được V.I.Lênin đưa ra khi nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại. Khi tóm tắt tác phẩm của Hêgen - Những bài giảng về lịch sử triết học, ông đã khảo lược và trình bày lại chính những đoạn mà ở đó, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại được Hêgen phân tích. Chẳng hạn, khi đánh giá phép biện chứng của Dênông, V.I. Lênin đã xác định: “Bản chất của phép biện chứng... được thể hiện trong công thức: thống nhất, đồng nhất của các mặt đối lập”(3). Còn khi xem xét quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại về “sự chuyển hóa” (sự phát triển), ông đã đem quan niệm của Hêraclít -  “sự biến hóa của cái này sang cái kia” đối lập với quan niệm siêu hình về “sự chuyển hóa” ấy(4).

Như vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, với nghĩa đầu tiên, phép biện chứng Hy Lạp cổ đại phải được coi là một giai đoạn xác định, và hơn nữa, là giai đoạn mang tính xuất phát điểm đối với triết học Tây Âu trong quá trình lý giải về sự phát triển lịch sử của môn khoa học về các quy luật phổ biến, về sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy con người.

Đương nhiên, bản thân giai đoạn đầu tiên đó cũng đã trải qua một quá trình tiến hóa nhất định. Thoạt đầu, các tư tưởng biện chứng chủ yếu được phát triển khi con người khảo cứu tự nhiên; sau đó, chúng mới được hình thành trong các học thuyết về xã hội và tư duy. Tuy vậy, các yếu tố biện chứng trong nhận thức và trong đời sống xã hội dưới dạng phôi thai của chúng đã có trong các loại hình ban đầu của tư duy biện chứng, như ở Hêraclít chẳng hạn.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ dùng để chỉ phép biện chứng luôn có trong nó sự kết hợp giữa thuật ngữ “phép biện chứng khách quan” mà sau này, Hêgen đã đưa ra và cũng đã được V.I.Lênin chấp nhận với thuật ngữ “phép biện chứng tự phát” do Ph.Ăngghen đưa ra. Theo đó, thuật ngữ “phép biện chứng khách quan tự phát” trong triết học Hy Lạp cổ đại có nghĩa rằng, khi phát triển các yếu tố của phép biện chứng trên thực tế, bản thân các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, về mặt chủ quan, đã không ý thức được nó, không gọi học thuyết đó là phép biện chứng, không tự giác xây dựng nó thành hệ thống.

Khi phản ánh tính chất biện chứng của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng khách quan tự phát đó của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thường tồn tại dưới hai loại hình cơ bản:

1) Phép biện chứng khẳng định - khẳng định và phân tích các quy luật biện chứng khác nhau trong lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy;

2) Phép biện chứng phủ định (mang tính chất tiêu cực) - phủ định tính chân lý của những cái mà trong đó, tính mâu thuẫn nội tại bộc lộ ra.

Vốn là thuộc tính bẩm sinh của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng khách quan tự phát xuất hiện ngay từ khi nền triết học này xuất hiện ở các nhà triết học tự nhiên thuộc trường phái Milê. Với tư cách phép biện chứng khẳng định, nó được thể hiện rõ nhất ở Hêraclít; còn với tư cách phép biện chứng phủ định, nó được thể hiện ở trường phái Êlê.

Mặc dù có thể phân biệt phép biện chứng Hy Lạp cổ đại theo hai nghĩa đó, nhưng thực ra, hai nghĩa này không tuyệt đối biệt lập, tách rời nhau. Ngay từ khi bắt đầu xuất hiện, chúng đã có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau. Hơn nữa, nghệ thuật tranh luận nhằm phát hiện và chứng minh chân lý ngày càng thể hiện ra là khả năng nhận thức đối tượng trong những tính quy định đối lập nhau và vốn có ở nó, khả năng quy những tính quy định đó về một cái thống nhất, khả năng phát hiện ra sự thống nhất của các mặt đối lập, tức là ngày càng trở thành phương pháp nhận thức biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy. Và, đương nhiên, kể từ thời Xôcrát, nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã phát triển phép biện chứng theo cả nghĩa này lẫn nghĩa kia.

Trước khi tìm hiểu một cách khái quát các loại hình, các dạng cơ bản của tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại, chúng tôi muốn lưu ý một nguyên tắc mà chúng tôi đã tuân theo trong bài viết này - nguyên tắc về sự lựa chọn tài liệu. Tài liệu cho bài viết này được xác định bởi sự thay đổi tiêu chí phân biệt phép biện chứng và phép siêu hình. Chẳng hạn, Đêmôcrít chủ trương truyền bá tư tưởng về sự xuất hiện, phát triển và diệt vong của vô số thế giới trong Vũ trụ bao la với tư cách một tổ hợp các quá trình liên kết. Ông cho rằng, sự biến đổi các quá trình liên kết đã được hình thành và sự phân hủy của chúng diễn ra cùng với những nguyên tử bất biến và chỉ khác nhau về phương diện hình học - hình thức, trật tự, tư thế. Trước khi xuất hiện quan niệm này của Đêmôcrít, trong triết học Hy Lạp cổ đại đã có một quan niệm biện chứng về thế giới, đối lập với quan niệm về tồn tại không thể phân chia được, bất biến và bất động của trường phái Êlê.

Có thể nói, mọi loại hình, mọi dạng cơ bản của tư tưởng biện chứng đều đã được phác họa rõ nét trong lịch sử phát triển của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại. Nó được bắt đầu từ những tư tưởng biện chứng tự phát, mang “tính nhân hình” trong các câu chuyện thần thoại và sau đó là trong những tư tưởng biện chứng rõ nét hơn, sâu sắc hơn trong các tác phẩm của các nhà triết học ở thời kỳ Hy Lạp hóa. Điều này chứng tỏ rằng, tư tưởng biện chứng cổ đại đã phân định được tất cả các loại hình của phép biện chứng mà sau đó, được phục hồi ở thời Phục hưng và đặc biệt, đã được phát triển một cách rõ nét ở thế kỷ XIX dựa trên một số thành tựu của phép biện chứng ở thế kỷ XVII- XVIII. Đó là những hình thức sau đây:

Thứ nhất, đó là phép biện chứng khách quan tự phát, phép biện chứng được hình thành trong quan niệm về Vũ trụ ở các nhà duy vật thuộc xứ Iôni và đạt đến sự phát triển đáng kể ở Anaxago, Đêmôcrít và đặc biệt là ở Hêraclít, ở những người mà, như V.I. Lênin nhận xét, “biểu tượng và tư tưởng, sự phát triển của cả hai, nil aliud (không có gì khác)” và “đối tượng thể hiện như là biện chứng”(5). Sau đó, nó được hình thành với sự bổ sung thêm các đặc trưng mới trong học thuyết của Arixtốt về sự chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật khi chuyển từ dạng tiềm năng thành hiện thực và ngược lại, trong quan niệm về Vũ trụ của trường phái Xtôíc, trong thế giới quan nguyên tử luận của Êpiquya. Đây được coi là loại hình biện chứng cơ bản, vì “theo nghĩa đen, phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫn trong ngay bản chất của các đối tượng”(6).

Thực ra, sau Arixtốt và Êpiquya, do một cuộc “tổng khủng hoảng” về tư tưởng bắt đầu diễn ra trong nền văn hóa cổ đại nói chung, trong triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng, cái được gọi là học thuyết về phép biện chứng khách quan đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu và khi đó, đã xuất hiện quá trình “phân đôi” độc đáo của chúng. Điều đó được thể hiện ở chỗ, bên cạnh việc loại trừ một cách riêng biệt các phỏng đoán và những luận điểm biện chứng khách quan đích thực, trong chủ nghĩa Platôn mới đã hình thành phép biện chứng khách quan giả tạo. Phép biện chứng này được thể hiện qua các nghịch lý và những mâu thuẫn nhận thức của Pirôn và Enêxiđem, thông qua những “sơ đồ luận” về Vũ trụ mang tính thần bí hóa của Plôtin và Prôclơ. Khuynh hướng “thoái bộ” này của phép biện chứng khách quan đã đưa tư tưởng biện chứng cổ đại tới tình trạng tự gạt bỏ, mặc dù sau này, chủ nghĩa Platôn mới đã khôi phục lại nó ở thời đại Phục hưng.

Các luận điểm riêng biệt của phép biện chứng đã được đặt lên hàng đầu một cách đủ xác định trong phép biện chứng khách quan tự phát của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và mối liên hệ nội tại giữa chúng cũng đã được chính các nhà triết học này vạch ra. Sự hiện diện của mối liên hệ này sở dĩ có được trong phép biện chứng cổ đại là nhờ trực giác (“sự quan sát trực tiếp”) - cái được coi là “thiếu sót của triết học Hy Lạp”, do “chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên”, do “hãy còn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy”, cái mà do vậy, “sau này, nó buộc phải nhường chỗ cho các cách nhìn khác”. Nhưng đó cũng chính là “ưu điểm của nó so với tất cả các địch thủ siêu hình sau này của nó”, là cái mà “về toàn thể”, đã làm cho triết học Hy Lạp cổ đại “đúng hơn so với chủ nghĩa siêu hình”(7). Chính vì vậy mà Ph.Ăngghen nhận xét rằng, tư tưởng của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại đã thừa nhận “tính thống nhất trong sự muôn vẻ vô tận của những hiện tượng thiên nhiên là một điều dĩ nhiên và tìm sự thống nhất ấy ở một vật hữu hình nào đó, ở một vật đặc biệt nào đó, như Talét, ở nước vậy”(8).

Sau khi phát triển phép biện chứng khách quan, các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã mô tả hiện thực trong sự biến đổi liên tục của nó. Và, một số nhà triết học trong số đó đã đề cập tới mối quan hệ biện chứng khá phức tạp và sâu sắc giữa quá trình phát triển theo hướng tiến lên và quá trình phát triển mang tính luân hồi trong Vũ trụ. “Những nhà triết học vận động”, - những môn đệ của Hêraclít, đã cố gắng phát triển luận điểm về sự thay thế phổ biến giữa các trạng thái của sự vật và về sự chuyển hóa lẫn nhau giữa tồn tại và không tồn tại. Hơn nữa, Hêraclít - người sáng lập ra khuynh hướng tư duy này, cũng như Đêmôcrít đã đề cập đến mối quan hệ biện chứng, đến sự thống nhất giữa tính biến đổi phổ biến và tính ổn định tương đối của các sự vật và trạng thái của chúng. Những kết luận mà các nhà triết học Hy lạp cổ đại rút ra được khi xem xét vấn đề này, như Ph.Ăngghen nhận xét, là “những kết quả khổng lồ của người Hy Lạp”(9).

Với việc phát hiện ra các mối liên hệ và quan hệ phổ biến trong Vũ trụ, phép biện chứng khách quan của người Hy Lạp cổ đại đã sớm đạt tới đỉnh cao của nó trong học thuyết của Hêraclít về sự đấu tranh phổ biến và sự thống nhất của các mặt đối lập, còn dưới một hình thức chất phác hơn- ở Empêđôclơ. Được các nhà triết học đó sử dụng, các khái niệm “đấu tranh” và “hài hòa”, “thù địch” và “tình bạn”, “chiến tranh” và “hòa bình” vẫn chưa tách khỏi cơ sở “nhân hình” và ngữ nghĩa thường nhật của chúng và do vậy, còn bao hàm nhiều cái chưa rõ ràng, thậm chí còn có phần bị lu mờ và không chính xác. Song, trong các khái niệm đó và trong mối liên hệ qua lại giữa chúng đã có hạt nhân của phép biện chứng theo nghĩa duy vật của nó. Cần phải nhấn mạnh rằng, Hêraclít đã cụ thể hóa sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập không những với tư cách cuộc đấu tranh giữa chúng, mà còn với tư cách sự phân đôi của cái thống nhất và sự chuyển hóa (“trao đổi”) thành cái đối lập. Đó là lý do tại sao V.I.Lênin lại có thể đánh giá là Hêraclít là người đã tiến dần tới các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khi ông nghiên cứu và làm bút ký về Các bài giảng về lịch sử triết học của Hêghen(10).

Phù hợp vói cơ sở vũ trụ luận của phép biện chứng khách quan này là biện chứng của quá trình nhận thức, cái mà có thể gọi một cách ước lệ là phép biện chứng chủ quan. Tuy nhiên, khi nói tới phép biện chứng chủ quan này, chúng ta cần phải phân biệt nó với biện chứng của các khái niệm đã được thực thể hóa. Biện chứng chủ quan hay biện chứng của quá trình nhận thức chủ yếu nằm trong những suy luận của Hêraclít về sự tương tác giữa cảm giác và tư duy, trong các phỏng đoán được coi là sáng suốt của Đêmôcrít về tính chế định lẫn nhau giữa nhận thức “mờ tối” (nhận thức theo dư luận) và nhận thức “trong sáng” (nhận thức chân lý), cũng như trong những lời tiên tri của Anaxago về khả năng nhận thức thông qua các mặt đối lập. Đây cũng được coi là một đóng góp lớn của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại.

Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, dường như đồng thời với phép biện chứng khách quan (tích cực), loại hình thứ hai của tư tưởng biện chứng cổ đại - phép biện chứng phủ định (tiêu cực) cũng đã xuất hiện.  Bản thân các nhà triết học Hy Lạp đã gọi phép biện chứng này theo nghĩa thứ hai của phép biện chứng cổ đại - nghệ thuật đàm thoại, tranh luận triết học. Họ sử dụng các cuộc đàm thoại, tranh luận triết học như một nghệ thuật để thông qua sự xung đột giữa các ý kiến trái ngược nhau mà phát hiện ra chân lý, và gọi đó là nghệ thuật phát hiện và chứng minh chân lý. Cùng với quá trình phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng theo nghĩa này cũng đã trở thành phương pháp nghiên cứu các vấn đề khoa học, trong đó có cả các vấn đề triết học.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, Dênông - nhà triết học thuộc trường phái Êlê được coi là người đầu tiên sử dụng phép biện chứng theo nghĩa này. Cũng theo cách hiểu đó, Điôgien Laécxơ và Arixtốt đã gọi Dênông là người khởi xướng phép biện chứng. Tuy nhiên, dưới một hình thức hoàn toàn rõ nét, thì phép biện chứng theo nghĩa này chỉ được thể hiện ra ở Xôcrát.

Trên thực tế, loại hình này của phép biện chứng đã được phát triển bởi các nhà triết học mà xét về các định hướng phương pháp luận, lại là các nhà siêu hình. Tuy nhiên, trong quá trình luận chứng để phát triển nghệ thuật đàm thoại, tranh luận triết học và nhờ đó, chỉ ra những mâu thuẫn trong các học thuyết của các nhà triết học siêu hình, các nhà triết học duy vật - các nhà biện chứng khách quan, cũng đã cố gắng vạch ra những hạn chế trong bức tranh duy vật về thế giới và trong nhận thức của các nhà biện chứng khách quan về những thuộc tính của thực tại khách quan. Do vậy, những nghịch lý nổi tiếng mà Dênông đưa ra đã làm cho Hêgen phải thán phục tới mức khẳng định rằng, Dênông chính “là người khởi xướng phép biện chứng”. Ông viết: “Ở Dênông, chúng ta cũng tìm thấy một phép biện chứng thật sự khách quan”; rằng “những antinômi của Cantơ “không phải là cái gì khác hơn cái mà Dênông đã làm ở đây”(11). Thậm chí, Hêgen còn coi những luận điểm, quan niệm của Dênông về vận động là sâu sắc và “tinh vi hơn rất nhiều” so với antinômi  của Cantơ.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng phủ định còn được coi là tổng thể những lập luận có tính ý hướng nhằm chống lại bản thân sự thực về tính đa nghĩa, đa dạng, về sự vận động, biến đổi và về sự phát triển, chuyển hóa của sự vật từ trạng thái này sang trạng thái khác. Song, các lập luận đó, theo V.I.Lênin, về thực chất, chỉ đặt ra vấn đề “thể hiện” các quá trình khác nhau “trong lôgíc của những khái niệm” như thế nào(12). Do vậy, có thể nói, chính các lập luận đó đã làm bộc lộ các mâu thuẫn của quá trình nhận thức và ở một chừng mực nhất định, của cả đối tượng nhận thức, tức là những mâu thuẫn của bản thân các quá trình và những trạng thái được nhận thức. Phép biện chứng thường được coi là tiêu cực này trong triết học Hy Lạp cổ đại đã được Hêgen vạch ra, song nó chỉ được đánh giá một cách sâu sắc trong lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, bắt đầu từ Xôcrát và Platôn, một kiểu tư duy biện chứng đặc biệt đã xuất hiện - biện chứng của các khái niệm đã được thực thể hóa, kiểu tư duy như Hêgen nhận xét, nghiên cứu “sự vận động thuần túy của tư duy trong các khái niệm”(13). Sự xuất hiện của kiểu tư duy biện chứng này gắn liền với sự hình thành phép biện chứng theo nghĩa cổ đại của từ này, tức là nghệ thuật tranh luận để đi đến chân lý bằng cách đối lập các quan điểm, các ý kiến đối lập. Sau Platôn, sự phát triển của kiểu tư duy biện chứng này được coi là sự trở lại với chủ nghĩa duy tâm khách quan mà Platôn là đại diện tiêu biểu, nhưng ở nó, đã có một sự phát triển nhất định, trong đó sự vận động của các khái niệm và quan hệ giữa chúng đã trở thành phương thức phản ánh thế giới các bản chất xa lạ, đặc biệt mà Platôn đã tưởng tượng ra. Chính với nghĩa bản thể luận duy tâm này mà học trò của Platôn - Xpépxíp - đã gọi học thuyết ý niệm của Platôn là phép biện chứng.

Ở những giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học và lôgíc học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng với tư cách nghệ thuật tranh luận cũng có những nội dung và ý nghĩa khác nhau. Ở Dênông, người được Arixtốt gọi là “người khởi xướng phép biện chứng”, tu từ học được coi là thủ thuật bổ trợ trong việc so sánh các quan niệm hoàn toàn đối lập về một đối tượng. Bản thân sự so sánh này được Xôcrát coi là một cái mốc quan trọng bậc nhất trên con đường dẫn tới chân lý. Song, đến các nhà triết học thuộc trường phái Ngụy biện và trường phái Mêga thì tu từ học đã mang một nội dung hoàn toàn chủ quan, vì mục đích của nó không phải là tìm kiếm chân lý, mà chỉ là để giành thắng lợi trong tranh luận với địch thủ tư tưởng. Ở thời Trung cổ, khi mà bản thân thuật ngữ “biện chứng” bắt đầu được sử dụng để chỉ lôgíc hình thức theo nghĩa gợi mở của nó, các nhà triết học cũng không loại bỏ hoàn toàn ý nghĩa ban đầu của thuật ngữ này, thậm chí một số nhà triết học còn sử dụng lôgíc hình thức này như một phương tiện để đạt đến chân lý trong các cuộc tranh luận.

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, phép biện chứng khái niệm cũng đã được sử dụng với tư cách phương tiện lôgíc hình thức để luận chứng cho sự “ủng hộ” hay “chống lại” một quan niệm nào đó. Với phép biện chứng khái niệm của mình, Platôn đã đi đến kết luận rằng, để có được sự nhận thức đúng về những mâu thuẫn hiện thực, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt, nhất quán quy luật mâu thuẫn lôgíc. Kết luận này của Platôn được thể hiện cụ thể trong các tập đối thoại Nhà ngụy biện Nhà nước. Còn với  Arixtốt, việc tuân thủ nhất quán và nghiêm ngặt quy luật mâu thuẫn lôgíc đã đem lại cho ông một đóng góp lớn lao vào sự phát triển tư tưởng biện chứng- làm tiêu tan ảnh hưởng của thuật ngụy biện và khiến cho ông không những trở thành “ông tổ”của khoa học lôgíc, mà còn trở thành một trong hai người đầu tiên (cùng với Hêgen) nghiên cứu phép biện chứng một cách “tương đối chính xác”(14).

Tiếc rằng, trong triết học Hy Lạp cổ đại, những thành quả đó của tư duy biện chứng, về căn bản, đã không được phát triển ở giai đoạn sau Arixtốt. Gần hai nghìn năm sau Arixtốt, các nhà lôgíc học tuân thủ nghiêm ngặt quy luật mâu thuẫn thì lại tỏ ra xa lạ với phép biện chứng của khái niệm, còn các nhà biện chứng thì đôi khi lại bỏ qua quy luật mâu thuẫn lôgíc. Chỉ có C.Mác, trong Sự khốn cùng của triết học Tư bản, là đã vạch rõ một cách toàn diện sự thống nhất sâu sắc của tư duy biện chứng với tính có luận cứ chặt chẽ và tính nhất quán của nó. Cũng chỉ có C.Mác là người đã nghiên cứu “Lôgíc học” với “chữ L. viết hoa”. Và, trong Tư bản, C.Mác, theo sự đánh giá của V.I.Lênin, đã “áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ: đó là cùng một cái duy nhất) của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”(15).

Trong triết học Hy Lạp cổ đại, có thể coi Platôn là người đã kết hợp phép biện chứng với tư cách (a) nghệ thuật tranh luận sinh động với (b) phép biện chứng với tư cách phương thức vận động tới chân lý thông qua sự lưỡng phân các khái niệm và sau đó, thông qua sự so sánh các ý kiến đối lập. Trong các tập đối thoại Nhà ngụy biện Pacmênit - các tập đối thoại được coi là đỉnh cao trong việc trình bày phép biện chứng chủ quan ở thời cổ đại, Platôn còn làm sáng tỏ (c) sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các khái niệm đối lập và thậm chí, biến chúng thành mặt đối lập của chính chúng. Theo đó, chúng ta thấy, chỉ riêng ở Platôn, đã có ba biến thể của phép biện chứng trong cùng một hệ thống triết học duy tâm khách quan của ông.

Còn với Arixtôt, phép biện chứng được quan niệm là kỹ năng tìm ra các cơ sở để tiến hành tư duy một cách có luận cứ và để bác bỏ các tư tưởng sai lầm, tức là (d) một dạng lôgíc thực dụng. Arixtốt đã khảo cứu những mối tương quan biện chứng giữa các phạm trù “hình thức” và “vật chất” trên bình diện (đ) sự tác động qua lại giữa các khái niệm “hiện thực” và “khả năng”, “cái chung” và “cái riêng (“cái đơn nhất”)” để từ đó, đi tới biến thể (e) biện chứng của “thế giới trần tục đa chất lượng”. Ngoài ra, khi phân tích về mặt lôgíc đối với các phán đoán về những sự kiện tương lai, ông đã vạch ra tính hai mặt của mối tương quan giữa khả năng và hiện thực. Và, với học thuyết về mối liên hệ qua lại giữa các phạm trù, cũng như về các dạng vận động, ông đã mở ra một triển vọng phát triển mới cho phép biện chứng. Nhưng, tiếc rằng, cũng như ở Platôn, các xu hướng và các khuynh hướng khác nhau trong phép biện chứng ở Arixtốt lại được kết hợp một cách mâu thuẫn với các yếu tố siêu hình trong học thuyết của ông.

Triết học Hy Lạp cổ đại thời kỳ sau Arixtốt và sau Êpiquya, các hình thức mới của phép biện chứng cổ đại đã không những không xuất hiện, mà còn dần đánh mất những đỉnh cao mà trước đó, nó đã đạt được. Điều này được quy định bởi sự suy thoái sâu sắc của toàn bộ nền văn minh Hy Lạp diễn ra do những nguyên nhân kinh tế - xã hội. Tư tưởng về sự phát triển mang tính luân hồi phổ biến ở thời kỳ này, chẳng hạn như ở phái Xtôíc, đã thể hiện thái độ ngày càng bi quan hơn và mang tính siêu hình hoàn toàn. Mọi sự phát triển, theo họ, đều tất yếu kết thúc bằng một thảm họa chung và mọi nỗ lực cản trở điều đó đều là uổng công, vô ích. Chính vì vậy mà tư tưởng biện chứng đã dần trở nên trì trệ và ở phái Platôn mới, nó đã biến thành một trong các phương tiện để xây dựng nên những câu truyện viễn tưởng, thần bí.

Mặc dù còn rất thô sơ, mộc mạc và nhiều hạn chế, song tư tưởng biện chứng vẫn đươc coi là một thành tựu rực rỡ của triết học Hy Lạp cổ đại và trong tư tưởng biện chứng ấy, như V.I. Lênin nhận xét, đã có sự hiện diện của cả “phép biện chứng hoàn toàn khách quan” lẫn “phép biện chứng chủ quan”. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, dẫu chỉ là “những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh” nhưng họ, theo Ph.Ăngghen, “cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng” và những thành tựu mà họ đã đạt được khiến cho chúng ta phải luôn trở lại khi nghiên cứu lịch sử phép biện chứng.

 


(*) Giảng viên triết học,  Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

(1) Xem: V.I. Lênin. Toàn tập, t. 29. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 263 - 331.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 34.

(3) V.I. Lênin. Sđd., t.29, tr. 275.

(4) Xem: V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr. 285.

(5) V.I.Lênin. Sđd., t.29,  tr. 243,  244.

(6) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr. 268.

(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t. 20, tr.491.

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t. 20, tr. 662.

(9) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t. 20, tr. 710.

(10) Xem: V.I.Lênin. Sđd.,  t. 29, tr. 371.

(11) Dẫn theo: V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr. 269, 275.

(12) Xem: V.I.Lênin. Sđd., t. 29, tr. 271.

(13) Dẫn theo: V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr. 266.

(14) C. Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t. 20, tr. 488.

(15) V.I.Lênin. Sđd., t.29, tr. 359 - 360.

Đã xem: 1277
Thời gian đăng: Thứ bảy - 29/08/2015 01:24
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất