QC Shop

Bảo đảm công bằng xã hội vì sự phát triển bền vững

Nguyễn Ngọc Hà(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (213), tháng 2 - 2009

Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội. Để có được công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp như Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra. Để phát huy vai trò động lực của công bằng xã hội, theo tác giả, cần khắc phục những thiếu sót trong việc thực hiện công bằng xã hội hiện đang còn tồn tại. Công tác lý luận cần hướng vào việc nghiên cứu và giải quyết nhiệm vụ đó.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Mở đầu

Sự phát triển của một quốc gia không chỉ thể hiện ở sự phát triển về kinh tế, mà còn thể hiện ở sự phát triển về xã hội. Sự phát triển về kinh tế và sự phát triển về mặt xã hội có liên quan mật thiết với nhau. Công bằng xã hội là một nội dung quan trọng trong sự phát triển về mặt xã hội. Trong một xã hội có tình trạng bất công bằng, người bị đối xử bất công sẽ không thể phát huy hết tính tích cực của mình; hơn nữa, họ luôn đấu tranh đòi công bằng, cuộc đấu tranh này không tránh khỏi gây bất ổn định xã hội. Vì vậy, nếu quốc gia nào chỉ chú trọng phát triển về kinh tế mà không chú trọng bảo đảm công bằng xã hội, thì sự phát triển về kinh tế của quốc gia đó sẽ không bền vững.

1. Quan điểm coi công bằng xã hội là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội ở Việt Nam

Công bằng xã hội luôn được Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam coi vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Trong thời kỳ phong kiến và thuộc địa, tình trạng bất công bằng rất nghiêm trọng. Nhờ giương cao ngọn cờ công bằng mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ phong kiến và thuộc địa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện ngay hàng loạt chính sách nhằm xoá bỏ tình trạng bất công do xã hội trước để lại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Giống như các nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây, trước thời kỳ đổi mới, Việt Nam cũng chủ trương quốc hữu hoá và tập thể hoá các tư liệu sản xuất chủ yếu với hy vọng vừa có tăng trưởng kinh tế, vừa có công bằng xã hội. Vào những năm đầu của thời kỳ này, thành tựu trong việc xoá bỏ bất công bằng xã hội là rất to lớn. Đặc biệt, nhờ chính sách cải cách ruộng đất nên ước mơ “người cày có ruộng” của hàng triệu nông dân đã trở thành hiện thực. Tuy nhiên, sau một thời gian không lâu, sản xuất lại trở nên trì trệ, do đó đời sống nhân dân thấp kém và đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nguyên nhân của tình hình sản xuất trở nên trì trệ là gì? Chắc chắn nó có nguyên nhân ở chỗ người lao động không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết tính tích cực của mình. Nhưng vì sao người lao động lại không hoàn toàn phấn khởi để phát huy hết tính tích cực của mình? Đó là vì lợi ích chính đáng của họ chưa được đảm bảo, hay nói cách khác, vì vẫn còn sự bất công bằng xã hội. Sự bất công của chế độ thực dân và phong kiến được xoá bỏ thì bất công mới lại nảy sinh, đó là sự phân phối bình quân, cào bằng.

 Từ năm 1986, nhờ thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và có được sự phát triển vượt bậc về nhiều mặt: kinh tế phát triển với tốc độ cao, xã hội ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện hơn. Sở dĩ chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đem lại sự phát triển vượt bậc như vậy là vì chủ trương đó đã góp phần khắc phục sự bất công của chính sách phân phối bình quân, cào bằng.

Xoá bỏ sự bất công của chính sách phân phối bình quân, cào bằng đương nhiên sẽ làm cho khoảng cách giàu nghèo tăng hơn. Do đồng nhất sự bình đẳng với sự công bằng, một số người cho rằng sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo là biểu hiện của tình trạng bất công gia tăng. Cũng theo quan niệm của họ, hai mục tiêu công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế không thể đồng thời đạt được; muốn có tăng trưởng kinh tế thì phải chấp nhận sự bất công bằng xã hội và trong điều kiện hiện nay, cần phải ưu tiên cho sự tăng trưởng kinh tế(1).

Khác với quan niệm trên đây, Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế không nhất thiết phải hy sinh mục tiêu công bằng xã hội. Công bằng xã hội không phải là nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế; trái lại, nó là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Bởi vì, nếu có công bằng xã hội thì lợi ích chính đáng của mỗi người được bảo đảm, mỗi người được hưởng tương xứng với cống hiến của mình; điều đó sẽ kích thích mọi người ra sức cống hiến cho xã hội một cách tự nguyện nhất, từ đó kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường, chúng ta không những có thể mà còn cần phải thực hiện công bằng xã hội. Về điều này, Văn kiện Đại hội X của Đảng viết: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục… giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”(2). Quan điểm này phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng, “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”(3).

Trong điều kiện kinh tế thị trường, công bằng xã hội có thể và cần được bảo đảm. Khi thừa nhận như vậy thì cần chú ý hai điểm sau đây. Thứ nhất, công bằng xã hội không đồng nhất với bình đẳng xã hội, công bằng không phải là cào bằng; do đó, không phải càng thu hẹp khoảng cách giàu nghèo là càng công bằng, cũng không phải càng gia tăng khoảng cách giàu nghèo là càng gia tăng sự bất công bằng. Sự đồng nhất công bằng xã hội với bình đẳng xã hội đã từng là cơ sở lý luận của chủ nghĩa bình quân, đồng thời là cơ sở lý luận của quan niệm sai lầm cho rằng không thể đồng thời đạt được hai mục tiêu công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế. Thứ hai, để có được công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường thì cần phải xác định và thực hiện đúng nguyên tắc phân phối phù hợp. Về nguyên tắc phân phối phù hợp này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội"(4). Tiếp tục tinh thần đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển: tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục…, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”(5).

Quan điểm trên thể hiện sự thay đổi quan trọng trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam so với thời kỳ trước đổi mới về nguyên tắc phân phối bảo đảm công bằng xã hội. Vì sao? Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đổi mới, Việt Nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác quan niệm rằng, nguyên tắc phân phối bảo đảm công bằng xã hội là nguyên tắc phân phối theo lao động (làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng). Nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi giá trị của tổng sản phẩm xã hội được chia thành hai phần: phần thứ nhất được dành để tái sản xuất, để giải quyết các vấn đề xã hội chung, để đóng góp vào quỹ phúc lợi xã hội và từ đó, phân phối thông qua phúc lợi xã hội; phần thứ hai sẽ được phân phối cho các cá nhân theo mức cống hiến bằng sức lao động của họ cho xã hội (bao gồm cả cống hiến bằng sức lao động chân tay và cống hiến bằng sức lao động trí óc, cống hiến của người lao động quản lý và người lao động không tham gia quản lý, cống hiến trực tiếp và cống hiến gián tiếp cho quá trình sản xuất của xã hội, cống hiến của tất cả những người làm việc trong mọi lĩnh vực không thể thiếu của xã hội). Nguyên tắc phân phối theo lao động không dành phần nào để phân phối theo nguồn vốn.

 Từ khi chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam thực hiện nguyên tắc phân phối “theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”. Với việc thực hiện nguyên tắc phân phối đó, Việt Nam đã xoá bỏ đáng kể sự bất công do phân phối bình quân. Việc xoá bỏ sự bất công này là một nguyên nhân đưa đến những thành công ngoạn mục của Việt Nam về kinh tế và xã hội, được cộng đồng thế giới thừa nhận. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục với tốc độ cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được nhiều tiến bộ về văn hoá và xã hội: đời sống của đa số nhân dân được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh chóng, xã hội không có sự phân cực gay gắt, giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng lên, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt nhiều kết quả, tuổi thọ trung bình của dân số tăng từ 67,8 (năm 2000) lên 71,5 (năm 2005), chính trị và xã hội ổn định(6). So với thời kỳ trước đổi mới, Việt Nam đã tiến được một bước dài trên con đường thực hiện và đi tới mục tiêu công bằng xã hội.

2. Một số thiếu sót trong việc bảo đảm công bằng xã hội hiện nay

Bên cạnh những thành công đó, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội nan giải, trong đó có vấn đề bảo đảm công bằng xã hội. Trong những năm gần đây, nhiều người giàu lên nhanh chóng. Một số người giàu lên bằng sự kinh doanh chính đáng, hợp pháp. Một số người khác giàu lên bằng việc lợi dụng sơ hở của hệ thống pháp luật để làm ăn một cách phi pháp. Nếu trong thời kỳ bao cấp tình trạng bất công bằng xã hội xuất hiện do sự phân phối cào bằng, thì ngày nay nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng bất công là sự làm giàu bất hợp pháp, đặc biệt là tham nhũng(7). Tham nhũng đang là quốc nạn ở Việt Nam, là mầm mống gây ra sự bất ổn định xã hội, là một nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế. Cơ chế thị trường không phải là nguyên nhân gây ra tham nhũng. Nếu có một hệ thống pháp luật phù hợp và sự thực thi pháp luật nghiêm minh thì tham nhũng không thể tồn tại trong cơ chế thị trường. Như vậy, để xoá bỏ bất công thì phải xoá bỏ sự làm giàu bất hợp pháp của một số người, nhưng muốn làm được điều đó thì phải xây dựng được một hệ thống pháp luật phù hợp và phải thực thi pháp luật một cách nghiêm minh.

Một nguyên nhân quan trọng khác gây ra tình trạng bất công bằng là sự bất hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển. Vì sự bất hợp lý đó mà có tình trạng một số người có thu nhập cao hơn nhiều so với một số người khác mặc dù họ cùng làm một công việc và với cường độ như nhau. Một số người giàu lên rất nhanh nhờ lợi dụng được sự bất hợp lý trong chính sách của Nhà nước. Một số người vẫn phải sống trong cảnh quá nghèo khổ trong khi thu nhập bình quân một người một năm ở Việt Nam đã đạt khoảng 1000 USD(8). Trong số những người nghèo, nhiều người không đáng phải chịu cảnh nghèo vì nguyên nhân gây ra sự nghèo là khách quan chứ không phải do họ lười biếng.

Trong thời kỳ trước đổi mới, Việt Nam có một hệ thống giáo dục và y tế không mất tiền, vì được nhà nước bao cấp. Còn hiện nay? Bên cạnh các cơ sở giáo dục và y tế công lập, còn có các cơ sở giáo dục và y tế tư nhân. Các cơ sở giáo dục và y tế tư nhân thì hoạt động theo cơ chế thị trường: người bỏ vốn ra kinh doanh có mục đích thu lợi nhuận từ nguồn học phí của người học và viện phí của người bệnh. Đó là điều bình thường. Các cơ sở giáo dục và y tế công lập, ngoài kinh phí do nhà nước cấp, còn thu thêm học phí và viện phí. Điều này dẫn đến tình trạng là chỉ những người có tiền đóng học phí và viện phí mới được hưởng dịch vụ giáo dục và chữa bệnh từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập. Các cơ sở giáo dục và y tế công lập là tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Mọi người đều có quyền được hưởng một phần dịch vụ giáo dục và y tế từ các cơ sở giáo dục và y tế này. Nhưng trên thực tế, nhiều người có nhu cầu học tập hoặc chữa bệnh đã không được hưởng quyền lợi từ các cơ sở giáo dục và y tế công lập do không có tiền đóng học phí và viện phí. Đây là một biểu hiện của tình trạng bất công còn tồn tại ở Việt Nam.

Nhận diện sự bất công hợp pháp thường phức tạp hơn nhận diện sự bất công phi pháp. Trong thời kỳ trước đổi mới, khi thực hiện sự phân phối bình quân để xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư, chúng ta tưởng rằng như thế là xoá bỏ được bất công nhưng thực ra lại là tạo ra sự bất công. Còn trong thời kỳ đổi mới, tuy đã xoá bỏ sự phân phối bình quân, nhưng trên thực tế chúng ta vẫn chưa thực hiện được sự công bằng vì sự bất hợp pháp và sự bất hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển. Khắc phục sự bất công này trước hết là trách nhiệm của nhà nước.

Chúng ta không thể xoá bỏ kinh tế thị trường vì điều đó triệt tiêu động lực của sự tăng trưởng kinh tế. Chúng ta cũng không thể để cho kinh tế thị trường hoạt động tự phát mà không có sự điều tiết của nhà nước. Nhưng, điều tiết như thế nào để có sự hợp lý trong phân phối của cải và cơ hội phát triển cho mọi người? Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã viết: “Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”(9). Do lý luận chưa giải đáp được vấn đề nói trên, nên chúng ta vẫn chưa có những chính sách hợp lý để khắc phục hoàn toàn sự bất công bằng đang tồn tại.

Kết luận

So với thời kỳ bao cấp, Việt Nam về cơ bản đã khắc phục được sự bất công do phân phối bình quân. Tuy nhiên, tình trạng bất công ở Việt Nam hiện nay vẫn còn khá nhức nhối. Để bảo đảm công bằng xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và còn thiếu thốn như hiện nay, điều quan trọng đầu tiên là cần phải xoá bỏ được tình trạng nghèo khổ của một bộ phận dân cư do những nguyên nhân khách quan. Nếu không làm được điều này thì đất nước ta sẽ chưa thể có sự phát triển bền vững.

 

 


(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. 

(1) Chẳng hạn, có ý kiến cho rằng, nước ta hiện nay có sự bóc lột hợp pháp và sự bóc lột bất hợp pháp, loại bóc lột hợp pháp thì không thể xoá bỏ được trong điều kiện hiện nay. Bóc lột là bất công. Vì vậy, theo ý kiến này thì trong điều kiện hiện nay, chúng ta chưa thể xoá bỏ được sự bất công.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77-78

(3) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.12. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.185.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.88.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.77-78.

(6) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr.57-59.

(7) Hiện chưa có công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào về thực trạng tham nhũng ở Việt Nam. Tuy nhiên, một số tổ chức cũng đã có đánh giá bước đầu về tình hình tham nhũng ở Việt Nam. Chẳng hạn, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (có trụ sở ở Đức) từ năm 1995 đã khảo sát, cho điểm và xếp hạng tham nhũng của các quốc gia. Năm 2004 Việt Nam được 2,6 điểm trên 10 và xếp hạng 102 trong 146 nước được đánh giá. Đứng đầu danh sách này là Phần Lan với 9,7 điểm. Đứng cuối danh sách này là Haiti với 1,5 điểm. Không có nước nào đạt điểm tuyệt đối (điểm 10). Nguồn: Vietnamnet ngày 5/12/2004.

(8) Khoảng cách giàu nghèo gia tăng giữa các bộ phận dân cư và tỷ lệ nghèo phần nào nói lên tình trạng bất công của xã hội. Nếu xét theo nhóm dân cư, khoảng cách giàu nghèo giữa nhóm có thu nhập thấp nhất và cao nhất ở Việt Nam đang ngày một cách biệt. Khoảng cách này năm 1996 là 7,31 lần; năm 2001 - 2002 là 8,10 lần, năm 2003-2004 là 8,34 lần, còn bộ ba con số này giữa vùng Đông Nam Bộ giàu nhất và vùng Tây Bắc Bộ nghèo nhất là 2,18 lần; 3,15 lần và 3,14 lần. Ở thời điểm hiện nay, cùng với việc gia nhập WTO và động thái của thị trường thế giới sắp tới, khoảng cách giàu nghèo có thể còn tiếp tục nới rộng ra nhanh hơn nữa. Theo tiêu chí giai đoạn 2006 - 2010, hộ có thu nhập dưới 230.000 đồng/người/tháng ở thành thị và 200.000 đồng/tháng ở nông thôn là thuộc hộ nghèo. Ở thời điểm cuối năm 2007, cả nước còn 14,8% hộ nghèo. Xu thế giảm nghèo tuy rõ rệt ở tất cả các vùng, các đối tượng, song tỷ lệ nghèo và tốc độ giảm nghèo có sự khác nhau khá rõ giữa các vùng miền. Đến cuối năm 2006, cả nước còn 58 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50%. Trong đó có 27 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 60%, 10 huyện trên 70% và 1 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 80%. Nguồn: Báo: Người lao động, ngày 13-1-2008.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Sđd., tr.69.

Đã xem: 1078
Thời gian đăng: Thứ ba - 22/03/2016 15:06
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất