QC Shop

Những lĩnh vực của kinh tế học chính trị mácxít và chủ nghĩa duy vật lịch sử dưới tác động của toàn cầu hóa(*)

E.Marquit(**)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 6 (181), tháng 6 - 2006

Trong bài viết này, tác giả cho rằng, giá trị nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử chưa bao giờ bị mất đi. Tuy nhiên, do tác động của toàn cầu hoá, sự phân tích kiểu mácxít truyền thống đối với một số lĩnh vực cần được hiện đại hoá. Học thuyết mácxít cần chú ý các vấn đề, như cuộc cách mạng thông tin, công nghệ và tác động của toàn cầu hoá đối với kinh tế chính trị của các nước tư bản phát triển; sự phát triển năng động của những nền kinh tế hỗn hợp ở các nước định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm chủ nghĩa đế quốc… Theo tác giả, sự ưu tiên và những suy nghĩ thấu đáo về các vấn đề lý luận đó nhằm duy trì sức sống của di sản trí tuệ mácxít sẽ có tác động to lớn đối với sự tiến bộ của loài người.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Sự phân tích kiểu mácxít truyền thống cần được hiện đại hoá trong một số lĩnh vực với tính cách là kết quả của sự phát triển về kinh tế và khoa học, công nghệ dưới tác động của toàn cầu hoá. Đó là những lĩnh vực mà ở thế kỷ XX, người ta đã đề cập tới, như kinh tế chính trị của chủ nghĩa tư bảnkinh tế chính trị của chủ nghĩa xã hội. Tương tự như vậy, những khía cạnh của chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay chủ nghĩa xã hội khoa học) liên quan đến bước quá độ từ cơ cấu kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa cộng sản cũng cần được xem xét lại.

Giá trị nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà vào thời C.Mác và Ph.Ăngghen được gọi là quan niệm duy vật về lịch sử, chưa từng bị mất đi, kể từ khi nó được C.Mác trình bày trong Lời nói đầu của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, xuất bản năm 1859. Trong Lời nói đầu này, C.Mác đã trình bày quy luật phát triển xã hội dựa trên những tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất mà trọng tâm là quan hệ sở hữu và kiến trúc thượng tầng về mặt hệ tư tưởng cũng như về mặt thiết chế, cái có chức năng duy trì sự ổn định của quan hệ sở hữu.

Nghiên cứu của C.Mác về sự bòn rút (extraction) giá trị thặng dư trong điều kiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã cho phép giai cấp công nhân hiểu rằng, chính lao động của họ là nguồn gốc duy nhất của phần giá trị được thêm vào trong quá trình sản xuất. Do đó, ông đã giúp giai cấp công nhân hiểu rằng, lao động của họ cung cấp cơ sở vật chất cho giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt và chính vì thế, giai cấp ấy có cơ sở để đòi hỏi không những một sự hoàn trả nhiều sản phẩm hơn nữa cho lao động của họ, mà cả việc loại trừ tận gốc sự chiếm đoạt của nhà tư bản đối với sản phẩm thặng dư. Giai cấp công nhân cần đến sự hiểu biết mang tính bản chất trên đây về đặc điểm đích thực của sự bóc lột - cơ sở vật chất của đấu tranh giai cấp - để giải phóng họ vĩnh viễn khỏi sự bóc lột ấy.

Học thuyết mácxít cần chú ý đến cuộc cách mạng thông tin, công nghệ và những tác động chủ yếu mà sự khởi đầu đi liền với toàn cầu hoá gây nên đối với kinh tế chính trị của các nước tư bản phát triển. Một trong những tác động đó là sự suy giảm tuyệt đối và tương đối của lĩnh vực sản xuất công nghiệp khi lao động trong nước ở các nước phát triển bị thay thế bằng nguồn lao động rẻ hơn, hoặc bởi việc xuất khẩu tư bản hay chuyển quy trình sản xuất đến các công ty khác ở những nước chậm phát triển hơn. Sự suy giảm tương đối trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp cũng là kết quả của sự gia tăng tương đối vai trò của những sản phẩm và dịch vụ phi vật chất trong nền kinh tế.

Học thuyết mácxít cần chú ý đến sự suy giảm tuyệt đối và tương đối của sản xuất công nghiệp, vì một số lý do sau:

Quan điểm truyền thống trong chủ nghĩa xã hội khoa học cho rằng, sự lớn mạnh của giai cấp công nhân công nghiệp sẽ là tác nhân chủ yếu cho sự phát triển của ý thức xã hội chủ nghĩa trong giai cấp ấy, vì đặc trưng của sản xuất xã hội đang phát triển là ngày càng có nhiều hơn những người công nhân bị đẩy vào cùng một xí nghiệp. Do đó, phong trào cộng sản sẽ luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc bổ sung vào hàng ngũ của mình những người công nhân công nghiệp với tư cách những người nắm giữ và phổ biến đầu tiên, tiềm tàng cho một ý thức cách mạng (…).

Tuy nhiên, trên thực tế, C.Mác đã khẳng định người vô sản là người tạo ra giá trị thặng dư, “Vì mục đích trực tiếp và sản phẩm thực sự của sản xuất tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư, cho nên chỉ có lao động như vậy mới là người sản xuất, và chỉ có người sử dụng năng lực lao động như thế mới là một người công nhân sản xuất, khi trực tiếp sản xuất ra giá trị thặng dư”. Mặc dù đã cảnh báo không nên chú ý quá nhiều đến những đầu tư tư bản vào sản xuất phi vật chất, song C.Mác cũng đã bàn đến “người vô sản trong lĩnh vực văn học sản xuất ra những cuốn sách ... dưới chỉ dẫn của chủ xuất bản”, “một ca sĩ ... được thuê bởi một ông bầu”, “một giáo viên được thuê như người làm công ăn lương trong một cơ sở cùng những người khác”, - nói ngắn gọn, đó là những người được trả lương để thực hiện những dịch vụ sẽ trở thành những hàng hoá vật chất hay phi vật chất với mục đích đem lại giá trị thặng dư cho người hay  tổ chức đã thuê họ(1). Vấn đề mà chủ nghĩa Mác phải đối mặt không phải là sự suy giảm của giai cấp công nhân, mà là những hậu quả do sự xuất hiện ý thức xã hội chủ nghĩa về những đổi thay trong đặc trưng công nghệ của cơ sở sản xuất, trong bản chất của công việc được thực hiện và trong trình độ giáo dục của giai cấp công nhân.

Vấn đề này có quan hệ với sự tấn công của tư bản vào những tiêu chuẩn sống của giai cấp công nhân mà hiện nay, chúng ta đang được chứng kiến ở các nước tư bản chủ yếu. Sự tấn công mang tính huỷ hoại này thường diễn ra dưới hình thức yêu cầu hạ thấp tiền công, cắt giảm lương hưu, tăng độ dài tuần lao động, giảm ngân quỹ dành cho chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác. Sự sút giảm trong chất lượng sống sinh ra từ đó được biện minh bằng việc nêu lên yêu cầu cạnh tranh trên thị trường toàn cầu trước tình trạng dư dả nguồn lao động giá rẻ.

Sự phân tích mácxít đối với tình huống này không thể dựa trên việc đem lợi ích của những người lao động ở các nước phát triển đối lập với lợi ích của những người lao động ở các nước chậm phát triển hơn. Một giải pháp cho vấn đề này là phải bám chặt vào chủ nghĩa quốc tế vô sản. Nếu không có một chiến lược được soạn thảo công phu về mặt lý luận để thống nhất lợi ích của giai cấp công nhân ở các nước phát triển và các nước chậm phát triển hơn thì không thể thống nhất được hai liên đoàn lao động quốc tế chủ yếu – Liên đoàn các Nghiệp đoàn thế giới và Liên đoàn quốc tế các Nghiệp đoàn tự do. Sự thống nhất giai cấp công nhân quốc tế ấy cần được nâng lên thành cuộc đấu tranh giai cấp với cấp độ quốc tế trong phạm vi cần thiết. Việc nghiên cứu vấn đề này đang ngày càng trở nên cấp thiết.

Một vấn đề tương tự nảy sinh trong quan hệ với nông nghiệp, trong đó sự độc quyền về phân phối các nông sản bởi cái mà hiện nay chúng ta gọi là kinh doanh nông nghiệp đã dẫn đến việc giá cả nông sản bị hạ thấp dưới mức chi phí cho sản xuất, khiến cho các nước công nghiệp hoá phải duy trì cơ sở nông nghiệp của mình bằng các hình thức trợ cấp, bằng thuế và hạn ngạch nhập khẩu. Kết quả là, nền nông nghiệp của Hoa Kỳ và các nước châu Âu có thể giảm giá các nông sản xuống dưới mức giá của các nước chậm phát triển hơn. Một giải pháp mang tính mácxít quốc tế cho vấn đề này phải được hình thành thông qua sự đồng thuận quốc tế về hạn ngạch sản xuất áp dụng cho thị trường toàn thế giới nhắm vào các sản phẩm nông nghiệp, cũng như vào việc bình ổn giá cả. Điều đó sẽ dẫn đến sự phát triển cân bằng giữa các nền kinh tế nông nghiệp ở cả các nước phát triển, lẫn các nước đang phát triển.

Sự phát triển năng động của những nền kinh tế hỗn hợp ở các nước định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là một lĩnh vực đòi hỏi kinh tế học mácxít và chủ nghĩa duy vật lịch sử phải quan tâm.

Những nỗ lực đầu tiên của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây nhằm phát triển nền kinh tế kế hoạch tập trung, chỉ với hai khu vực nhà nước và tập thể, về bản chất, dựa trên giả định rằng, có thể tách biệt những nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đã phát triển hoàn toàn khỏi nền kinh tế tư bản thế giới. Sự tách biệt như thế sẽ cho phép các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa tạo được tấm gương phát triển kinh tế của chính mình mà không cần xét đến những tiến triển trong thế giới tư bản. Tuy nhiên, người ta không thể duy trì hai hệ thống kinh tế thế giới tách biệt, đối lập nhau về bản chất. Những phát triển chỉ riêng trong kỹ thuật quân sự đã gây nên ấn tượng giả tạo về nhịp độ phát triển công nghệ đối với các nước xã hội chủ nghĩa, cái vốn không thể đạt được do tầm nhìn hạn hẹp trong việc thực hiện một cách vội vã sự tập trung hoá và xã hội hoá tư liệu sản xuất. Điều không tưởng ấy khiến cho không chỉ kinh tế, mà cả văn hoá cũng bị loại trừ ra khỏi sự phát triển mang tính cách mạng của công nghệ thông tin.

Quan điểm mácxít truyền thống về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội còn thể hiện ở quan niệm về sự phát triển qua hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là sự xã hội hoá tư liệu sản xuất; trong giai đoạn này, quyền của người công nhân đối với sản phẩm của nền sản xuất tỷ lệ thuận với phần giá trị của sự đóng góp của họ trong quá trình lao động. Trong Phê phán cương lĩnh Gôtha, C.Mác đã chỉ rõ nguyên tắc phân phối đó là quyền tư sản nhằm hàm ý rằng, chính nguyên tắc ấy đã tác động dưới chủ nghĩa tư bản. Sau đó, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội là gia tăng quy mô sản xuất đến mức mà việc thực hiện sự phân phối dựa trên nhu cầu trở nên có thể. Đời sống hiện thực đã đưa quan niệm về hai giai đoạn này vào kho lưu trữ lâu dài. Người ta vẫn không rõ đến khi nào, nếu có thể, nó sẽ được đem ra khỏi cái kho ấy và đặt vào chương trình nghị sự thiết thực. Nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam, với các thành phần tư nhân và xã hội chủ nghĩa, cũng đặt hệ thống lương của mình trên nguyên tắc quyền tư sản như vậy. Tuy nhiên, họ không hề có mục đích tức thời trong việc xã hội hoá khu vực tư nhân, cho nên, hai nền kinh tế đó vẫn chưa bước vào quá trình hai giai đoạn đã được bàn đến trong Phê phán cương lĩnh Gotha, cũng như được V.I.Lênin khảo sát kỹ lưỡng trong Nhà nước và cách mạng. Giờ đây, kinh tế học mácxít có nhiệm vụ làm sáng tỏ hơn nữa bằng cách nào mà các mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay sẽ dẫn đến mục tiêu cộng sản về sản xuất và phân phối chỉ dựa trên nhu cầu. Trong khi mỗi mô hình ấy có thể được lấy làm mục đích thì vẫn chưa xuất hiện cách tiếp cận nào được thừa nhận rộng rãi.                  

Chúng ta không cần phải thiết lập một thời gian biểu cho sự thay thế tất cả những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, là những người mácxít, chúng ta không thể lãng quên sự cần thiết phải giải đáp câu hỏi này ở một số điểm. Để những nền kinh tế hỗn hợp tiếp tục phát triển trong khi vẫn thu hút được đầu tư tư bản cả ở trong và ngoài nước, điều cần thiết là triển khai một chiến lược cho bước quá độ sang chủ nghĩa cộng sản theo một phương thức giải quyết vấn đề giai cấp tương đối tự do đối với các thành phần tư bản. Điều này có khả dĩ không?

Phát hiện của C.Mác về giá trị thặng dư với tính cách nguồn gốc của lợi nhuận tư bản đã chứng minh mâu thuẫn không thể điều hoà về lợi ích giữa tư bản và lao động - một mâu thuẫn về lợi ích chỉ có thể được xoá bỏ bằng việc xã hội hoá tư liệu sản xuất. Tiền lương của người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản bị quy định bởi quy luật giá trị: giá trị của một hàng hoá được quy định bằng thời gian lao động xã hội tất yếu biểu hiện trong việc sản xuất ra nó. Do đó, giá trị thời gian lao động của người công nhân được quy định bởi giá trị những hàng hoá mà anh ta tiêu thụ trong quá trình tái sản xuất ra sức lao động của mình. Đây là tiêu chuẩn sống bị chế định về mặt lịch sử của giai cấp công nhân với tính cách cái bị quy định thông qua đấu tranh giai cấp.

Khi bàn về lao động sản xuất và lao động phi sản xuất, C.Mác đã chứng minh rằng, tiền lương của những người được thuê trong hoạt động phi sản xuất - tức là những người không liên quan đến việc sản xuất ra giá trị thặng dư - được quy định bởi mức lương của những người công nhân sản xuất có liên quan đến lao động so sánh. Đây vẫn là trường hợp ở các nước tư bản mà trong đó, với một số sửa đổi, nó vẫn tác động đến những lực lượng lao động tương đối lớn trong khu vực công. Một số lực lượng lao động trong khu vực công, chẳng hạn như những giáo viên trường công, cho dù không phải là người tạo ra giá trị thặng dư, vẫn có liên quan đến đấu tranh giai cấp; bởi lẽ, cuộc đấu tranh của họ là cuộc đấu tranh với nhà nước tư bản. Do có số lượng lớn, họ có khả năng giành được những lợi ích mà sau đó, được phản ánh trong mức lương của những giáo viên trường tư. Tuy nhiên, yêu cầu về tiền lương của những giáo viên trường công nhìn chung bị chế định bởi mức lương của những công nhân trong khu vực tư nhân với sự giáo dục và kỹ năng so sánh.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế hỗn hợp, nơi mà nhà nước được xác định là nền chuyên chính (dictatorship) của giai cấp vô sản, mức lương trong khu vực nhà nước không bị quy định bởi đấu tranh giai cấp, mà bởi sự thoả thuận thông qua đàm phán giữa các cơ quan nhà nước với các nghiệp đoàn đại diện cho người công nhân. Bất chấp mâu thuẫn không thể điều hoà về lợi ích giữa lao động và tư bản, nếu tiền lương của người công nhân trong khu vực tư nhân không bị quy định bởi đấu tranh giai cấp thì một lý thuyết về cơ cấu giá dành cho lao động ăn lương trong khu vực tư nhân dưới điều kiện chuyên chính vô sản phải được thiết lập. Một lý thuyết như thế phải được dựa trên cơ sở nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc thiết lập mức lương cho khu vực tư nhân. Một trong những phương thức làm mức lương gia tăng một cách hiệu quả mà không khiến cho sự đầu tư tư nhân ở trong và ngoài nước chán nản là cho phép nhà nước sử dụng quỹ tiêu dùng xã hội để tạo nên sự phong phú về lợi ích cho dân cư lao động. Vấn đề xây dựng tương quan về tiền lương giữa khu vực tư nhân và khu vực công cũng như vai trò của người công nhân trong quá trình ấy, nếu không được giải quyết về mặt lý luận và thực tiễn, có thể là “gót chân Asin” của bất cứ nỗ lực cải biến xã hội chủ nghĩa nào.         

Một lĩnh vực khác đòi hỏi phải xem xét lại kinh tế học mácxít có liên quan đến khái niệm của V.I.Lênin về chủ nghĩa đế quốc. Cái mà ông gọi là chủ nghĩa đế quốc kiểu mới có đặc điểm là vai trò của xuất khẩu tư bản ngày càng tăng, trái với ưu thế của buôn bán hàng hoá dưới chủ nghĩa đế quốc kiểu cũ. Sự xuất hiện của tư bản tài chính từ sự kết hợp của tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp đã làm cho việc tích luỹ tư bản với số lượng lớn để đầu tư vào các thuộc địa và các nước khác trở nên dễ dàng hơn. Lịch sử thế kỷ XX đã chứng thực một cách rõ ràng sự phân tích của V.I.Lênin về vai trò của xuất khẩu tư bản trong việc tạo nên sự thống trị về kinh tế và chính trị đối với các vùng đất khác, cũng như việc chủ nghĩa đế quốc sử dụng sức mạnh quân sự để buộc người ta phải mở cửa những lĩnh vực mới cho đầu tư tư bản.

Ngày nay, cái mà chúng ta gọi là toàn cầu hoá tư bản chính là sự tiếp nối của sự bóc lột đế quốc chủ nghĩa với trình độ cao hơn về chất. Nó trở nên khả dĩ chính là nhờ những phát triển về công nghệ trong việc xử lý thông tin, trong chuyển nhượng và vận chuyển hàng hoá. Sự xâm lược về quân sự, chính trị và kinh tế của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản ở nhiều vùng trên toàn cầu - được trợ giúp bởi sự thống trị của họ đối với những định chế quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Tổ chức thương mại thế giới - không hề bớt đi. Tuy nhiên, sự xuất khẩu tư bản từ các nước tư bản sang các nước xã hội chủ nghĩa, như Trung Quốc, Việt Nam và Cu Ba, không thể được xem là hoạt động kiểu đế quốc chủ nghĩa, cho dù những nước tư bản này có theo đuổi những chính sách đế quốc ở một nơi nào đó. Mặc dù sự đầu tư tư bản dưới bất cứ hình thức nào đều bao hàm sự bóc lột lao động bằng cách chiếm đoạt giá trị thặng dư, song các Đảng Cộng sản đang cầm quyền ở những nước ấy lại định hướng sự đầu tư của tư bản cả trong và ngoài nước vào những ngành kinh tế cần phát triển cân bằng và đánh giá được những trở ngại trên lộ trình đầu tư có thể dẫn đến sự tăng trưởng lệch lạc. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tìm kiếm sự đầu tư vì sự tăng trưởng tối đa, chứ không phải vì lợi nhuận tối đa. Tự thân sự xuất khẩu tư bản không thể là tiêu chuẩn để áp dụng thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc. Người ta phải xem xét một cách kỹ lưỡng những điều kiện mà ở đó, kiểu đầu tư ấy diễn ra.

Hiện nay, những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước ở các nước định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đang xuất khẩu tư bản sang nhiều nước khác để thiết lập hoạt động sản xuất, điều cho phép họ nâng cao hoạt động kinh tế cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới đang toàn cầu hoá. Chẳng hạn, một công ty thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc đã xem xét việc mua lại một tập đoàn khai thác mỏ lớn nhất Canađa nhằm cung cấp quặng cho nền công nghiệp Trung Quốc. Trong tình huống như vậy, một công ty thuộc sở hữu nhà nước ở một nước xã hội chủ nghĩa sẽ bòn rút (extract) giá trị thặng dư từ những người công nhân nước ngoài. Vậy, làm thế nào mà một hoạt động ở nước ngoài như vậy vẫn vừa duy trì được tính cạnh tranh lại vừa có thể không dính dáng đến những thực tế chống lao động là cái làm nên đặc điểm của những tập đoàn ở các nước tư bản chủ nghĩa? Kinh tế học mácxít phải giải đáp được những câu hỏi kiểu này. Sự bòn rút giá trị thặng dư của những người công nhân nước ngoài bởi một nhà nước xã hội chủ nghĩa không nên bị xem như sự vi phạm chủ nghĩa quốc tế vô sản nếu như về lâu dài, nó góp phần tăng cường sức mạnh của chủ nghĩa xã hội. Tuy thế, nguyên tắc mácxít về chủ nghĩa quốc tế vô sản không thể bị bỏ qua trong việc định hướng quan hệ quản lý lao động ở những doanh nghiệp nước ngoài như vậy. Thất bại trong việc này có thể gây tổn hại to lớn đối với tình đoàn kết công nhân quốc tế. Vấn đề này không khác lắm với vấn đề mà các công ty sở hữu nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa phải đối mặt, đó là phải cạnh tranh với các công ty tư nhân khi chúng che giấu lợi nhuận để tránh bị đánh thuế, để đánh lừa người công nhân, vi phạm những điều kiện an toàn lao động và sức khoẻ, v.v..

Trong bài viết này, tôi không cố gắng giải quyết tất cả những vấn đề mới của toàn cầu hoá đặt ra cho học thuyết kinh tế mácxít, mà chỉ muốn phác họa một vài lĩnh vực cần được quan tâm. Điều rõ ràng là, toàn cầu hoá đang làm hiện diện trước chúng ta một sự nghiệp lý luận vô cùng khó khăn trong giai đoạn trước mắt. Sự ưu tiên mà chúng ta dành cho sự nghiệp này và những suy nghĩ thấu đáo mà chúng ta dành cho việc duy trì sức sống của di sản trí tuệ mácxít sẽ có tác động to lớn đối với sự tiến bộ của loài người.

Người dịch

KHUẤT DUY DŨNG

(Viện Triết học)

     

 

(*) Areas of Marxist Political Economy and Historical Materialism affected by globalization – Báo cáo này được trình bày tại Diễn đàn lần thứ nhất của Hội kinh tế học chính trị thế giới, được tổ chức tại Thượng Hải, Trung Quốc từ ngày 01 – 04 tháng 4 năm 2006.

(**) Tổng biên tập tạp chí nghiên cứu mácxít “Tự nhiên, Xã hội và tư tưởng”.

(1) Economic Manuscript of 1861 – 1863 [Conclusion], in Vol. 34 of Karl Marx, Frederick Engels: Collected Works, 442 - 52. New York, International Publishers, 1994.

Đã xem: 708
Thời gian đăng: Thứ hai - 16/11/2015 03:25
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất