QC Shop

Một vài suy nghĩ về cấu trúc của các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng

Nguyễn Hữu Khiển(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 11 (162), tháng 11 - 2004

Trong triết học mácxít, kiến trúc thượng tầng được nhận thức là tổng hợp các yếu tố thuộc quan điểm, tư tưởng, lý luận và những thiết chế xã hội tương ứng. Tuy nhiên, trong hầu hết các tài liệu nghiên cứu triết học cũng như trong các tài liệu giảng dạy, các yếu tố này hoặc là chưa được phân tích một cách cặn kẽ và thấu đáo, hoặc là mới chỉ được trình bày một cách tóm tắt.

Qua trao đổi, thảo luận với một số sinh viên đại học, kể cả những học viên cao học, không ít người (nếu không nói là hầu hết) còn khá lúng túng về thực chất của cái gọi là "tổng hợp các quan hệ" hoặc "các thiết chế tương ứng" của kiến trúc thượng tầng. Trong khi đó, do thời lượng bài giảng có hạn cũng như khả năng trình bày khác nhau của các giảng viên, chúng ta chưa có đủ cơ sở để khẳng định rằng vấn đề này đã được nhận thức đúng và thống nhất hay chưa. 

Học tập và vận dụng các tri thức vào hoạt động thực tiễn là những quá trình thống nhất, bổ trợ cho nhau. Tri thức, lý luận… là các yếu tố cần thiết cho hoạt động thực tiễn, cho cuộc sống; việc học tập, nghiên cứu lại cần tới những tài liệu khoa học. Xuất phát từ suy nghĩ trên, chúng tôi đưa ra một số ý kiến góp phần làm rõ hơn về vấn đề cấu trúc của các yếu tố trong kiến trúc thượng tầng hay mối quan hệ giữa các hình thái ý thức xã hội với những thiết chế tương ứng của chúng.

Trước hết, kiến trúc thượng tầng có phải chỉ thuần tuý là tư tưởng? Theo chúng tôi, thực chất của vấn đề không phải là như vậy, vì:

Nếu thuần tuý là tư tưởng, kiến trúc thượng tầng sẽ thuộc phạm trù ý thức mà tương quan về đẳng cấp là phạm trù vật chất - thực tại khách quan.

Trong khi truy tìm động lực của sự vận động xã hội, Mác đã phát hiện mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất vật chất, tạo ra của cải xã hội là những yếu tố quyết định - là tính thứ nhất. Sản phẩm của sản xuất xã hội trở thành nguồn sống quyết định sự tồn tại và phát triển của con người. Chính chúng là tiêu điểm của nhu cầu, trở thành động lực cơ bản nhất thúc đẩy hoạt động của con người và xã hội loài người. Đương nhiên, các sản phẩm đó chỉ có thể là kết quả do các hoạt động sản xuất mang lại. Để tiến hành sản xuất, con người chẳng những phải quan hệ với tự nhiên mà còn phải quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động và kết quả lao động và do vậy, sản xuất luôn mang tính chất xã hội. Các quan hệ đó, theo triết học Mác, là những quan hệ kinh tế - vật chất và chúng tác động, chi phối các quan hệ, các hoạt động tinh thần của xã hội.

Các quan hệ kinh tế có cấu trúc của nó và đời sống tinh thần (quan điểm chính trị, pháp quyền, ý niệm về đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo…) cũng có những cấu trúc xã hội cụ thể tương ứng. Các cấu trúc đó vừa có quan hệ nguồn gốc, vừa có quan hệ như công cụ bảo vệ, duy trì các yếu tố tinh thần trong kiến trúc thượng tầng.

Trở lại với định nghĩa trên về kiến trúc thượng tầng, theo chúng tôi, cần lưu ý một số điểm khi nhận thức “các thiết chế tương ứng”.

Khi vận dụng phương pháp trừu tượng hoá để nghiên cứu, phân tích vấn đề ý thức xã hội, chúng ta thấy rằng, mỗi hình thái ý thức phản ánh một quan hệ xã hội cơ bản nhất định. Chẳng hạn, khi phân tích ý thức chính trị, thiết chế xã hội tương ứng với nó là nhà nước (chữ "tương ứng" trong quan niệm có tính giáo khoa, theo chúng tôi, thực chất là mối liên hệ có tính nhân quả từ nhận thức về xã hội và hoạt động xã hội của con người trong sản xuất và trong sinh hoạt tinh thần).

Ý thức chính trị là một trong những hình thái cơ bản của ý thức xã hội, xuất hiện trong lịch sử cùng với sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. Nó phản ánh các quan hệ xã hội, trước hết là quan hệ kinh tế và thái độ của các giai cấp đối với quyền lực của nhà nước. Nói cách khác, ý thức chính trị, một mặt, phản ánh nhu cầu, nguyện vọng chung của các cá nhân, cộng đồng và tổ chức trong xã hội; mặt khác, nó liên quan trực tiếp đến vấn đề quyền lực mà trung tâm là nhà nước – bộ máy tổ chức đặc biệt của xã hội. Ý thức chính trị bao gồm ý thức chính trị thực tiễn thông thường (mang tính tâm lý và kinh nghiệm) và hệ tư tưởng chính trị (các quan điểm chính trị tồn tại dưới dạng những học thuyết chính trị – xã hội). Để chỉ đạo, cụ thể hoá các hoạt động của xã hội, các cá nhân có vị thế chính trị, các tổ chức chính trị còn hình thành các ý tưởng chính trị nhất định. Chúng có thể được phát triển, kiểm nghiệm và trở thành tư tưởng có tính định hướng chỉ đạo hành vi xã hội lâu dài, hoặc chỉ đạo tức thời một tình huống chính trị cụ thể. Những ý tưởng chính trị đó chẳng những mang dấu ấn của ý thức xã hội mà còn phản ánh sự đa dạng của ý thức chính trị. Vậy, chúng có thuộc hình thái ý thức chính trị hay không cũng là một vấn đề cần được phân tích rõ ràng và nhận thức một cách đúng đắn.

Toàn bộ những hoạt động của nhà nước với tính cách một tổ chức đều mang tính chính trị. Nhà nước sinh ra không phải để sản xuất hoặc làm kinh tế. Thậm chí, các hoạt động sản xuất của đội ngũ công nhân viên chức thuộc các doanh nghiệp nhà nước, ngoài việc hoàn thành mục tiêu trọng tâm là kinh tế, cũng hướng đến thực hiện mục tiêu chính trị, vì “sứ mệnh chính trị" của nhà nước. (Đây cũng là một trong những tiêu chí để phân biệt tổ chức chính trị với đơn vị kinh tế. Trong tương lai, một số cơ quan trong cấu trúc của nhà nước như hiện nay sẽ không còn những xí nghiệp, công ty và tổng công ty thuộc "biên chế" tổ chức hay nhân sự của mình nữa).

Ngay từ đầu, nhà nước đã là một thiết chế chính trị, hơn thế, còn là thiết chế chính trị xuất hiện sớm nhất. Vì thế, nếu chúng ta coi thiết chế tương ứng của hình thái ý thức chính trị là nhà nước (hay chỉ là nhà nước) thì sẽ không đầy đủ. Thực ra, trong giai đoạn sơ khai của thời kỳ cổ đại, khi mà các quan hệ xã hội, trước hết là quan hệ lợi ích theo nhóm hoặc giai tầng còn chưa chín muồi; đồng thời, khả năng nhận thức của con người cũng chưa phát triển đến trình độ cao và mang tính tự giác chính trị, nhà nước được coi như là thiết chế chính trị duy nhất.

Sự xung đột giữa các giai cấp ngày càng trở nên gay gắt, nhận thức chính trị của con người ngày càng chín muồi và cuộc đấu tranh cho quyền lợi chính trị kéo theo nhu cầu liên kết các cá thể, nhóm người, cộng đồng trong một tổ chức nhất định… dẫn đến sự xuất hiện của các nhóm phái, lực lượng xã hội, trong đó có tổ chức chính trị đặc biệt là các đảng chính trị. Cùng với vai trò của đảng chính trị, các tổ chức của những người lao động, của phụ nữ, thanh niên… hợp thành những chủ thể chi phối nhà nước, làm cho nhà nước không còn và không thể là thiết chế chính trị duy nhất nữa. Trong điều kiện như vậy, quyền lực chính trị không phải thuộc về một mà nhiều chủ thể, nó không phải là đơn nhất mà là một cấu trúc.

Những biến động xã hội như đã nói trên dẫn tới một số thay đổi mới trong quan hệ giữa hình thái ý thức xã hội và các thiết chế tương ứng. Cụ thể là :

Thứ nhất, một hình thái ý thức xã hội nhất định có thể có nhiều thiết chế tương ứng. Chẳng hạn, ngoài nhà nước, thiết chế chính trị tương ứng của hình thái ý thức chính trị còn là đảng chính trị cầm quyền.

Thứ hai, một thiết chế có thể là khách thể (tương ứng) của một số hình thái. Chẳng hạn, nhà nước, ngoài vai trò như thiết chế tương ứng của hình thái ý thức chính trị, còn là chủ thể của các hệ thống pháp luật, là thiết chế có quan hệ trực tiếp với hình thái ý thức pháp quyền.

Ý thức pháp quyền không chỉ là sự phản ánh quan hệ xã hội dưới hình thức các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân trước xã hội, mà nó còn là ý chí của một giai cấp, là quan hệ giữa tuân thủ và phục tùng, giữa chấp hành và ra lệnh. Nhưng, tất cả những quan hệ đó không thể được biểu hiện nếu bỏ qua nhà nước với tính cách là một thiết chế, một tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội. Pháp quyền là một sự biểu hiện, một sắc thái đặc biệt của chính trị. Bản thân pháp quyền đã là chính trị, xét về mặt nguồn gốc và chức năng xã hội của nó. Nhưng, xét về phương thức biểu hiện, pháp quyền khác với hình thái chính trị ở chỗ, nó có tính định lượng cũng như tính xác định cao, khác hẳn với “định tính" của các tư tưởng, quan điểm chính trị.

Ngày nay, khi một xã hội cụ thể với tư cách một quốc gia chủ trương xây dựng, thiết lập nhà nước pháp quyền thì vai trò của pháp luật càng quan trọng và trở nên đa dạng hơn. Nó không chỉ là công cụ của nhà nước, mà còn là yếu tố chi phối, quy định hoạt động của các tổ chức nhà nưóc, các cá nhân có chức trách và bổn phận thực thi công vụ nhà nước. Trong một chế độ xã hội, việc người dân được phép làm tất cả những gì pháp luật không cấm, còn nhà nước (cụ thể là các tổ chức nhà nước như chính phủ, cơ quan hành chính, cơ quan lập pháp, toà án…) hoạt động theo quy định của hiến pháp và pháp luật (pháp luật quy định quyền họ được làm và trách nhiệm họ phải thực thi) chính là "tiêu chí" để phân biệt nhà nước thực hành, vận dụng phương thức quản lý xã hội bằng pháp quyền hay theo lối chuyên chế. Trong chế độ chuyên chế, việc ông vua làm điều gì đó sẽ không bao giờ bị coi là "vượt qua quyền hạn". Trái lại, trong nhà nước pháp quyền dân chủ, ai cũng chỉ có những quyền trong giới hạn pháp luật thừa nhận và cho phép, nếu vượt ra khỏi giới hạn đó sẽ bị lên án là vượt quyền (hay lấn quyền, lạm  quyền) có nghĩa là vi phạm pháp luật.

Tương tự như vậy, có thể xác định mối quan hệ giữa một hình thái ý thức xã hội khác với những thiết chế tương ứng của nó. Chẳng hạn, thiết chế tương ứng của hình thái ý thức tôn giáo là các giáo hội (giáo hội Thiên Chúa giáo, Tin lành, giáo hội Phật giáo, các tổ chức của người Hồi giáo…).

Hiện nay, việc xác định thiết chế của tín ngưỡng dân gian, ví dụ như ở Việt Nam, vẫn là một vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng, giả định rằng tín ngưỡng dân gian là một hình thái biểu hiện của tôn giáo thì thiết chế tương ứng của nó chắc chắn là các gia đình, dòng họ hoặc các tổ chức làng xã (tất nhiên, không thể bao gồm các tổ chức hành chính rộng hơn như huyện, tỉnh).

Còn hình thái ý thức đạo đức có quan hệ với thiết chế tương ứng nào? Theo chúng tôi, đây là hình thái rất đặc biệt, xét từ vai trò xã hội của nó. Như chúng ta đã thấy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội mà một trong những biểu hiện của nó là sự điều chỉnh hành vi của các cá nhân dưới tác động mạnh mẽ của dư luận xã hội. Tuy nhiên, dư luận xã hội có nhiều cấp độ khác nhau. Nhìn một cách phổ quát, nó tham gia điều chỉnh hành vi đạo đức của các cá nhân thông qua những con người cụ thể với các mối quan hệ, không gian và thời gian nhất định. Dư luận xã hội hình thành theo các nhóm cộng đồng. Về mặt cấu trúc, tuỳ theo quan hệ xã hội mà đạo đức được biểu hiện dưới các hình thái khác nhau, như đạo đức gia đình, đạo đức làng xã, đạo đức công sở,…Vì thế, thái độ, hành vi đạo đức của các cá nhân chịu sự chi phối, đánh giá của những cộng đồng nào là tuỳ thuộc vào mức độ quan hệ của họ với xã hội.

Như vậy, phải chăng các thiết chế tương ứng của đạo đức cũng đa dạng, phong phú và thuận chiều với cấu trúc của những quan hệ xã hội đã tạo nên cấu trúc của hình thái ý thức đạo đức? Theo chúng tôi, đúng là như vậy và chắc chắn khi phân tích hình thái ý thức này, chúng ta có thể tìm ra những thiết chế tương ứng của nó.

 

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia.

 

Đã xem: 393
Thời gian đăng: Thứ bảy - 24/10/2015 04:29
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất