QC Shop

Quan điểm của V.I.Lênin về đạo đức và văn hóa của giai cấp công nhân

TS. Lê Trọng Ân(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 6 (157), tháng 6 - 2004

V.I.Lênin (Nguồn: Internet)

V.I.Lênin (Nguồn: Internet)

 

1. Chúng ta đều biết, khi phê phán quan điểm về chân lý vĩnh cửu trong nhận thức đạo đức của Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, ở châu Âu khi đó, trong các nước tư bản phát triển, đang có sự tồn tại song song của ba học thuyết đạo đức - đó là "đạo đức phong kiến Cơ Đốc giáo", "đạo đức tư sản cận đại" và "đạo đức vô sản của tương lai". Trong số đó, "không có đạo đức nào là chân chính cả, nếu nói theo ý nghĩa tuyệt đối cuối cùng; nhưng tất nhiên, thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích tương lai, tức là đạo đức vô sản, - là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài"(1). Đây là đạo đức mà sau này, các môn đồ hậu duệ của C.Mác, trong đó có V.I.Lênin, gọi là đạo đức cộng sản, đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng.

Hiện thực xã hội để Ph.Ăngghen khái quát thành quan điểm trên là xã hội tư bản chủ nghĩa đã đạt tới hình thái cổ điển ở châu Âu vào nửa sau thế kỷ XIX. Sự phát triển của lịch sử xã hội ở châu Âu và châu Á trong thế kỷ XX, đặc biệt là trong các thập kỷ từ 20 đến 80, đã chứng minh quan điểm ấy của Ph.Ăngghen là hoàn toàn đúng đắn. Xã hội loài người vượt bỏ phương thức sản xuất và xã hội tư bản chủ nghĩa, chôn vùi chủ nghĩa thực dân cũ và mới, xác lập và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa với tư cách giai đoạn đầu của xã hội cộng sản văn minh. Đây là sự chứng minh đầy sức thuyết phục và trên thực tế, hệ tư tưởng chính trị - đạo đức của giai cấp công nhân đã trở thành hình thái tinh thần của hiện thực lịch sử nói trên; và hiện thực lịch sử này chẳng qua cũng chỉ là hình thái hiện thực - vật chất của hệ tư tưởng chính trị - đạo đức của giai cấp công nhân.

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX, trong lịch sử loài người đã xuất hiện những sự kiện dường như bác bỏ quan điểm nói trên của Ph.Ăngghen - đó là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, là hành vi của giai cấp tư sản mà B.Clintơn gọi là "mở rộng và tăng cường cộng đồng các nền dân chủ của thế giới dựa trên cơ sở kinh tế thị trường"(2), nhưng thực chất là mở rộng và tăng cường dân chủ tư sản dựa trên cơ sở kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta có thể coi những sự kiện này là những bước thụt lùi tương đối của sự phát triển lịch sử. Đó là điều thông thường và dễ hiểu, bởi sự phát triển của sự vật, như chính Ph.Ăngghen đã chỉ ra, không phải là con đường bằng phẳng, liên tục đi lên, mà là con đường dích dắc, bao hàm cả những bước thụt lùi tương đối. Với đạo đức cũng như vậy, "từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau"(3). Do vậy, có thể nói, chủ nghĩa Mác nói chung, quan điểm nói trên của Ph.Ăngghen nói riêng, vẫn hoàn toàn đúng. Những người cộng sản chân chính vẫn tin và theo quan điểm ấy. Ngay cả những đầu óc sáng suốt và không chịu ảnh hưởng thành kiến giai cấp của giai cấp tư sản, như Giắccơ Đêriđa cũng công khai thừa nhận rằng, "tất cả mọi người trên trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa của Mác và chủ nghĩa Mác với một mức độ nhất định"(4).

Chính vì vậy, trong thời gian khoảng trên dưới một thế kỷ nay, giai cấp công nhân, bằng thực tiễn cách mạng của mình, đã phát triển hệ tư tưởng chính trị - đạo đức của mình, làm cho đạo đức cộng sản trở thành nhân tố chủ quan quyết định mọi thắng lợi của thực tiễn cách mạng ấy. Còn các nhà khoa học mácxít thì không ngừng bảo vệ, phát triển và hoàn thiện lý luận về đạo đức ấy. Và, V.I.Lênin là một tấm gương về sự kiên định và nhất quán trong việc làm này. Đó là vấn đề mà chúng tôi muốn nói đến trong bài viết này.

2. Coi đạo đức cộng sản như là yếu tố hợp thành văn hoá tinh thần của giai cấp công nhân, V.I.Lênin đã khẳng định văn hoá và đạo đức này không phải là cái gì đó nảy sinh từ hư vô, chúng có nguồn gốc khách quanchủ quan xác định.

Về nguồn gốc khách quan, V.I.Lênin nói: "Đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản mà ra". Điều đó có nghĩa là, thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đã sản sinh ra một nội dung khách quan của đạo đức cộng sản. Và,"cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản"(5). Do vậy, những nguyên tắc của đạo đức này (trung thành với lý tưởng cộng sản, lao động trung thực và tận tâm vì chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa tập thể, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản) đều là do và vì thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân. Giai cấp này luôn nhận thức thực tiễn của mình ở tầm lý luận, khoa học để xây dựng hệ tư tưởng chính trị - đạo đức của mình, rồi lại dùng hệ tư tưởng này chỉ đạo thực tiễn ấy để tạo nên "bước nhảy sinh mệnh" của chính mình.

Về nguồn gốc chủ quan, V.I.Lênin chỉ rõ, nội dung khách quan nói trên tất yếu phải được biểu hiện dưới hình thức chủ quan do những người tham gia vào thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân tạo ra. Đó là tư tưởng và hành vi đạo đức của họ, tư tưởng và hành vi đạo đức do chính họ tạo nên. Họ tạo ra tư tưởng và hành vi đạo đức này theo cách, như V.I.Lênin đã nói với các đoàn viên thanh niên cộng sản, một mặt, "khi tổ chức nhau lại, khi tập hợp nhau lại, khi đấu tranh" thì cần phải "tự giáo dục mình và đồng thời cũng giáo dục cho tất cả những ai đã công nhận họ là người dẫn đường chỉ lối, để trở thành những người cộng sản"; mặt khác, "tự rèn luyện mình trong hoàn cảnh này để trở thành những người cộng sản (chúng tôi nhấn mạnh - L.T.A.)"(6). Về thực chất, khi đồng thời thực hiện hai cách này, giai cấp công nhân đã thực hiện một quá trình giáo dục đạo đức cộng sản thống nhất giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức, giữa phương tiện thông tin và phương thức học tập và do vậy, làm cho những người tham gia vào thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân có kỹ năng đạo đức cộng sản. Trên thực tế, những người lao động và chiến đấu giỏi là những  người có kỹ năng đạo đức cộng sản điêu luyện. Giáo dục đạo đức cộng sản chỉ có hiệu quả khi nó được thực hiện đồng thời theo hai cách trên đây.

Sinh thành từ thực tiễn của giai cấp công nhân, được dùng để điều chỉnh hoạt động xã hội nói chung, hoạt động thực tiễn nói riêng, đạo đức cộng sản có sự tác động cách mạng đến sự phát triển của xã hội, "giúp xã hội loài người tiến lên cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động"(7). Chủ nghĩa xã hội hiện thực, dù có nhiều khiếm khuyết và thất bại tạm thời như hiện nay, vẫn là một bước tiến mà các giai cấp lao động, bị áp bức bóc lột luôn ước mơ và cố gắng đấu tranh để hiện thực hoá. Theo nghĩa này, V.I.Lênin định nghĩa đạo đức cộng sản "là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản"(8). Do có nội hàm này mà đạo đức cộng sản, theo ông, "phải phục tùng lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản".

Như vậy, có thể nói, V.I.Lênin đã chỉ rõ nội dung, giá trị của đạo đức cộng sản là do thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân mang lại. Nội dung khách quan của đạo đức cộng sản được biểu hiện dưới hình thức chủ quan là ý thức và hành vi đạo đức của những người tham gia vào hoạt động thực tiễn cách mạng, được tạo nên bằng giáo dục và rèn luyện thường xuyên. Theo đó, đạo đức cộng sản sinh thành, vận hành, phát triển và hoàn thiện cùng với sự sinh thành, vận hành, phát triển và hoàn thiện của cuộc cách mạng của giai cấp công nhân. Mỗi thành công hay thất bại của cuộc cách mạng này đều đem lại sự thăng trầm cho đạo đức cộng sản. Thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản do giai cấp công nhân thực hiện là tất yếu. Do vậy, đạo đức cộng sản cũng tất yếu hoàn thiện, tồn tại một cách phổ biến trong đời sống đạo đức của loài người.

Đạo đức cộng sản là yếu tố hợp thành văn hoá tinh thần của giai cấp công nhân, mà "văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức mà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu"(9). Do vậy, theo V.I.Lênin, "sự phát triển hợp quy luật" của đạo đức cộng sản là ở chỗ, nó là quá trình kế thừa và phát triển, vừa kế thừa vừa phát triển, kế thừa để phát triển toàn bộ các giá trị đạo đức của nhân loại. Vậy giai cấp công nhân kế thừa cái gì? và phát triển cái ấy như thế nào?

"Mỗi nền văn hoá dân tộc đều có những thành phần, thậm chí không phát triển, của một nền văn hoá dân chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mỗi dân tộc đều có quần chúng lao động và bị bóc lột mà điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa"(10). Và, trong xã hội có đối kháng giai cấp, hệ tư tưởng ấy là tư tưởng của các giai cấp lao động, bị bóc lột, tồn tại bằng phương thức lao động, tức là của các giai cấp nô lệ, nông dân và công nhân. Ý thức đạo đức của các giai cấp này là yếu tố hợp thành hệ tư tưởng dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Phương thức tồn tại bằng lao động làm cho đạo đức của các giai cấp này tất nhiên phải có giá trị bình đẳng, cộng đồng và nhân đạo. Khi phát triển đạo đức của mình, giai cấp công nhân, như V.I.Lênin chỉ rõ, chủ trương chắt lọc "chỉ lấy những thành phần dân chủ và xã hội chủ nghĩa của mỗi nền văn hoá dân tộc", "chỉtuyệt đối lấy những thành phần đó để đối lập với nền văn hoá tư sản, với chủ nghĩa dân tộc tư sản của mỗi dân tộc"(11), tức là chỉ và tuyệt đối giữ lại các giá trị bình đẳng, cộng đồng và nhân đạo để làm nên đạo đức của riêng mình.

Như vậy, theo V.I.Lênin, cái mà văn hoá và đạo đức của giai cấp công nhân kế thừa chỉ là các giá trị bình đẳng, cộng đồng và nhân đạo mà những người lao động đã sáng tạo ra. Sự kế thừa này không phải do ý muốn chủ quan của người công nhân, mà do điều kiện sinh sống của họ quyết định. Điều đó giải thích việc giai cấp công nhân có thể và cần phải liên minh lâu dài, chiến lược với giai cấp nông dân, với những người lao động khác, trong đó có tầng lớp trí thức; giai cấp công nhân có năng lực cảm thông, chia sẻ và giải phóng cho tất cả những người lao động đang bị áp bức, bóc lột trên phạm vi toàn thế giới.

Giá trị đạo đức của giai cấp lao động tồn tại trong mọi nền văn hoá của các dân tộc. Để kế thừa nó, giai cấp công nhân phải tiếp cận mọi nền văn hoá dân tộc, tiếp nhận ở các nền văn hoá này tất cả những giá trị cao đẹp. Nói về điều này, V.I.Lênin khẳng định "Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra", chắt lọc trong đó những giá trị cao đẹp, những cái cần thiết "để đạt được một nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa chân chính"(12). Cái cần thiết mà V.I.Lênin nói ở đây là các giá trị bình đẳng, cộng đồng và nhân đạo mà những người lao động chân chính đã sáng tạo ra.

Giai cấp công nhân phát triển những giá trị đạo đức cần thiết nói trên bằng cách dùng chúng để khẳng định lợi ích của mình và lợi ích của nhân dân lao động. Cách này được sử dụng phổ biến trong xã hội xã hội chủ nghĩa, bởi: 1) Lợi ích của giai cấp công nhân và giai cấp nhân dân lao động về cơ bản là thống nhất với nhau; 2) Giai cấp công nhân và nhân dân lao động có sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và hành động; 3) Những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội và tinh thần của xã hội đủ đảm bảo để giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện được điều này. Những cái này mới là điều kiện để các giá trị bình đẳng, cộng đồng, nhân đạo của những người lao động chân chính trở thành những giá trị phổ biến.

Để các giá trị ấy trở nên phổ biến trong đời sống xã hội thì giai cấp công nhân, mà Đảng và Nhà nước của nó là đại biểu, phải thực hiện một sự nghiệp to lớn trên phạm vi toàn xã hội nhằm giáo dục, rèn luyện các giá trị ấy cho mọi thành viên xã hội và trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội. Đương nhiên, sự nghiệp giáo dục và rèn luyện này cần phải được tiến hành song song, cộng sinh và cộng lực với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân. Nếu như sự nghiệp này tái sản sinh ra các giá trị bình đẳng, cộng đồng, nhân đạo của những người lao động chân chính trong điều kiện mới, bằng phương tiện mới và bởi chủ thể mới, thì thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân cũng sản sinh ra các giá trị bình đẳng, cộng đồng, nhân đạo của người công nhân trong điều kiện cách mạng vô sản, bằng hành động cách mạng và bởi giai cấp công nhân tiên tiến. Do vậy, cả người công nhân lẫn những người lao động chân chính đều là đồng sở hữu, đồng chủ thể của các giá trị bình đẳng, cộng đồng và nhân đạo trong xã hội xã hội chủ nghĩa và cùng được hưởng lợi do các giá trị ấy mang lại. Đó chính là văn hoá đạo đức của giai cấp công nhân và là yếu tố hợp thành cái mà V.I.Lênin gọi là văn hoá vô sản.

3. Trung thành với tư tưởng của V.I.Lênin, giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang xây dựng nền văn hoá và đạo đức tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực chất của nền văn hoá và đạo đức này là văn hoá và đạo đức của dân tộc xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn hoá và đạo đức tiên tiến mà chúng ta xây dựng phải là văn hoá và đạo đức của giai cấp công nhân. Văn hoá và đạo đức đậm đà bản sắc dân tộc không thể là cái gì khác ngoài sự kế thừa và phát triển bản sắc văn hoá và đạo đức của dân tộc Việt Nam mà ông cha ta đã sáng tạo ra và sử dụng một cách thành công trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Do vậy, văn hoá và đạo đức tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tất nhiên phải là văn hoá và đạo đức vừa mang bản chất công nhân, vừa mang bản sắc dân tộc Việt Nam. Và, như Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Đảng ta đã chỉ ra và chúng ta đang thực hiện, là văn hoá và đạo đức ấy còn tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới. Đương nhiên, những tinh hoa này là và chỉ là thành phần dân chủ và chủ nghĩa xã hội mà V.I.Lênin đã chỉ ra. Sự tiếp thu ấy làm cho nền văn hoá và đạo đức mà chúng ta đang xây dựng có tầm vóc thời đại, đủ khả năng hội nhập với văn hoá và đạo đức của thế giới.

Việc chúng ta xây dựng nền văn hoá và đạo đức tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thực hiện trong bối cảnh xã hội đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động giao lưu kinh tế và văn hoá với thế giới, quốc tế hoá đời sống xã hội hiện đại. Hoàn cảnh ấy tạo cho chúng ta nhiều thuận lợi và cơ hội, nhưng cũng gây ra cho chúng ta không ít khó khăn. Đảng, Nhà nước và cả dân tộc ta phải biết lợi dụng và phát huy mặt tích cực, hạn chế đến mức tối thiểu mặt tiêu cực của hoàn cảnh ấy để đạt mục đích của mình. Thực tiễn của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay cho phép chúng ta tin tưởng rằng, Đảng, Nhà nước và cả dân tộc ta đã, đang và sẽ có đủ trí tuệ và bản lĩnh để làm việc đó, để đời sống văn hoá và đạo đức của dân tộc ta ngày càng tiên tiên và đậm đà bản sắc dân tộc. Chúng ta cũng tin tưởng rằng, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng là cơ sở vững chắc của trí tuệ và bản lĩnh ấy.

 


(*) Tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh.

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.136.

(2) Dẫn theo: S.Robert McNamara. Nhìn lại quá khứ tấm thảm kịch và bài học về Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.324.

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.135.

(4) Giắccơ Đêriđa. Những bóng ma của Mác. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.190 - 191.

(5) V.I.Lênin. Toàn tập, t.41. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.367, 372.

(6) V.I.Lênin. Sđd., t.41, tr.366, 372.

(7) V.I.Lênin. Sđd., t.41, tr.371.

(8) V.I.Lênin. Sđd., t.41, tr.369.

(9) V.I.Lênin. Sđd., t.41, tr.361.

(10) V.I.Lênin. Sđd., t.24, tr.154.

(11) V.I.Lênin. Sđd., t.24, tr.154.

(12) V.I.Lênin. Sđd., t.41, tr.362, 359.

Đã xem: 2400
Thời gian đăng: Thứ tư - 17/06/2015 04:31
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất