QC Shop

Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

TS. Thái Hữu Tuấn(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3 (154), tháng 3 - 2004

Việc thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của đất nước được coi như một sự sáng tạo, một nhân tố mới trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Thực ra, vấn đề này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện, đề cập và vận dụng từ rất sớm. Nó thực sự là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của một chỉnh thể thống nhất những tư tưởng kinh tế của Người.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có thể khác với Liên Xô. Người viết: “Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) như Liên Xô. Có nước thì phải kinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam ta…”(1). Theo cách hiểu của chúng tôi, “chế độ dân chủ mới“ có thể là giai đoạn lịch sử tương ứng với khái niệm “thơi kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” mà ta đang dùng hiện nay. Đáng tiếc là, trong khi còn chưa hội đủ những điều kiện cần thiết, nhất là về phương diện sức sản xuất của xã hội, các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam… đã nôn nóng, vội vã kết thúc sớm thời kỳ “dân chủ mới“ để nhanh chóng trở thành những nước xã hội chủ nghĩa hoàn thiện và phát triển.

Để đi lên chủ nghĩa xã hội, nước ta cần phải trải qua giai đoạn dân chủ mới, bởi vì “… đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (2). Chính điểm xuất phát thấp này đã qui định tính chất phức tạp của kết cấu kinh tế – xã hội và sự tồn tại đồng thời của các thành phần kinh tế khác nhau. Hồ Chí Minh đã nhìn nhận và chỉ ra các loại hình kinh tế, các hình thức sở hữu khác biệt, nhưng được cố kết lại thành một chỉnh thể kinh tế – xã hội quá độ trong quá trình vận động. Đặc biệt, khi sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác nhau vẫn còn là một tất yếu khách quan và có vai trò nhất định đối với sự phát triển của nền kinh tế thì cần phải tiếp tục sử dụng, phát triển chúng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Người cho rằng: “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:

A - Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).

B - Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội).

C - Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).

D - Tư bản của tư nhân.

E - Tư bản của nhà nước (…).

Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả, cho  nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”(3).

Năm thành phần kinh tế nêu trên tồn tại khách quan trong suốt thời kỳ quá độ. Do đó, chúng ta cần phải sử dụng chúng một cách triệt để nhằm phát triển nền sản xuất của xã hội, mà không sợ khuynh hướng phát triển tự phát theo chủ nghĩa tư bản của các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần có những ưu tiên đúng  mức đối với thành phần kinh tế quốc doanh để nó phát triển và trở thành thành phần kinh tế chủ đạo, đủ sức hướng dẫn các thành phần kinh tế khác vận động và  phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế quốc doanh cũng nằm trong quá trình vận động theo các tầng nấc từ thấp đến cao, tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và qui mô xã hội hóa của nền sản xuất xã hội.

Trong rất nhiều bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến việc thành lập các tổ chức hợp tác xã từ trình độ thấp đến trình độ cao. Người coi đây là cách thức tổ chức thích hợp với điềâu kiện một nước mà lực lượng lao động xã hội phần lớn là nông dân và hoạt động kinh tế chủ yếâu là sản xuất nông nghiệp như nước ta. Người đã nhấn mạnh rằng: Tất cả đường lối, phương châm chính sách của  Đảng đều nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của nông dân nói riêng. Muốn đạt mục đích đó thì nhất định phải củng cố và phát triển hợp tác xã cho thật tốt, phải không ngừng nâng cao thu nhập của xã viên.

Nói về vai trò và mối quan hệ của các thành phần kinh tế trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chính sách kinh tế của Đảng  và Chính phủ gồm có mấy điều:

1. Công tư đều lợi: Kinh tế quốc doanh là công. Nó là nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới(…).

là những nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thủ công nghệ. Đó cũng là lực lượng cần thiết cho cuộc xây dựng kinh tế nước nhà. Cho nên Chính phủ cần giúp họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phải hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân.

2. Chủ thợ đều lợi: Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột. Nhưng Chính phủ ngăn cấm họ bóc lột công nhân quá tay. Chính phủ phải bảo vệ quyền lợi của công nhân. Đồng thời, vì lợi ích lâu dài, anh chị em thợ cũng để cho chủ được số lợi hợp lý, không yêu cầu quá mức.

Chủ và thợ đều tự giác tự động, tăng gia sản xuất lợi cả đôi bên” (4).

Từ sau năm 1945, đặc biệt là trong thời kỳ khôi phục kinh tế ở miền Bắc, những tư tưởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng ta vận dụng vào thực tiễn một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo. Có thể nói, trong suốt giai đoạn từ năm 1955 đến 1960, miền Bắc thực sự bước vào “thời kỳ vàng son“ của quá trình khôi phục và phát triển kinh tế. Những thành tựu kinh tế thu được trong thời kỳ đó là toàn diện và vững chắc; chất lượng, tốc độ và năng suất lao động đều vượt xa so với trước chiến tranh (năm 1939) và mấy thập kỷ sau đó. Đó chính là thắng lợi của đường lối phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nó trở thành nguồn động lực to lớn thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, tạo cơ sở vật chất làm nền tảng cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Sau thời kỳ khôi phục và cải tạo xã hội chủ nghĩa, cuối tháng 12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Điều cần lưu ý là, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong  hoàn cảnh khách quan đặc biệt: đất nước  còn đang có chiến tranh, ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều khá mạnh khi hâu hết các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa đều áp dụng nguyên bản mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô… Trong điều kiện phức tạp như vậy, để bảo đảm xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động và sáng suốt vạch ra một đường lối phát triển kinh tế độc đáo, sáng tạo và phù hợp với đặc điểm cụ thể của Việt Nam.  Người chỉ rõ: “Trong nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau:

- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân.

- Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.

- Sở hữu của người lao động riêng lẻ.

- Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản.

Mục đích của chế độ ta là xóa bỏ các hình thức không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể “(5).

Đối với việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế, phương châm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là, “Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa.

- Hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Kinh nghiệm qua chứng tỏ rằng hợp tác hóa nông nghiệp ở nước ta, cần phải trải qua hình thức tổ đổi công và hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đó là việc rất cần thiết(…).

- Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộä quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện.

- Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ; mà ra sức hướng dẫn họ hoạt động nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế của Nhà nước. Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác” (6).

Ở đây, Hồ Chí Minh đã thấy rõ các thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan và vẫn có tác dụng quan trọng đối với sản xuất. Song, cũng do hoàn cảnh khách quan quy định, việc cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đưa người lao động vào con đường làm ăn tập thể nhằm xóa bỏ lối sản xuất manh mún, ít hiệu quả và xóa bỏ mọi hình thức bóc lột đối với người lao động... cần phải được tiến hành từng bước. Theo quan điểm của Người, việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó không thể tiến hành một cách nóng vội, mà phải tuân thủ các nguyên tắc: từng bước, vững chắc và hoàn toàn tự nguyện; phải quán triệt phương châm cải tạo để sử dụng và sử dụng để cải tạo. Bất cứ một hình thức tổ chức sản xuất nào cũng phải hướng đến mục tiêu cao nhất là phát triển sản xuất, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm lợi ích của các thành phần kinh tế cũng như của người lao động. Đặc biệt, các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể cần phải chứng tỏ bằng thực tế sự ưu việt, tính hơn hẳn của mình  so với nền kinh tế cá thể. Sự chỉ đạo có tính nguyên tắc đó đã thể hiện tư duy kinh tế sắc bén của Người.

Đáng tiếc là, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, có những lúc  việc cụ thể hóa đường lối  phát triển kinh tế nói chung và sử dụng các thành phần kinh tế nói riêng vẫn còn được tiến hành một cách máy móc, rập khuôn theo kinh nghiệm của nước ngoài. Vì thế, những tư tưởng đúng đắn của Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ chưa được nhận thức đầy đủ và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn. Đặc biệt, từ sau năm 1975, khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất và cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, những tư tưởng chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn, muốn nhanh chóng hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa nhằm mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất… biểu hiện rất rõ qua cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế. Ở miền Nam, việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản công thương nghiệp, nông nghiệp được triển khai ồ ạt và hoàn thành trong một thời gian ngắn; ở miền Bắc, hình thức hợp tác xã nông nghiệp bậc cao được mở rộng về quy mô và số lượng, công nghiệp nặng được ưu tiên tập trung đầu tư… Tuy nhiên, trên thực tế, những “nỗ lực” đó đã không  mang lại kết quả như mong muốn. Có thể khằng định rằng, hậu quả do tư duy kinh tế lỗi thời đó đem lại thật nặng nề: Trong thời kỳ từ 1976 – 1980, thu nhập quốc dân của cả nước chỉ tăng 0,4%, mức tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 0,2%/năm; chế độ tập trung quan liêu bao cấp đã làm xơ cứng nền kinh tế, thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể gần như không còn động lực thúc đẩy, kinh tế tư bản và cá thể sớm bị xóa bỏ hoặc suy thoái. Nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng gay gắt và do vậy, các lĩnh vực khác của đời sống xã hội cũng trở nên hết sức khó khăn.

Đứng trước tình hình đó, tháng 12-1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, tạo nên bước ngoặt mới trong tiến trình vận động, phát triển của nền kinh tế. Trong đó, về phương diện kinh tế, Đảng đã khẳng định chiến lược “thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính qui luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định, hiện nay, nền kinh tế nước ta bao gồm năm thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Như vậy, trong quá trình tìm tòi và thử nghiệm, Đảng ta đã  ngày càng nhận thức rõ hơn và vận dụng tốt hơn những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế, đặc biệt là vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều đó đã tạo ra một động lực vô cùng to lớn giúp chúng ta gặt hái được nhiều thành công trong gần 2 thập kỷ đổi mới.

Ngày nay, nhìn lại những thành tựu to lớn, toàn diện mà Đảng và nhân dân ta đã giành được, chúng ta càng nhớ đến công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và càng tin tưởng sâu sắc vào thắng lợi của con đường cách mạng mà Người đã vạch ra cho dân tộc. Người không chỉ là nhà yêu nước vĩ đại, người anh hùng giải phóng dân tộc, một nhà hiền triết, một danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một nhà kinh tế học xuất sắc.

        

 


(*) Tiến sĩ triết học, Trường Cao đẳng Marketing, TP.Hồ Chí Minh.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 7. Nxb Chính trị  Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 247.

(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.13.

(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.247 – 248.

(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.222.

(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9, tr.588.

(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.9,  tr. 589.

Đã xem: 5311
Thời gian đăng: Thứ tư - 03/06/2015 22:54
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất