QC Shop

Từ một số quan điểm xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh, suy nghĩ về công tác xây dựng, chỉnh đốn đang trong giai đoạn hiện nay

Nguyễn Đình Hòa(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 8 (171), tháng 8 - 2005

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng Đảng, nhằm củng cố và tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng phù hợp với tình hình, nhiệm vụ cách mạng trong mọi giai đoạn. Để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh và thực hiện thắng lợi sứ mệnh người lãnh đạo chân chính của cách mạng Việt Nam, trong cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, chúng ta cần kế thừa và vận dụng sáng tạo những tư tưởng khoa học, sâu sắc của Người về công tác xây dựng Đảng. Trong rất nhiều “việc cần làm ngay”, trước hết, cần đặt trọng tâm vào một số nhiệm vụ ưu tiên - thực hành dân chủ rộng rãi trong sinh hoạt Đảng, đẩy mạnh xây dựng đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.   

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Bảy mươi lăm năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là người lãnh đạo chân chính của cách mạng Việt Nam, một lòng một dạ vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nước ta. Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng luôn đứng ở vị trí tiên phong, dìu dắt, tổ chức và hướng dẫn quần chúng nhân dân thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng. Dù ở những thời điểm khó khăn nhất của đất nước hay trong bối cảnh thế giới có những biến động nhanh chóng và phức tạp, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn luôn trung thành, kiên định với lý tưởng, mục tiêu đã được xác định ngay từ khi mới thành lập, bình tĩnh và sáng suốt chèo lái con thuyền cách mạng vững vàng vượt qua mọi bão táp. Sự trưởng thành cũng như những thắng lợi của Đảng ta trong suốt ba phần tư thế kỷ qua luôn gắn liền với tên tuổi của Hồ Chí Minh. Những tư tưởng của Người về Đảng vẫn còn nguyên giá trị và có ý nghĩa thiết thực đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam hiện nay.

Như chúng ta đã biết, năm 1911, Hồ Chí Minh - khi đó là Nguyễn Tất Thành, xuống tàu ra nước ngoài, bắt đầu cuộc hành trình đầy gian khổ, khó khăn để tìm đường cứu nước. Sau những năm tháng bôn ba tới nhiều nước trên khắp thế giới, Hồ Chí Minh đã gặp và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy ở đó con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân - con đường cách mạng vô sản. Những kinh nghiệm đúc rút từ hoạt động thực tiễn cũng như sự tiếp cận với lý luận cách mạng đã giúp Hồ Chí Minh hình thành và phát triển dần những quan điểm đầu tiên về sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân. Nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin và tổng kết những bài học kinh nghiệm quý báu của các cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Nga, Người đã sớm nhận ra rằng, muốn cách mạng thành công thì “Trước hết phải có đảng cách mệnh, .... Đảng có vững cách mệnh mới thành công...”(1). Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã trực tiếp thực hiện sứ mệnh lịch sử - truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin với tư cách học thuyết khoa học nhất, cách mạng và triệt để nhất của thời đại vào Việt Nam, chuẩn bị về mặt lý luận để tiến tới thành lập một đảng kiểu mới - Đảng của giai cấp vô sản.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3 - 2 - 1930 là một tất yếu lịch sử, là tiền đề cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với những thắng lợi rực rỡ và những bước nhảy vọt lớn trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam sau này. Từ đây, phong trào cách mạng Việt Nam bước sang một trang mới, được dìu dắt, hướng dẫn bởi một Đảng Cộng sản chân chính lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, xác định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục đích đấu tranh.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, mang bản chất của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội tiến bộ nhất, tích cực nhất của thời đại. Trọng trách lớn lao của Đảng là giáo dục, làm cho quần chúng giác ngộ ý nghĩa của cách mạng, hiểu được các quy luật phát triển của xã hội, nhận rõ mục tiêu đấu tranh; chỉ rõ con đường đấu tranh cho quần chúng nhân dân lao động, tổ chức và động viên tinh thần đấu tranh cũng như xây dựng niềm tin của họ vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Do đó, Hồ Chí Minh khẳng định: “... xây dựng Đảng là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của nhân dân ta”(2). 

Nhằm xây dựng Đảng trở thành một tổ chức chính trị có bản lĩnh vững vàng, luôn kiên định lập trường của giai cấp công nhân và đủ sức lãnh đạo nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục bản chất, lý tưởng cách mạng của Đảng, bồi dưỡng tri thức lý luận cho cán bộ, đảng viên. Người đòi hỏi “Đảng phải tăng cường tư tưởng giai cấp công nhân, ... phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, ..., đấu tranh với những tư tưởng “phi vô sản””(3). Bởi, một trong những mục đích cơ bản của việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, như Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, là học tinh thần biện chứng của lý luận đó và vận dụng một cách sáng tạo vào việc nhận thức, giải quyết các vấn đề của thực tiễn cách mạng. Có vậy, Đảng mới phát huy được vai trò “nền tảng tư tưởng”, “kim chỉ nam” của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với nhận thức, hành động cách mạng của Đảng Cộng sản, của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.  

Từ quan niệm cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; rằng, “sức dân như nước, chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng phải liên hệ chặt chẽ và tập hợp được đông đảo quần chúng, hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, làm cho họ thực sự gắn bó với Đảng, tin Đảng, ra sức ủng hộ Đảng và tự nguyện tự giác chịu sự lãnh đạo của Đảng. Chính sự giữ chặt mối liên hệ với quần chúng nhân dân và lắng nghe ý kiến của họ là “nền tảng lực lượng của Đảng” và nhờ đó mà Đảng giành được những thắng lợi to lớn. Như vậy, có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự liên hệ chặt chẽ, máu thịt giữa Đảng và nhân dân không những là vấn đề có tính nguyên tắc đối với Đảng ta, mà còn là một cống hiến quan trọng của Người vào lý luận xây dựng Đảng mácxít - lêninnít. 

Đảng là một tổ chức chính trị có kỷ luật chặt chẽ, gồm những người ưu tú, vừa “hồng” vừa “chuyên”, toàn tâm, toàn ý, tự nguyện tự giác phụng sự lợi ích của Tổ quốc và toàn thể nhân dân lao động. Song, như Hồ Chí Minh nói, đảng viên và cán bộ cũng là con người, mà người đời không phải thánh thần, nghĩa là không tránh khỏi khuyết điểm do sự lây nhiễm từ bên ngoài vào. Khuyết điểm có nhiều loại và điều nguy hiểm là chúng có thể làm tổn hại đến uy tín cũng như sức chiến đấu của Đảng nếu như không kịp thời được phát hiện, sửa chữa. Người coi mỗi khuyết điểm là một chứng bệnh, “mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài... Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ bên trong phá ra”(4) và “... một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”(5).

Do vậy, để kịp thời phát hiện, sửa chữa những khuyết điểm, giữ cho Đảng luôn trong sạch và có sức chiến đấu cao, theo Hồ Chí Minh, một mặt, phải tăng cường giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Không phải ngẫu nhiên mà trong Đường cách mệnh, Người đặt vấn đề tư cách đảng viên lên hàng đầu. Mặt khác, Hồ Chí Minh cho rằng, thực hiện tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất để phát hiện và sửa chữa khuyết điểm, là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất của Đảng; đồng thời, đòi hỏi mỗi đảng viên phải thường xuyên và tích cực tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa khuyết điểm như mỗi ngày phải rửa mặt. Đó không chỉ là phương thức để mỗi người tự giáo dục, hoàn thiện mình, mà còn là tấm gương cho quần chúng học tập. Người tin rằng, bằng cách đó, Đảng vừa chống được nguy cơ thoái hoá, biến chất của một số đảng viên và cán bộ, vừa ngày càng trở nên trong sạch, vững mạnh hơn.

Tựu trung lại, để đảm đương và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực sự là một đảng kiểu mới, được tổ chức, hoạt động và phát triển theo những nguyên tắc mácxít - lêninnít. Đó là, về lý luận, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng; về tổ chức, Đảng thực hiện chế độ dân chủ tập trung; về kỷ luật, Đảng phải có kỷ luật nghiêmtự giác; về phương pháp xây dựng, Đảng phải thực hiện tự phê bình và phê bình để giáo dục đảng viên; về mục đích, Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện nền dân chủ mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cho đến giờ phút từ biệt chúng ta, Hồ Chí Minh luôn suy nghĩ về Đảng, mong muốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của sự nghiệp cách mạng. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người căn dặn việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, là “công việc đối với con người”; đồng thời, đòi hỏi mọi đảng viên và cán bộ từ Trung ương đến cơ sở “... cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình... Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau... Mỗi đảng viên và cán bộ thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng... Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(6).

Trung thành với lý tưởng và thực hiện nghiêm túc những chỉ dẫn quý báu của Hồ Chí Minh về công tác xây dựng, phát triển Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về mọi phương diện. Sự trưởng thành và ngày càng vững mạnh của Đảng được đo bằng sự giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bằng sự kiên định lý tưởng cộng sản, bằng sự phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng đảng viên và không ngừng đổi mới, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ để tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước.

Tuy nhiên, như Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ ra, chúng ta hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn. Đó là các nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, chiến lược “diễn biến hoà bình” do các thế lực thù địch gây ra. Trong bối cảnh như vậy, hơn bao giờ hết, sự vững mạnh của Đảng với tư cách người lãnh đạo cách mạng Việt Nam là đặc biệt quan trọng. Bởi, sự vững mạnh đó không chỉ gắn với việc bảo tồn, giữ vững những thành quả đạt được trong lịch sử đấu tranh cách mạng, mà còn trực tiếp quyết định vận mệnh của đất nước trong tương lai.

Ý thức được trách nhiệm nặng nề và với tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, Đảng đã nghiêm túc tự phê bình và chỉ ra rằng, trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, “đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết, chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút. Công tác tư tưởng, công tác lý luận còn yếu kém, bất cập; công tác tổ chức, cán bộ còn một số biểu hiện trì trệ. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng... Tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu”(7). Những khuyết điểm đó đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân.

Như vậy, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là một yêu cầu tất yếu được đặt ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thời đại, phản ánh tính biện chứng trong quá trình phát triển của Đảng. Những nội dung của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay chính là sự tiếp tục thực hiện những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, và trước mắt, cần tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể như Đại hội IX của Đảng đã chỉ ra.

Trong rất nhiều “việc cần làm ngay” của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chúng ta cần đặt trọng tâm vào một số nhiệm vụ ưu tiên. Những nhiệm vụ đó, theo chúng tôi, cụ thể là: thứ nhất, thực hành dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Hồ Chí Minh từng cho rằng, dân chủ có ý nghĩa rất to lớn; rằng, nếu một vấn đề được nhiều người xem xét, góp ý kiến và kinh nghiệm thì vấn đề đó mới được thấy khắp mọi mặt, mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm. Vì vậy, thực hành dân chủ trong sinh hoạt Đảng, nhất là ở cơ sở, sẽ tạo điều kiện thực hiện hiệu quả việc phê bình và tự phê bình - một nguyên tắc để Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Hơn thế, sự “chung lưng đấu sức” còn tạo nên trí tuệ của tập thể - một tố chất không thể thiếu của Đảng với tư cách Đảng cầm quyền, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Trong môi trường dân chủ, trí tuệ của mỗi cá nhân biểu hiện ở tri thức, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo... được phát huy và hợp thành sức mạnh trí tuệ của tập thể, của tổ chức. Trước đây, V.I.Lênin đã đánh giá rất cao đề xuất của nhân dân Xôviết về Ngày thứ bảy cộng sản, gọi đó là một “sáng kiến vĩ đại” và điều này đã góp phần giúp nước Nga vượt qua những năm tháng khó khăn nhất. Trong sự nghiệp đổi mới, nhờ thực hiện dân chủ, Đảng ta đã hội tụ được trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, biến trí tuệ đó thành sức mạnh Việt Nam trong việc nhận thức và giải quyết đúng đắn các nhiệm vụ của cách mạng, từ xây dựng và phát triển kinh tế đến củng cố, hoàn thiện hệ thống chính trị, từ giải quyết các vấn đề xã hội đến thực hiện chiến lược phát triển bền vững... Nói tóm lại, dân chủ là chìa khoá của thành công.

Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng đạo đức cách mạngđấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Thái độ xem nhẹ việc trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng, chưa nghiêm túc thực hiện phê bình và tự phê bình... khiến không ít cán bộ và đảng viên sa ngã trước những cám dỗ đời thường. Sự không chiến thắng, không vượt qua nổi cái “tôi” nhỏ bé, hẹp hòi và ích kỷ để rồi trở thành nô lệ của những ham muốn cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên vừa là nguồn gốc sâu xa, vừa là “sự tiếp tay” dẫn đến những tệ nạn, như tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, quan liêu, mất đoàn kết, vi phạm kỷ luật... Chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ tiềm ẩn, thường xuyên bởi nó núp ở ngay trong bản thân mỗi con người.

Vì vậy, cùng với việc tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp khác, Đảng cần chú ý đẩy mạnh công tác kiểm tra, thực hiện phê bình và tự phê bình để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong các tổ chức Đảng, trong bộ máy Nhà nước; giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên để họ thực sự trở thành những “công bộc”, “đày tớ” trung thành của nhân dân... Cái “tâm” có trong sáng, lành mạnh thì mỗi người cán bộ, đảng viên mới thực sự có động cơ, tình cảm và đạo đức cách mạng đúng đắn; mới luôn nghĩ và hành động vì lợi ích chung của nhân dân, của đất nước; mới thực sự sẵn sàng làm những gì có lợi cho Đảng, cho dân và chống lại những gì có hại đến Đảng, đến nhân dân. Nếu mọi người luôn cảnh giác và tích cực đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân vốn biểu hiện và được che đậy dưới nhiều hình thức tinh vi, cũng có nghĩa là ở họ đã có ý thức vươn đến cái chung, tập thể, cộng đồng. Khi đó, con người sẽ tự nguyện, tự giác hơn trong việc điều chỉnh hành vi của mình theo kỷ luật của tổ chức, theo kỷ cương phép nước, vì lợi ích chung..., tức là thấm nhuần ý thức sống và làm việc theo pháp luật. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, Đảng trở nên vững mạnh, có năng lực trí tuệ và sức chiến đấu cao chính là do trong đội ngũ của mình bao gồm những con người “ vừa hồng, vừa chuyên”.

Lịch sử phong trào cách mạng thế giới trong những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước đã để lại những bài học quý giá về ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, củng cố và phát triển Đảng. Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu là sự thoái hoá, tê liệt, mất sức chiến đấu của Đảng Cộng sản do sự xem nhẹ, xa rời các nguyên tắc xây dựng Đảng mácxít - lêninnít. Tại các nước đó, sự yếu kém và những sai lầm của Đảng Cộng sản đã phải trả giá quá đắt, không chỉ bằng sự mất đi những thành quả cách mạng vĩ đại từng là niềm tự hào của nhân dân lao động và ước mơ, khát vọng chân chính của nhân loại tiến bộ, mà Đảng cũng tự làm mất vị trí, vai trò đảng cầm quyền, thậm chí bị tan rã, giải thể. Nhưng, thực tiễn cách mạng cũng chứng minh một tất yếu lịch sử khác - sự vững vàng và không ngừng lớn mạnh trong thử thách và đấu tranh của Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Nhờ sự trung thành với cương lĩnh, tôn chỉ, mục đích đã lựa chọn, đồng thời kiên trì thực hiện những nguyên tắc xây dựng Đảng của Hồ Chí Minh và thường xuyên đấu tranh một cách nghiêm túc để tự hoàn thiện, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, sức chiến đấu của mình và do vậy, luôn đứng vững ở vị thế lãnh đạo cách mạng; hơn thế, còn đưa công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước tiếp tục tiến lên phía trước.

Thiết nghĩ, lời dạy của Người: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(8), tuy đã cách đây gần 40 năm, song vẫn còn nguyên giá trị chỉ đạo và ý nghĩa thời sự đối với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta trong giai đoạn hiện nay. 

Công cuộc đổi mới đất nước nói riêng và sự nghiệp cách mạng hiện nay nói chung đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải có sự lớn mạnh, ngang tầm với những yêu cầu và nhiệm vụ mới. Muốn vậy, một mặt, Đảng phải luôn kiên định những nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng mácxít - lêninnít; mặt khác, phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, thường xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ của mình. Việc tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay vừa thể hiện sự vận dụng nghiêm túc và sáng tạo những luận điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, vừa là cơ sở để tăng cường bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới. 

 


(*) Tiến sĩ triết học, Viện Triết học.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t. 2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,  tr. 267 - 268.

(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 7, tr. 233.

(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr. 234.

(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 238 - 239.

(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 261.

(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.12, tr.497 - 498.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 138 - 139.

(8) Hồ Chí Minh.Sđd.,  t. 12, tr. 439.

Đã xem: 1568
Thời gian đăng: Chủ nhật - 01/11/2015 01:34
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất