QC Shop

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người

PGS, TS. Nguyễn Văn Tài (*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (153), tháng 2 - 2004

Vấn đề giải phóng con người, đem lại hạnh phúc cho con người là mục đích cao nhất trong quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó được chi phối bởi triết lý nhân văn mà Người đã khái quát là: Suy cho đến cùng, mọi vấn đề đều là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Theo đó, có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người chính là sự kế thừa và phát triển những tinh hoa tư tưởng văn hoá nhân loại mà chủ yếu là tiếp thu và sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về con người trong hoàn cảnh Việt Nam.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Mặc dù Hồ Chí Minh không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về con người, nhưng trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, Người đã đưa ra một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về con người. Quan niệm về con người của Hồ Chí Minh có thể khái quát lại như sau: Con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội; con người chủ thể của các mối quan hệ xã hội - lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người là một thực thể mang tính xã hội. Tính xã hội đó được hình thành trong tổng hoà các quan hệ xã hội với nhiều cấp độ khác nhau. Người viết: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người"(1). Con người trong quan niệm của Người vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội. Trong cộng đồng con người Việt Nam, rõ ràng quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng. Hơn nữa, nét độc đáo trong cộng đồng người Việt Nam là quan hệ "đồng bào"; cộng đồng đó có cùng một nguồn gốc "con Rồng, cháu Tiên". Điều đó cắt nghĩa vì sao Hồ Chí Minh rất coi trọng sức mạnh cộng đồng người Việt Nam, tìm mọi cách để bồi dưỡng và phát huy sức mạnh đó trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Đó là một trong những cơ sở lý luận, thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã dựa vào đó để đề ra chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trong thời kỳ đổi mới đất nước hiện nay.

Khi nghiên cứu nguồn gốc, bản chất con người, triết học Mác - Lênin đặt con người trong lịch sử sản xuất vật chất để xem xét và từ quan điểm duy vật lịch sử đã khẳng định, lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển của con người, làm biến đổi điều kiện tồn tại tự nhiên của con người, biến đổi bản chất tự nhiên của con người, đồng thời hình thành nên và phát triển bản chất xã hội của con người. Nhờ lao động mà con người khẳng định mình là chủ thể sáng tạo mọi giá trị vật chất, tinh thần. Lao động sáng tạo là giá trị nhân văn, giá trị cao nhất của con người. Tiếp thu quan điểm đó của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng, con người trước hết là người lao động, là nhân dân lao động. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đề cập đến công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội,... và coi họ chính là chủ thể sáng tạo xã hội mới.

Chính vì xem xét con người trong sản xuất vật chất, nhìn thấy bản chất sáng tạo, vai trò chủ thể lịch sử và giá trị chân chính của con người mà Hồ Chí Minh cho rằng, "trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân". Người dạy cán bộ phải biết ơn những người dân lao động bình thường, vì cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, phương tiện chúng ta sử dụng là do công sức lao động của nhân dân sáng tạo ra.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân lao động với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử xã hội là một trong những cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với đặc trưng cơ bản hàng đầu là "một xã hội do nhân dân lao động làm chủ". Trong hoạch định đường lối, chính sách, Đảng và Nhà nước đã luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân lao động. Mọi chủ trương, chính sách nếu không còn phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân đều được Đảng và Nhà nước ta bổ sung, sửa đổi hoặc bãi bỏ.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội. Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất mang những phẩm chất riêng, vừa là một thực thể xã hội mang những phẩm chất của một hệ thống các quan hệ xã hội trong sự thống nhất biện chứng giữa cái chung với cái đặc thù và cái riêng. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã khẳng định chủ nghĩa xã hội không hề phủ nhận cá nhân, chà đạp lên lợi ích cá nhân, mà ngược lại, hơn hẳn bất kỳ một chế độ xã hội nào trong lịch sử, chủ nghĩa xã hội luôn tôn trọng lợi ích cá nhân, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển tự do và toàn diện của cá nhân.

Trong khi luôn nhấn mạnh và coi trọng con người tập thể, con người xã hội, Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến con người cá nhân. Không chỉ trong tư tưởng, lý luận, mà cả trong hoạt động thực tiễn, Người thường quan tâm đến mỗi con người cụ thể. Người sâu sát, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, chia sẻ niềm vui và thấu hiểu nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp nhân dân từ nông dân, công nhân, bộ đội, phụ nữ, thanh niên đến các cụ phụ lão, các cháu nhi đồng. Trong chỉ đạo thực tiễn, Hồ Chí Minh không chỉ động viên, phát huy tinh thần tập thể, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà còn biết khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp trong mỗi con người cụ thể, làm cho những đức tính tốt đẹp đó "nảy nở như hoa mùa xuân".

Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa con người cá nhân và con người xã hội, Hồ Chí Minh quan tâm giải quyết mối quan hệ lợi ích. Người đã biết kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích gần và lợi ích xa, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần... tạo nên động lực nhằm tích cực hoá nhân tố con người. Lấy tư tưởng này của Người làm cơ sở nền tảng, trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn quan tâm đến các chính sách xã hội vì lợi ích con người. Đây cũng chính là một cơ sở khoa học để trong thời kỳ mới của cách mạng, Đảng coi trọng việc tập hợp, tổ chức, đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất, tạo sức mạnh tổng hợp để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa con người giai cấp, dân tộc và nhân loại. Khi đề cập đến con người, Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến "người phương Đông", "người châu Á", "người châu Âu"..., mà còn đề cập một cách cụ thể hơn "người da vàng", "người da trắng", "người da đen", "người Đông Dương", "người Pháp", "người Việt Nam", v.v.. Như vậy, với Người, con người bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, thuộc về một quốc gia nhất định. Hồ Chí Minh khẳng định mọi người dù khác nhau như thế nào thì vẫn có điểm chung là sinh ra phải được tự do, bình đẳng và mưu cầu hạnh phúc. Bên cạnh việc nói đến con người dân tộc, Người còn đặc biệt chú ý đến con người giai cấp. Hồ Chí Minh thường nói "người bị áp bức", "người bị bóc lột", "tên tư sản", "nhà độc tài", "công nhân", "nông dân", "thợ thuyền", v.v.. Người khẳng định trên thế giới này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người lao động và luôn nhấn mạnh tình hữu ái giai cấp. Chính vì vậy, khi tham gia sáng lập tờ báo "Người cùng khổ", Người đã tự đặt mình về phía các giai cấp lao động đang nói lên tiếng nói phản đối áp bức, bóc lột, đấu tranh để giải phóng con người khỏi mọi sự tha hoá. Đối với Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng mác xít chân chính, đấu tranh giai cấp là phương tiện để giải phóng con người. Hồ Chí Minh không hề tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp, mà tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để có thể đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp. Người phê phán những ai áp dụng quan điểm giai cấp một cách giáo điều, máy móc vào điều kiện Việt Nam, nhưng Người rất coi trọng đấu tranh giai cấp. Ngay từ đầu, Người đã xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường xã hội chủ nghĩa và lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng. Đó chính là mục tiêu và hệ tư tưởng mang tính giai cấp của giai cấp công nhân. Đối với Hồ Chí Minh, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa - một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh... luôn là mục tiêu cao nhất, xuyên suốt, trở thành hoài bão phấn đấu suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Sự nghiệp cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh phấn đấu hy sinh là giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và nhân loại.

Ngay cả lúc Hồ Chí Minh nhấn mạnh sức mạnh dân tộc, coi "chủ nghĩa dân tộc" là một động lực lớn thì Người vẫn không hề coi nhẹ vấn đề giai cấp. Cần phải hiểu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu sắc tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chính là xuất phát từ quan điểm coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận không tách rời của cách mạng thế giới và luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tức là kết hợp sức mạnh giai cấp - dân tộc - thời đại, mà Hồ Chí Minh đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người và vấn đề phát huy vai trò nhân tố con người là cơ sở khoa học cho đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Quan tâm đến lợi ích của con người, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người chính là hiện thực hoá quan điểm của Hồ Chí Minh - quan điểm coi con người vừa là mục đích, vừa là động lực phát triển của cách mạng Việt Nam. Mục đích của chủ nghĩa xã hội là vì tự do, hạnh phúc của con người, thoả mãn nhu cầu con người cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo của con người trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Do vậy, đổi mới hệ thống chính sách xã hội theo hướng ngày càng giải quyết hài hoà các mối quan hệ lợi ích để từ đó, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội là hết sức cần thiết. Quan điểm về con người và phát huy nhân tố con người phải được cụ thể hoá bằng chế độ, chính sách, pháp luật nhà nước, thực hiện công bằng xã hội, quan tâm đến con người, từng bước hiện thực hoá vào thực tiễn đời sống xã hội. Cùng với đó, cần thực hiện dân chủ hoá mọi mặt đời sống xã hội để xây dựng những tiền đề, điều kiện cho mọi hoạt động của con người được thực hiện trên cơ sở dân chủ, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, bảo đảm cho những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện ngày càng đầy đủ hơn trong thực tiễn đời sống xã hội. Và, để hiện thực hoá những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa vào đời sống xã hội, cần thực hiện một hệ thống các giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần thu hút rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, thực sự làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ xã hội mới. Phối hợp chặt chẽ hình thức dân chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp. Khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, lợi dụng dân chủ để chống lại chế độ. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa. Lấy dân chủ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước làm nòng cốt cho dân chủ hoá đời sống xã hội. Đổi mới, cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà nước - công cụ của nhân dân lao động làm chủ xã hội, chống mọi biểu hiện quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường dân chủ nhằm giải phóng mọi năng lực sáng tạo của quần chúng nhân dân nhằm góp phần ổn định chính trị xã hội, tạo điều kiện cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi. Đó chính là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người.

Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phải thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu để phát triển toàn diện con người Việt Nam mới. Lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở nền tảng, mục tiêu của giáo dục - đào tạo phải là nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài trên cơ sở phát triển nhân cách con người Việt Nam vừa "hồng", vừa "chuyên". Và, để sự nghiệp giáo dục - đào tạo phát huy vai trò của nó trong sự nghiệp đổi mới, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng; tích cực giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động; kết hợp giữa nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo trong tình hình mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người là một hệ thống quan điểm toàn diện, phong phú và sâu sắc, chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ tư tưởng của Người. Bởi mục đích cao cả và cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Đây là sự kế thừa, phát triển sáng tạo tư tưởng về con người trong kho tàng văn hoá dân tộc và nhân loại, mà trực tiếp quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng về bản chất con người và phát huy nhân tố con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và cho đến nay, tư tưởng ấy vẫn giữ nguyên giá trị của nó, vẫn có ý nghĩa khoa học và cách mạng to lớn trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta h

 


(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Chủ nhiệm Khoa Triết học, Học viện Chính trị - Quân sự.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.5. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.644.

Đã xem: 9034
Thời gian đăng: Thứ ba - 02/06/2015 04:08
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 4 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất