QC Shop

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hiệu lực pháp lý của một nhà nước pháp quyền

Vũ Ngọc Miến(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 7 (158), tháng 7 - 2004

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền “của dân”, “do dân”, “vì dân” có hiệu lực pháp lý được hình thành và phát triển trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Hồ Chí Minh là người sớm ý thức và luôn có tư tưởng nhất quán về tầm quan trọng của pháp luật trong điều hành và quản lý xã hội của nhà nước.  Trong tư tưởng của Người, pháp luật, về thực chất, là ý chí của giai cấp cầm quyền. Pháp luật đúng đắn sẽ tăng cường hiệu lực của bộ máy nhà nước, đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, tạo nên sự ổn định của xã hội. Ngay từ năm 1919, trong Yêu sách của nhân dân An Nam gồm tám điều mà Ngườiû gửi đến Hội nghị Vécxây, đã có bốn điều liên quan đến vấn đề pháp quyền:

“1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

.....

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của những người bản xứ” (1).

Sau đó, để dễ phổ biến và tuyên truyền trong người Việt Nam về hiệu lực của nhà nước pháp quyền, Người đã chuyển bản yêu sách thành Việt Nam yêu cầu ca, trong đó có câu:

“Bảy xin Hiến pháp ban hành,

Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”(2).

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, trước hết phải là một nhà nước hợp hiến. Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm1945, Hồ Chí Minh đã tuyên bố với quốc dân đồng bào và với thế giới về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam mới. Theo đó, Chính phủ lâm thời đại biểu cho quyền lợi của đại đa số nhân dân lao dộng do cách mạng lập nên đã có một địa vị pháp lý hợp pháp. Còn tư tưởng “thần linh pháp quyền” mà Người đã đưa ra chính là tư tưởng về một nhà nước pháp quyền nghiêm minh và hiệu qủa. Để thực hiện tư tưởng đó, ngày 3 - 9 – 1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã xác định những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong nhiệm vụ thứ ba, Người đã khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”(3). Và, để sớm có một nhà nước hợp hiến do nhân dân bầu ra, ngày 17-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ấn định thể lệ Tổng tuyển cử; ngày 20-9-1945, Người ký sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp do chính Người làm trưởng ban; ngày 6 -1-1946, cả nước đã tiến hành Tổng tuyển cử. Theo Hồ Chí Minh, chính sách bầu cử, ứng cử là vấn đề cốt lõi đảm bảo tính hợp hiến của bộ máy nhà nước, đảm bảo sự tự do hay hạn chế, bình đẳng hay phân biệt, giả hay thật, áp đặt hay tự do lựa chọn những người có đủ tài đức đại diện cho nhân dân ra tham gia gánh vác việc nước. Hơn nữa, Người còn coi đó là những chuẩn mực để xem xét một bộ máy chính quyền có thật sự dân chủ hay không.

Với tầm hiểu biết sâu sắc về nhà nước, về pháp luật, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp và đặt nền móng cho một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Một Quốc hội được thành lập qua tuyển cử, một nhà nước hợp hiến ra đời đã thể hiện rõ nét Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ, dân chủ trong thực tế và trong hành động. Nhà nước được quản lý, thực thi bằng pháp luật thực sự dân chủ đã có tác dụng thúc đẩy mọi hoạt động của đất nước.

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Nhà nước có thể ra đời bằng nhiều cách khác nhau, song chỉ có nhà nước do nhân dân bầu ra thì mới có tính hợp pháp. Quan điểm về nhà nước hợp pháp luôn là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Cuộc Tổng tuyển cử của nhân dân ta năm 1946 là dịp cho toàn thể quốc dân lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nhà nước. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử đó là một Quốc hội được thành lập, một Nhà nước hợp hiến ra đời – Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do đại biểu của nhân dân bầu ra, có đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của nhà nước Việt Nam mới.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh mẽ là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tất yếu phải xây dựng cho được một hệ thống pháp luật. Sở dĩ như vậy là vì trong một nhà nước dân chủ, mọi quyền dân chủ của người dân phải được thể chế bằng Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật là bà đỡ cho dân chủ. Không có dân chủ ngoài vòng pháp luật. Quản lý xã hội bằng pháp luật (hơn nữa, đó lại là pháp luật phản ánh đúng đắn ý chí và nguyện vọng của nhân dân) là điều kiện tất yếu đảm bảo cho sự tự do của người này không xâm phạm tự do của người khác.Vì vậy, xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo việc thực hiện quyền lợi của nhân dân đã trở thành mối quan tâm suốt đời của Hồ Chí Minh.

Với cương vị và trách nhiệm là người đứng đầu Nhà nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc xây dựng và hoàn thiện Hiến pháp và pháp luật phù hợp với những đòi hỏi của mỗi giai đoạn cách mạng và sự biến chuyển của xã hội. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Quốc hội không thể nhóm họp thường kỳ được, Người đã cho ban hành và ký nhiều sắc lệnh trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội … làm cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc làm cho người dân hiểu luật pháp và có ý thức chấp hành pháp luật. Bởi với Người, công tác giáo dục cho người dân hiểu biết và tự giác chấp hành pháp luật là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến thành công của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; đến việc xây dựng nền dân chủ đích thực, dân chủ theo kỷ cương, phép nước. Trong thi hành pháp luật, cái khó nhất là phải đảm bảo được tính vô tư, khách quan, công bằng, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Trong lịch sử xã hội, pháp luật được định ra, song nhiều khi, do áp dụng không triệt để nên đã có những người, những tầng lớp đứng trên pháp luật. Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi pháp luật của ta phải xét xử nghiêm minh. Người nói: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề gì”(4). Dù rất đau lòng, Hồ Chí Minh đã bác đơn chống án tử hình của Trần Dụ Châu – người  vốn cũng là một người cách mạng, nhưng lại phạm tội nghiêm trọng khi có chức, quyền. Với Hồ Chí Minh, pháp luật bất vị thân, công tội phân minh, “không vì công mà quên lỗi, vì lỗi mà quên công”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ thể hiện rõ trong hoạt động của Chính phủ. Người nghiêm khắc đòi hỏi bản thân mình và mọi tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể phải tuân thủ pháp luật. Người nói: “Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi của nhân dân lao động. Nhân dân ta hiện nay có tự do, tự do trong kỷ luật. Mỗi người có tự do của mình, nhưng phải tôn trọng tự do của người khác. Người nào sử dụng quyền tự do của mình quá mức mà phạm đến tự do của người khác là phạm pháp”(5).

Theo Hồ Chí Minh, một điều kiện không thể thiếu được để tiến tới một nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực là phải đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ, viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý và thường xuyên quan tâm tới việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước. Người nhận thức sâu sắc rằng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước phụ thuộc rất lớn vào chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Bởi lẽ, “cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được”(6).

Với nhận thức này, Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan niệm mới về cán bộ và công chức, về các ngạch, bậc trong toàn bộ nền hành chính quốc gia; đồng thời  ban hành một số sắc lệnh cụ thể quy định chức năng, nhiệm vụ của cán bôï, công chức nhà nước, như Sắc lệnh số 188-SL, ngày 29-5-1948; Sắc lệnh số 76-SL, ngày 20-2-1950, rằng: “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân dưới sự lãnh đạo tối cao của chính phủ. Đi đôi với nhiệm vụ trên, người công chức phải đem hết tất cả sức lực và tâm trí làm theo đúng đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc, công chức Việt Nam cần có một địa vị xứng đáng với tài năng của mình. Địa vị ấy được đề cao trong quy chế này”(7). Quan điểm như vậy về một đội ngũ cán bộ, công chức của nền hành chính quốc gia ở Hồ Chí Minh đã đem lại một hình ảnh rất mới mẻ về một bộ máy nhà nước hiện đại. Đó là sự kết tinh truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại về nhà nước pháp quyền.

Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải biết quản lý nhà nước, phải là người vưà có tài vừa có đức, vừa “hồng” vừa “chuyên” và đặc biệt là  phải có đạo đức cao đẹp, bởi đạo đức là cái gốc của người cách mạng. Người đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước có phẩm chất đạo đức và tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, bởi theo Người, thiếu điều cơ bản này thì dù có năng lực mấy cũng không dùng được. Với Người, “đức có mà tài chưa thì sẽ khó; tài có mà đức không có thì sẽ bị tàn lụi”. Đồng thời, Người luôn nhắc nhở công chức nhà nước phải gần dân, trọng dân, không được lên mặt “quan cách mạng” với dân, phải lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Rằng, chỉ có trí tuệ và lòng dân mới có thể làm cho chính quyền trở nên trong sạch, vững mạnh.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng một bộ máy nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, trong suốt qúa trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn xác định đúng đắn vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ và thường xuyên quan tâm đến công tác cán bộ, đề ra những nhiệm vụ và giải pháp lớn về công tác quy hoạch, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ, xây dựng quy chế công tác cán bộ, đổi mới thường xuyên và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ. Tại Đại hội IX, vấn đề “tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, hoàn thiện chế độ, quy chế cán bộ, công chức” đã một lần nữa được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh. Tuy nhiên, việc trọng dụng người có đức, có tài ở nước ta hiện nay lại đang nổi lên như là một trong những vấn đề đáng quan tâm. Dường như chúng ta chưa có một cơ chế đủ mạnh, chưa có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này và do vậy, ở ta vẫn còn khá phổ biến tình trạng mà cách đây hơn năm mươi năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, “dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm)”(8). Tình trạng cán bộ không dám chịu trách nhiệm, thiếu tinh thần phụ trách trước nhân dân vẫn còn khá phổ biến và dường như chúng ta cũng chưa có cơ chế xử lý đúng mức tình trạng này. Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh việc khen chê phải đúng mức. Người nói tới hai chữ “trừng phạt” cán bộ, mặc dù điều đó làm cho Chính phủ và Đảng cũng khổ tâm, song với những cán bộ thiếu trách nhiệm, thiếu tinh thần phụ trách vẫn cần phải được xử lý đúng mức. Người luôn căn dặn chúng ta  “phải đào tạo một mớ cán bộ phụ trách, có gan làm việc, ham làm việc. Có thế Đảng mới thành công. Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng’’(9). Tại Đại hội IX, khi đề cập đến vấn đề “đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế“, Đảng ta đã nói rõ việc “kiểm tra định kỳ, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa”. Đây là một định hướng đúng và nếu làm tốt điều này, chúng ta sẽ có được một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và đạo đức cách mạng.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh về hiệu lực pháp lý của một nhà nước pháp quyền ngày càng được hoàn thiện cùng với sự vận động của thực tiễn đất nước và thời đại. Đó là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin về nhà nước. Đó cũng là kết quả của việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị tư tưởng của dân tộc và nhân loại trong lĩnh vực xây dựng, tổ chức nhà nước và pháp luật. Và tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước, về hiệu lực pháp lý của một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã được nâng lên một trình độ mới, ngày càng hòa nhập với dòng chảy của tư tưởng nhân loại tiến bộ về nhà nước pháp quyền. Trước yêu cầu củng cố và hoàn thiện đồng bộ nhà nước theo hướng pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn và mãi mãi còn nguyên giá trị cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.


(*)  Thạc sĩ, Phó hiệu trưởng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 435 - 436.

(2)  Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr. 438.

(3)  Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 8.

(4)  Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 641.

(5) Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1985, tr. 178.

(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 54.

(7) Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1993, tr. 107.

(8) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 641.

(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 5, tr. 281.

Đã xem: 3076
Thời gian đăng: Thứ bảy - 29/08/2015 00:26
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất