QC Shop

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và việc xây dựng nhà nước đó ở Việt Nam hiện nay

TS. Trần Kỳ Đồng(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 5 (156), tháng 5 - 2004

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng về nhà nước của dân, do dân, vì dân đã từng xuất hiện trong cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm xoá bỏ chế độ phong kiến. Nó thể hiện được khát vọng của nhân dân lao động, nhưng lại vượt quá tầm sứ mệnh lịch sử của giai cấp tư sản. Bản chất của chế độ tư bản đã không thể làm cho tư tưởng về một nhà nước của dân, do dân và vì dân trở thành hiện thực. Vì, lịch sử đã quy định cho giai cấp tư sản chỉ có thể giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi thân phận nông nô để bước vào thân phận nô lệ hiện đại. Với thân phận này, người lao động chỉ có một quyền tự do duy nhất là tự do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản. Do đó, sự khẳng định trong hiến pháp tư sản quyền lực nhà nước trở thành quyền lực chung mang tính toàn thể xã hội, gắn bó hữu cơ với quyền lực của nhân dân, cuối cùng chỉ là những "trò chơi" của chính trị.

Một khi đặc quyền của giai cấp tư sản vẫn được thực hiện bằng sự áp bức và bóc lột người lao động thì sự đồng nhất hoá nhà nước tư sản là "nhà nước của nhân dân" - như cách nói của C.Mác - là sự cố tình loại trừ cái chung ra khỏi cái riêng, cái phổ biến bị thay thế bởi cái đặc thù, tồn tại bị thay thế bởi khái niệm, mục đích bị thay thế bởi phương tiện. Với hy vọng tránh được sự phản kháng tất yếu của người lao động và do đó, tránh được nguy cơ dẫn đến sự diệt vong của chế độ tư bản, giai cấp tư sản thường xuyên tạo dựng và tô vẽ cho nhân dân một "niềm tin thần thánh" vào cái gọi là "quyền tự do" và "bình đẳng" của công dân trong chế độ tư bản.

Các nhà làm luật của giai cấp tư sản cũng hiểu rằng, cơ sở của "niềm tin thần thánh" về quyền lực nhà nước không thể xuất phát từ sự mặc nhiên quy định là "quyền lực của đấng siêu nhiên" như trong thể chế nhà nước và pháp luật của chế độ nô lệ và phong kiến, mà phải dựa trên những giá trị có ý nghĩa phổ quát được nhận thức bằng lý tính, đáp ứng được yêu cầu chung của toàn xã hội. Do đó, trước khi tiến hành "tôn giáo hoá" quyền lực nhà nước, giai cấp tư sản đã tiến hành "đạo đức hoá" pháp luật trên nguyên tắc mới. Theo đó, quyền tư hữu của cá nhân là một giá trị mang bản chất Người và tôn trọng nó là một hành vi "đạo đức" của con người. Nhà nước tư sản phải có nhiệm vụ bảo vệ quyền tư hữu của cá nhân, vì đây là quyền thiêng liêng nhất. Quyền được nâng lên thành luật, mà quyền đã thiêng liêng thì luật trở thành tối cao và nhà nước tư sản trở thành "nhà nước bất khả xâm phạm".

Có thể nói, nguyên tắc trên đầy tính nhân bản ở sự mở đầu, nhưng lại hoàn toàn phi nhân tính ở sự kết thúc, vì ẩn nấp đằng sau sự bất khả xâm phạm về quyền tư hữu của cá nhân là chế độ đặc quyền, tư hữu về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản. Đây mới chính là "cái tối cao của đạo đức" mà nhà nước tư sản tìm cách bảo vệ bằng mọi giá.

Trong Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen, C.Mác đã từng đối chiếu bản chất nhà nước của hai chế độ đối lập - chế độ quân chủ và chế độ dân chủ. Trong chế độ quân chủ, nhân dân là đối tượng còn nhà nước là chủ thể, nhân dân chỉ là một yếu tố của sự tồn tại và ở ngoài bản chất của nhà nước. Trái lại, trong chế độ dân chủ, nhà nước đóng vai trò là đối tượng còn nhân dân là chủ thể. Dân chủ là chế độ chính trị mà trong đó nhà nước là của nhân dân.

Cách mạng vô sản, trước hết là một cuộc cách mạng chính trị về dân chủ, vì nó làm cho nhà nước trở lại với nền tảng thực sự của mình, tức là với sự tồn tại của nhân dân, trong đó, nhà nước là một yếu tố. Nhà nước trở thành cái chung mang tính toàn thể xã hội và quyền lực nhà nước liên kết hữu cơ với quyền lực của nhân dân.

Được chủ nghĩa Mác - Lênin định hướng và thực tiễn Cách mạng tháng Mười Nga mở đường, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những nguyên tắc của một nhà nước của dân, do dân và vì dân vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Đó là một nhà nước được sinh thành và phát triển từ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, là nhà nước của khối đại đoàn kết toàn dân, thực thi dân chủ của nhân dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đây cũng chính là sự khởi đầu của một nhà nước chân chính, kiểu mới, xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nó được Hồ Chí Minh sáng lập và phát triển trong cuộc đấu tranh cách mạng vô sản ở Việt Nam với mục đích và nội dung hoạt động chủ đạo là Vì dân. Xuất phát từ chỗ coi quyền lợi của giai cấp vô sản thống nhất với quyền lợi của nhân dân, Hồ Chí Minh đã xác định nội dung Vì dân là: "1. Làm cho dân có ăn. 2. Làm cho dân có mặc. 3. Làm cho dân có chỗ ở. 4. Làm cho dân có học hành"(1). Có thể nói, vì dân là nguyên tắc bao trùm toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước Việt Nam kiểu mới. Trong chế độ mới, mọi lợi ích và quyền hạn đều hướng đến mục tiêu vì dân và do vậy, công việc bảo vệ, xây dựng nhà nước trở thành trách nhiệm, nghĩa vụ của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước Vì dân chính là sự tái hiện và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen: "Trong chế độ dân chủ thì chế độ nhà nước, luật pháp, bản thân nhà nước - trong chừng mực nhà nước là một chế độ chính trị nhất định - chỉ là sự tự quy định của nhân dân và là nội dung xác định của nhân dân"(2). Sự tự quy định của nhân dân đối với hoạt động của nhà nước chỉ có thể được thực hiện triệt để trong một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó, lợi ích của giai cấp công nhân với tư cách lợi ích của giai cấp thống trị thống nhất với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động.

Tư tưởng về một nhà nước vì dân không chỉ là sự đúc kết những tinh hoa của thế giới trong học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước, mà còn là sự tái tạo và phát triển tư tưởng coi "Dân là gốc nước, Nước là của dân" - một giá trị truyền thống trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Do đó, khi được vận dụng vào trong tiến trình đấu tranh cách mạng, tư tưởng về nhà nước kiểu mới của Hồ Chí Minh vừa đáp ứng được yêu cầu riêng của Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại.

Ngay từ những ngày đầu tham gia hoạt động cách mạng chống lại sự thống trị của đế quốc thực dân, Hồ Chí Minh đã không ngừng đấu tranh, đòi hỏi mọi hoạt động của Nhà nước phải tuân theo tinh thần của pháp luật. Hướng đến mục tiêu giải phóng xã hội, xác định nhân dân lao động là chủ nhân chân chính của lịch sử và quyền lực của nhân dân lao động phải được thực hiện trên cơ sở đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công - nông, trong Bản yêu sách gửi Hội Vạn Quốc, Hồ Chí Minh chủ trương sau khi nước ta giành được độc lập, phải xây dựng nền hiến pháp mới về phương diện chính trị và xã hội theo những lý tưởng dân quyền, một "... hiến pháp bảo đảm được quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân, trên cơ sở công nông liên minh và do giai cấp công nhân lãnh đạo. Nó phải thật sự bảo đảm nam nữ bình quyền và dân tộc bình đẳng, v. v.."(3), tức là hiến pháp phải giải phóng chính bản thân nhân dân lao động.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, với tính cách là một sự hiện thực hoá lý tưởng dân quyền, hiến pháp đã vượt qua cấp độ quan niệm về quyền lực của nhân dân và đạt đến cấp độ đấu tranh nhằm thực thi quyền lực của nhân dân trong thực tế thông qua hoạt động của một nhà nước pháp quyền dân chủ của dân, do dân và vì dân. Đây cũng chính là sự triển khai mục đích của pháp luật vô sản vào thực tiễn cuộc sống, như C.Mác đã khẳng định: "... vì lợi ích của quần chúng nghèo khổ, bất hạnh về chính trị và xã hội,(...). Chúng ta đòi tập quán pháp cho dân nghèo, hơn nữa đó không phải là tập quán pháp bị giới hạn trong một địa phương nào đó, mà một tập quán pháp vốn có của dân nghèo trong tất cả các nước. Chúng ta còn đi xa hơn và khẳng định rằng tập quán pháp, theo bản chất của nó, có thể chỉ là quyền của đám quần chúng thấp kém nhất, bất hạnh nhất, không được tổ chức nhất"(4).

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nước ta giành được độc lập và Nhà nước công nông ra đời. Trên cương vị người đứng đầu Nhà nước đó, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc xây dựng hiến pháp. Người coi đây là một nhiệm vụ cấp bách, bởi hiến pháp là cơ sở pháp lý để ban hành các đạo luật và sắc lệnh đảm bảo cho nhân dân được hưởng trực tiếp những quyền tự do dân chủ. Người nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đền chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ"(5).

Hồ Chí Minh, cho rằng, hiến pháp theo lý tưởng dân quyền là yếu tố của văn hoá - chính trị, là nhu cầu sinh tồn của dân tộc. Do đó, "xây dựng chính trị: dân quyền"(6) là một trong năm điểm lớn để xây dựng nền văn hoá dân tộc mà trong đó, dân chủ được mở rộng theo lý tưởng dân quyền sẽ tạo điều kiện cho nhân dân được trực tiếp tham gia quản lý nhà nước. Và, chính trong quá trình này, nhân dân mới sáng tạo nên những giá trị mới của văn hoá dân chủ vô sản: phát huy quyền lực của nhân dân, hướng về cách mạng xã hội; giải quyết những yêu cầu phát sinh trong từng thời điểm, trên từng lĩnh vực để dân quyền được hoàn thiện như là sự hoàn thiện của một nền văn hoá mới trong sự giải phóng xã hội. Tư tưởng đó thể hiện "sự kết hợp nhuần nhuyễn bản lĩnh chính trị và bản lĩnh văn hoá trong tư duy hành động của Hồ Chí Minh"(7).

Dựa trên những lý tưởng dân quyền, Hồ Chí Minh khẳng định nội dung của dân chủ: Dân là chủ và dân làm chủ. Quyền lực của nhân dân phải được thể hiện trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà nước để nâng cao trình độ và năng lực giải phóng của dân tộc. Hoạt động của nhà nước với tính cách là hoạt động quyền lực chính trị của giai cấp vô sản phải luôn hướng đến mục tiêu thực hiện lợi ích của nhân dân, đáp ứng những nhu cầu và nguyện vọng chân chính của nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần, Vì vậy, mục đích và nội dung hoạt động của Đảng Cộng sản - đảng cầm quyền, theo Người, là "tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng"(8).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích của Đảng Cộng sản và chức năng của nhà nước trong cách mạng vô sản đã làm rõ tính chất nhân văn trong nội dung dân quyền vô sản của một nhà nước kiểu mới trong lịch sử. "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc"(9).

Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước Việt Nam  kiểu mới bắt nguồn từ quá trình đấu tranh chống lại chế độ cai trị của thực dân đế quốc,  phê phán bản chất của các chế độ nhà nước tư sản đương thời; thể hiện sự tiếp nhận, tích hợp và nâng cao những quan điểm tích cực, tiến bộ của nhân loại cũng như của dân tộc về nhà nước.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, Đại hội IX của Đảng khẳng định: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật"(10). Theo đó, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay cần được triển khai theo những nguyên tắc sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ bảo vệ và phát triển sự thống nhất lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc trước những biến động của thời đại.

Xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế cũng như cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới đang đặt ra những thời cơ to lớn và thách thức không nhỏ đối với sự tồn tại, phát triển của tất cả các quốc gia, dân tộc. Đối với nhiều nước, đặc biệt là các nước chậm phát triển, nguy cơ tụt hậu luôn tiềm ẩn. Nếu như với các nước phát triển, nguy cơ này chỉ có thể diễn ra trên một số mặt của lĩnh vực khoa học - công nghệ thì đối với các nước kém phát triển, nguy cơ này đã bộc lộ một cách gay gắt và toàn diện trên khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, hơn nữa, nếu bỏ lỡ cơ hội phát triển có thể phải đánh đổi bằng sự suy vong của cả dân tộc. Do đó, ưu tiên cho lợi ích quốc gia, dồn mọi nỗ lực cho sự phát triển đất nước, đấu tranh vì lợi ích dân tộc trở thành định hướng chiến lược cơ bản của tất cả các nước trên con đường tiến vào thế kỷ XXI, trong đó có Việt Nam.

Mặt khác, phong trào cộng sản quốc tế hiện đang ở trong thời đoạn có sự khủng hoảng. Ưu thế của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã bị suy giảm trên nhiều phương diện, nhất là về chính trị. Chủ quyền quốc gia dân tộc của các nước kém và đang phát triển luôn bị đe doạ từ áp lực của quá trình toàn cầu hoá về kinh tế, một trật tự thế giới mới đang được các nước đế quốc chủ nghĩa mưu toan áp đặt. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở các nước đã được chuyển hoá vào trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì thế, chỉ có dựa vào phong trào đấu tranh chung của toàn dân tộc nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia thì mục tiêu đấu tranh của giai cấp vô sản mới được duy trì và tiếp tục phát triển trong hiện thực.

Những đặc điểm khách quan đó của thời đại đã quy định Việt Nam, trong khi thực hiện mở cửa và hội nhập thế giới, cần phải giữ vững và tăng cường sự thống nhất giữa lợi ích của giai cấp vô sản với lợi ích của dân tộc - một giá trị xã hội quan trọng đã tạo lập được trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; đồng thời, phải tiếp tục phát triển thành quả này trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong những điều kiện mới, cách mạng vô sản Việt Nam vẫn phải lấy sự thống nhất lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc làm điểm xuất phát cho cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội, vì hạnh phúc của con người. Có như vậy, giai cấp vô sản mới bảo đảm duy trì và phát triển vị thế quyền lực chính trị của bản thân mình với tư cách giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa phải tiến hành theo phương châm: lợi ích của các giai cấp trong lòng dân tộc được thực hiện dưới sự quản lý bằng quyền lực chính trị của một thể chế pháp quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nội dung và yêu cầu mới của sự quản lý đó, như Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định, là "phát huy sức mạnh của cả cộng động dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai"(11). Đồng thời, thực hiện chính sách đoàn kết, hợp tác với các nước tạo ra sự phát triển toàn diện về thế và lực của giai cấp vô sản là cơ sở để đảm bảo hiệu lực chính trị của Nhà nước Việt Nam kiểu mới trong quan hệ đối ngoại với tinh thần: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"(12). Đó cũng chính là nội dung quy định đối với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ đấu tranh và bảo vệ quyền con người trên cơ sở chủ quyền của một dân tộc độc lập.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, chính những điều kiện và hoàn cảnh quốc tế là nhân tố quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến kết quả của cuộc đấu tranh vì lợi ích dân tộc, giai cấp của một quốc gia. Do đó, việc xây dựng và thực hiện đường lối chiến lược cách mạng của một nước phải thích ứng với yêu cầu chung của thời đại. Thời đại luôn đặt ra yêu cầu chung trong đấu tranh và bảo vệ quyền con người với nội dung như Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Người ta sinh ra và mãi mãi tự do và bình đẳng về quyền. Các quyền ấy là: tự do, tư hữu, an ninh và chống áp bức"(13).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh và bảo vệ quyền con người được cụ thể hoá thành yêu cầu phải thực hiện sự thống nhất giữa quyền độc lập của dân tộc với quyền tự do dân chủ của nhân dân. Đây cũng chính là nội dung căn bản nhất của cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng con người thoát khỏi thân phận nô lệ, trở thành con người tự do.

Những diễn biến phức tạp của cuộc đấu tranh về quyền con người trên thế giới không thể không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng và phát triển con người ở Việt Nam. Chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cùng với phương thức hoạt động của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các quyền con người mới được thực hiện triệt để và trở thành giá trị chung của toàn dân tộc; đồng thời, cuộc đấu tranh và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam mới không bị ảnh hưởng bởi mưu toan can thiệp, chi phối và lợi dụng của các thế lực phản động trong và ngoài nước.

Nếu như cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam đã thực hiện được yêu cầu đầu tiên và cơ bản nhất của quyền con người là quyền có Tổ quốc và dân tộc thì cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp tục phát triển quyền con người trên một bình diện mới và có chiều sâu hơn. Từ trong độc lập, tự do của dân tộc, các quyền tự do và bình đẳng cho nhân dân được thiết lập, mở rộng trên mọi lĩnh vực, hướng đến sự phát triển toàn diện về năng lực và sự hoàn thiện về nhân cách của con người Việt Nam.

Với tính cách là một giá trị xã hội, quyền con người ở Việt Nam đã được pháp chế hoá thông qua các điều khoản cụ thể của Hiến pháp và pháp luật. Hơn thế, nó còn đang được hiện thực hoá bởi sự tác động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân. Vấn đề quan trọng đặt ra là, để phát huy vai trò của nhà nước trong việc thực hiện quyền con người, chúng ta cần: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế,... như Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch ra.


(*) Tiến sĩ triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 152.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.1. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.351.

(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.8, tr.322.

(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.1, tr.182.

(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr.8.

(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t.3, tr.431.

(7) Hoàng Chí Bảo. Lý luận về dân chủ và thực tiễn dân chủ hoá ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ, Hà Nội, 1999, tr.16.

(8) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr.280.

(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t.2, tr.270.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.131 - 132.

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.123 -124.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr.119.

(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t.1, tr.240.

 
 

Đã xem: 1127
Thời gian đăng: Thứ ba - 09/06/2015 22:33
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất