QC Shop

Về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Ths. Vũ Văn Hậu(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo là một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng tôn giáo. Bởi lẽ, đối với Người, mục tiêu cao nhất, xuyên suốt cuộc đời cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Và, theo Người, đây là cơ sở vững chắc nhất để thực hiện các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

1. Độc lập dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Có thể nói, từ những năm 20 của thế kỷ trước, tư tưởng về đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn liền với đấu tranh giành quyền tự do của nhân dân được thể hiện trong nhiều tác phẩm của Người. Trong Lời phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, tháng 12 - 1920, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: “Các đồng chí đều biết rằng chủ nghĩa tư bản Pháp đã vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay; vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi. Từ đó, chúng tôi không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ và đầu độc một cách thê thảm (...). Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập hội cũng không có”(1). Người cũng đã chỉ ra rằng, dưới chế độ phong kiến nửa thuộc địa, khi đất nước chưa giành được độc lập, đạo Thiên Chúa ở nước ta có rất nhiều giám mục người Pháp, người châu Âu, mà rất ít giám mục là người Việt Nam.

Có thể nói, khi nghiên cứu di sản lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, ngay từ giai đoạn đầu, chúng ta thấy rõ một tư tưởng mang tính nguyên tắc và nhất quán của Người là, muốn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân, trước hết phải có độc lập cho dân tộc; tôn giáo không thể nằm ngoài mối quan hệ với dân tộc, không thể tách rời vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước. Người chỉ rõ, đấu tranh cho độc lập dân tộc chính là đấu tranh cho quyền độc lập của các tôn giáo, của các giáo dân và kêu gọi mọi người Việt Nam yêu nước, dù có tín ngưỡng hay không, đều phải góp sức mình để giành lại nền độc lập cho nước nhà. Vì tôn giáo tồn tại trên mảnh đất dân tộc, nên giải phóng dân tộc cũng chính là giải phóng đất thánh - giải phóng mảnh đất mà trên đó các tôn giáo tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với dân tộc. Cách nhìn đúng và trúng trong tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo đã được thể hiện một cách khái quát, cô đọng trong Chánh cương vắn tắt năm 1930 của Đảng. Trong 10 chính sách của Việt Minh, một lần nữa, độc lập dân tộc và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được khẳng định: 

“Hội hè, tín ngưỡng, báo chương,

Họp hành, đi lại, có quyền tự do”(2).

Những mục tiêu đó chẳng những phù hợp với yêu cầu khách quan của dân tộc mà còn đáp ứng đúng nguyện vọng, lòng mong mỏi của đông đảo quần chúng, được nhân dân nhiệt thành ủng hộ và tạo khối đoàn kết vững chắc làm nên thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

 Nhất quán với mục tiêu đã xác định trong Chánh cương vắn tắt năm 1930 của Đảng, sau khi giành được độc lập dân tộc, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 03 - 9 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị thực hiện ngay các quyền cơ bản của nhân dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Người viết: “Hiện nay những vấn đề gì là cấp bách hơn cả. Theo ý tôi, có sáu vấn đề:

(...)

Vấn đề thứ sáu - Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(3). Tư tưởng này của Người được thể hiện tại Điều 10, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: “Công dân Việt Nam có quyền: ... Tự do tín ngưỡng...”(4).

Đất nước giành được độc lập, tạo cơ hội cho các tôn giáo có điều kiện phát triển và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng. Trong bức thư gửi phật tử Việt Nam, tháng 8 - 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Từ ngày nước ta trở nên Dân chủ Cộng hoà, Hiến pháp ta tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì Phật giáo cũng phát triển một cách thuận tiện.

Thế là: Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ mở mang”(5). Tuy nhiên, không bao lâu sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp lại trở lại xâm lược đất nước ta một lần nữa. Trước nguy cơ đó, toàn Đảng, toàn dân quyết nhất tề đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến vĩ đại, trường kỳ để giữ gìn độc lập cho non sông, bởi một chân lý hiển nhiên là “đất nước có độc lập, tôn giáo mới được tự do”.

Rõ ràng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ sự gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời giữa vấn đề dân tộc và tôn giáo. Theo Người, việc giải phóng dân tộc để thực hiện quyền tự do tín ngưỡng cũng phù hợp với lời khuyên chứa đựng ý nghĩa nhân văn của Đức Phật: Lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha (đem lại lợi ích và vui sướng cho mọi người, quên mình vì người khác) hay với những điều răn dạy của Chúa trong kinh Phúc âm. Người viết: “Chúa Cơ đốc sinh ra làm gương mọi giống phúc đức như: hy sinh vì nước vì dân, làm gương lao động, công bằng ruộng đất, tin thờ Chúa bằng tinh thần”(6). Với cách tiếp cận và giải thích như vậy, Hồ Chí Minh đã tìm được điểm tương đồng giữa đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc và mục đích của các tôn giáo. Điều này đã tạo cơ sở cho sự nhất trí cao và ủng hộ mạnh mẽ của các tín đồ tôn giáo đối với đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời là đòn tấn công bác bỏ mọi mưu toan đặt vấn đề tôn giáo đối lập với vấn đề dân tộc của kẻ thù hòng chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.

Có thể khẳng định rằng, với việc xem xét và giải quyết vấn đề tôn giáo trong mối quan hệ với vấn đề dân tộc cũng như gắn quyền độc lập dân tộc với quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lĩnh vực này vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Điều đó là phù hợp với mục tiêu hành đạo của các tôn giáo chân chính, bởi vì trong giáo lý của mình, các tôn giáo này không bao giờ dạy người ta phản lại tổ quốc, phản lại quê hương. Trong Báo cáo Đại hội những người công giáo yêu nước, linh mục Võ Thành Trinh nhấn mạnh rằng, “Người Công giáo hết lòng kính Chúa phải là người công dân thiết tha yêu nước, người Công giáo làm sáng danh Chúa phải đấu tranh cho quyền lợi dân tộc”(7). Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa các vấn đề dân tộc và tôn giáo, quyền độc lập dân tộc và quyền tự do tín ngưỡng cũng phù hợp với mục tiêu của Đạo Phật, đó là Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội.

2. Tương đồng giữa lý tưởng xã hội chủ nghĩa và đạo đức tôn giáo.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: "Trong toàn bộ tư tưởng cũng như cả quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hoặc độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là quan điểm cơ bản nhất, là cốt lõi nhất, là nguồn gốc hạt nhân chi phối hệ tư tưởng cũng như sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh"(8). Thực vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cơ bản, xuyên suốt trong tư tưởng của Người. Nó phản ánh đúng nguyện vọng của nhân dân lao động và phù hợp với tính quy luật phát triển của xã hội Việt Nam trong thời đại mới. Bởi vì, theo Hồ Chí Minh, chỉ hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội, và chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ được thành quả do sự nghiệp giải phóng mang lại. Đồng thời, chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui hoà bình, hạnh phúc. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của cách mạng là:

"Giải phóng nhân dân khỏi đói rét, khổ sở

Đem lại cho nhân dân tự do: tự do sống, tự do tín ngưỡng.

Bảo vệ độc lập cho tổ quốc

Nếu cộng sản thực hiện những điều trên tôi đoán chắc mọi người sẽ chấp nhận thứ cộng sản đó"(9).

 Rõ ràng, dưới bình diện chung và ở một mức độ nhất định, giữa lý tưởng cộng sản và đạo đức tôn giáo có những điểm tương đồng. Bởi, cả lý tưởng cộng sản và học thuyết tôn giáo chân chính đều muốn xoá bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, bất công và đều mong muốn cho tất thảy mọi người được sống trong hoà bình, hữu nghị và bình đẳng - một thế giới đại đồng, không có chế độ người bóc lột người. Những điều khẳng định trên được minh chứng bằng lịch sử ra đời cũng như những nội dung thấm đượm tinh thần nhân văn trong  giáo lý của các tôn giáo. Chẳng hạn, Kitô giáo sơ kỳ thực chất là cộng đồng của những người nô lệ, xuất hiện trước hết như một thứ tôn giáo của người nô lệ và bán tự do, những người nghèo và những người bị tước hết mọi quyền lợi. Mục đích của Kitô giáo là muốn xây dựng một thiên đường ngay bên cạnh Chúa và mọi thứ đều bình đẳng trước Chúa. Phật giáo cũng hướng đến mục đích xây dựng một cõi Niết bàn, mà ở đó, mọi người sẽ thoát khỏi bể khổ, trầm luân. Giáo lý của các đạo Thiên Chúa giáo, Phật giáo… đều khuyên con người ta sống hướng thiện, không làm điều ác, thất đức…

Khi nghiên cứu các học thuyết tôn giáo: Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồ Chí Minh đã rút ra những kết luận khái quát, ngắn gọn, xúc tích, phản ảnh đúng tư tưởng chủ đạo của các tôn giáo đó. Người ca ngợi Đức Phật Thích Ca “bỏ hết công danh phú quý để đi cứu vớt chúng sinh tức là cứu vớt những người lao động nghèo khổ”, hay “Đức Thiên Chúa là tấm gương hy sinh triệt để vì những người bị áp bức, vì những dân tộc bị đè nén, vì hoà bình, vì công lý"(10).

Như vậy, với việc lý giải tính "đồng" giữa lý tưởng cộng sản và mục tiêu của tôn giáo, Hồ Chí Minh đã thể hiện sự vận dụng và phát triển một cách sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo. Bởi vì, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ chủ yếu bàn đến những luận điểm chung về mục đích giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội. Nhưng, đến Hồ Chí Minh, các vấn đề đó được Người phát triển sâu hơn, cụ thể hơn. Không chỉ gắn những điểm chung ấy với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, Người còn đề cập đến khía cạnh đạo đức của tôn giáo. "Đức Giêsu hy sinh vì muôn loài được tự do hạnh phúc", "Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn người phải hy sinh diệt lũ ác ma". Và thông qua sự vận dụng sáng tạo đó, Hồ Chí Minh đã bổ sung cho lý luận Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo thêm hoàn bị.

Như vậy, có thể rút ra một kết luận rằng, giữa lý tưởng của các tôn giáo với lý tưởng xã hội chủ nghĩa có nhiều điểm tương đồng về mục đích: Đó là đều mong muốn xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người. Tuy mục tiêu của các tôn giáo là xây dựng Thiên đàng, Niết bàn ở thế giới bên kia, khác với chủ nghĩa xã hội là xây dựng Thiên đàng, Niết bàn ngay trên trần thế, song Hồ Chí Minh đã chủ động khai thác yếu tố hợp lý trong các tôn giáo, dẹp bỏ những nét dị biệt nhỏ, giữ lại những điểm tương đồng lớn nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết, hướng đến mục tiêu phụng sự lợi ích của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Cho đến nay, những quan điểm của Người về sự kế thừa những yếu tố tích cực trong các tôn giáo cũng như các học thuyết nói chung vẫn còn nguyên giá trị: "Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có quan điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ ngồi lại với nhau một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy"(11).

Tựu trung lại, vấn đề mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo chiếm giữ một vị trí quan trọng trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó luôn được Người quan tâm, xem xét và giải quyết một cách biện chứng. Vì vậy, quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này là một trong những cơ sở bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều này càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết, đặc biệt trong bối cảnh thế giới hiện nay, một số quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đang rơi vào tình trạng bất ổn, xung đột gay gắt do không giải quyết thoả đáng, đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo.

 


(*)Thạc sĩ triết học, Phân viện Hà Nội - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.1.  Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 22 - 23.

(2) Hồ Chí Minh. Sđd.,  t.3, tr. 205.

(3) Hồ Chí Minh. Sđd.,  t.4, tr. 7-9.

(4) Hiến pháp Việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.10.

(5) Hồ Chí Minh. Sđd.,  t.5, tr. 197.

(6) Hồ Chí Minh. Sđd.,  t.7, tr. 197.

(7) Võ Thành Trinh. Báo cáo tại Đại hội toàn quốc người Công giáo Việt Nam xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ hoà bình, 1983.

(8) Phạm Văn Đồng. Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh.  Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 21.

(9) Dẫn theo: Trần Tam Tỉnh.  Thập giá và Lưỡi gươm.  Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1998, tr. 73 – 74.

(10) Dẫn theo: Viện Nghiên cứu tôn giáo. Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, tr. 13.

(11) Dẫn theo: Trần Dân Tiên. Hồ Chí Minh truyện (Trương Niệm Thúc dịch). Nxb Tam Liên, Thượng Hải, 1949, tr. 91.

Đã xem: 1555
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 03:44
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất