QC Shop

Con người nhìn từ góc độ văn hóa - xã hội

NCV. Nguyễn Kim Lai(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 6 (157), tháng 6 - 2004

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Hiện tượng con người luôn là vấn đề trung tâm của những suy ngẫm và tìm tòi của các nhà triết học từ xưa tới nay. Trong thời đại ngày nay, cộng đồng nhân loại đang có rất nhiều khả năng để lần đầu tiên, thực hiện được luận điểm đầy tinh thần nhân văn của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người"(1). Song, cũng lần đầu tiên, cả cộng đồng nhân loại đang phải "hao tâm, tốn trí" để đối phó với những mối nguy hiểm luôn tiềm ẩn, đe dọa bản thân sự tồn tại của con người với tư cách "một thực thể có tính loài". Chính vì vậy mà vấn đề con người, bản chất của con người và con đường hiện thực hóa tính người nơi con người lại càng trở nên bức bách hơn bao giờ hết.

Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, nhiều nhà triết học đã nhận thấy cần phải có một cách tiếp cận phức hợp với con người, cách tiếp cận đòi hỏi phải nghiên cứu con người vừa như một thực thể tự nhiên, vừa như một thực thể xã hội, đồng thời phải xác lập mối tương quan giữa các phương diện đó trong con người. Trong các tài liệu về nhân học của chúng ta trước đây, nhiều tác giả thường đặt trọng tâm vào việc thừa nhận bản chất xã hội của con người. Luận điểm về bản chất con người - " Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội (chúng tôi nhấn mạnh - N.K.L)"(2) - mà C.Mác đưa ra khi thế giới quan mácxít mới hình thành đã đóng vai trò chủ đạo trong thời kỳ này, cũng như giai đoạn sau đó. Luận điểm ấy cho thấy, quan điểm của C.Mác về bản chất con người hoàn toàn khác với luận điểm coi con người là một thực thể tự nhiên của chủ nghĩa duy vật trước đó, kể cả chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc. Thế nhưng, có một điểm mà chúng ta cần lưu ý - đó là bản chất tự nhiên của con người dường như bất biến trong tiến trình phát triển lịch sử của nhân loại, còn con người với tư cách một thực thể xã hội lại luôn biến đổi. Do vậy, từ luận điểm này của C.Mác, theo chúng tôi, để có được nhận thức đúng đắn về con người, về bản chất con người với tư cách con người, chúng ta cần phải quan tâm tới xã hội đã hình thành nên con người, xã hội mà con người là sản phẩm biến đổi của nó.

Định hướng phương pháp luận đúng đắn này đã thực sự được sử dụng làm cơ sở để phủ định bất kỳ quan điểm sinh học hóa nào về con người, để bác bỏ mọi ý định giải thích hành vi của con người và tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại không phải bằng những nguyên nhân xã hội mà bằng tác động của các nhân tố sinh học, tự nhiên.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc nhắc đi nhắc lại, thậm chí ngay cả những luận điểm đúng đắn, mà không quan tâm tới hiện thực đang không ngừng biến đổi tất yếu khiến cho tri thức lý luận trở thành giáo điều. Thực tế hiện nay cho thấy, nhiệm vụ luận chứng và bảo vệ bản tính sinh học của con người đang được đặt lên hàng đầu, vì nó đang phải hứng chịu nhiều tác động tai hại, như hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường sống, hậu quả của những tình huống gây sốc trong xã hội,... Do vậy, tính bất biến của bản tính sinh học với tư cách cơ sở tự nhiên cho đời sống xã hội của con người đang trở thành một tài sản, một giá trị và việc bảo vệ nó hiện đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu. Nếu con người thuộc về sinh quyển trái đất, còn sinh quyển thì lại đang bị phá huỷ, tất sẽ nảy sinh nguy cơ đối với tồn tại xã hội của con người.

Sự tồn tại của con người không thể tách rời tự nhiên, song xét đến cùng, sự sống trên trái đất có thể tồn tại thiếu con người. Do vậy, con người cần phải biết những tham số nào của sinh quyển có khả năng đảm bảo sự tồn tại của con người như một sinh vật và con người cần phải làm gì để bảo vệ chúng. Tất cả những điều đó có nghĩa rằng, trong điều kiện khủng hoảng sinh thái ngày một trở nên trầm trọng, xã hội phải có trách nhiệm bảo vệ sinh quyển và bộ phận tương đối nhỏ của nó mà ở đó, sự sống của con người tồn tại. Theo đó, vấn đề mối tương quan giữa cái sinh họccái xã hội đang được bản thân hiện thực khách quan đặt ra như một vấn đề gay gắt, cấp bách, có ý nghĩa hàng đầu và hiện đang được bổ sung những nội dung mới. Đây là một yếu tố mà chúng ta không thể không tính đến khi phân tích bản chất xã hội của con người.

Ngày nay, đặc trưng về bản tính xã hội của con người còn bị "tấn công" từ một phía khác nữa. Đó là: Nếu "bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội", thì một điều rõ ràng là trong trường hợp này, chúng ta đề cập không phải tới con người riêng biệt, mà là tới con người xã hội, con người như một thực thể xã hội, con người tự nó. Nhưng, cách tiếp cận như vậy là không đủ đối với những kết quả nghiên cứu phức hợp về con người. Ngoài việc xem xét con người như một thực thể xã hội, cách tiếp cận phức hợp còn đòi hỏi phải xem xét con người như một cá thể độc lập, như một cá nhân riêng biệt trong cộng đồng xã hội. Từ đó đã xuất hiện một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận là xác định các tiêu chí về sự khác biệt ấy và các cách thức để nhận thức con người với tư cách cá thể, cá nhân. Vấn đề này chỉ được giải quyết khi sự phân tích bản chất xã hội của con người có tính đến sự tồn tại của con người trong một nền văn hóa xác định với tư cách một phương diện chủ thể - nhân cách của tiến trình phát triển lịch sử. Bản tính xã hội của con người bao giờ cũng gắn liền với những hình thức xác định của văn hóa và nó cũng chỉ biểu hiện ra dưới dạng như vậy. Thông qua sự tiếp xúc với văn hóa, thông qua sự nắm bắt văn hóa, con người có được năng lực hoạt động sáng tạo hợp mục đích, năng lực trở thành người đại diện cho những quan hệ xã hội xác định.

Do vậy, có thể nói, sự phân tích xã hội về phương diện văn hóa - xã hội là cách tiếp cận mở ra triển vọng nhận thức con người trong tính chỉnh thể đích thực của nó.

Con người luôn tồn tại và hoạt động như một thực thể xã hội. Bởi lẽ, ngay từ lúc mới ra đời, con người đã tham gia vào một hệ thống quan hệ nhất định với những người khác: quan hệ xã hộiquan hệ giao tiếp.

Quan hệ xã hội xuất hiện từ những nhu cầu nhất định của con người (kinh tế, chính trị, v. v.) và là cái quy định kết cấu siêu cá nhân, cái được giữ lại khi có sự thay thế giữa các thế hệ. Khi tồn tại và hoạt động trong một xã hội cụ thể, tồn tại và hoạt động trong mối quan hệ này, con người phải hoàn thành các chức năng hay vai trò xã hội nào đó do những quan hệ ấy quy định. Để đóng một vai trò cụ thể trong mối quan hệ này, con người cần phải nắm bắt vai trò ấy, thâm nhập vào nó, tạo dựng mối quan hệ nội tại với nó và do vậy, con người dường như hoà vào mối quan hệ này, hoặc phải loại trừ nó ra khỏi đời sống xã hội của mình. Trong đời sống xã hội của mình, con người phải hoàn thành các vai trò khác nhau, phải trở thành tác nhân của tổng thể các quan hệ này. Do vậy, quan hệ xã hội này luôn mang tính siêu cá nhân, là cái bên ngoài đối với cá nhân, đồng thời trở thành tính quy định xã hội nội tại của hành vi con người. Quá trình mà trong đó, con người thích nghi với các điều kiện xã hội, nắm bắt vai trò xã hội, tạo dựng những phẩm chất, năng lực làm cho bản thân mình trở thành một thực thể xã hội trong một xã hội cụ thể, đồng thời hoàn thành những chức năng xã hội nhất định, được gọi là quá trình xã hội hóa. Đây là quá trình mà con người thể hiện ra là con người xã hội, quá trình chuyển biến của con người từ thực thể tự nhiên thành thực thể xã hội, thành con người với tư cách một cá nhân cụ thể trong một xã hội cụ thể.

Mặc dù các cá thể tham gia vào những quan hệ xã hội, nhưng tác nhân (chủ thể) của chúng không phải là những cá nhân riêng biệt, mà là các cộng đồng người - các nhóm xã hội khác nhau, các giai cấp và các thiết chế xã hội kiện toàn những quan hệ ấy. Do vậy, chúng mang tính chất siêu cá thể. Mọi cá thể riêng biệt khi tham gia vào những quan hệ này đều phải hoàn thành những chức năng do chúng quy định. Với tư cách là đại diện của chức năng ấy, cá thể tham gia vào quan hệ với những người khác. Ví dụ như, trong các cuộc thương thuyết giữa các quốc gia, các nhà ngoại giao đại diện không phải cho bản thân mình, mà đại diện cho quốc gia của mình. Khi đó, quan hệ giữa các nhà ngoại giao mang tính chức năng thuần tuý. Và, người ta phán xét các nhà ngoại giao này theo tiêu chí là họ có phù hợp hay không phù hợp với sứ mệnh, chức năng của mình.

Khác với quan hệ xã hội, quan hệ giao tiếp là quan hệ giữa các cá nhân, quan hệ chủ thể - chủ thể. Khi tham gia vào các quan hệ giao tiếp, con người không đại diện cho bất kỳ ai ngoài bản thân mình và cũng không hoàn thành bất kỳ chức năng hay vai trò nào. Con người thể hiện ở đây chỉ đơn giản như là một nhân cách, một cá tính. Chẳng hạn, đối với quan hệ bạn hữu, câu nói "tôi đóng vai người bạn" đối với một người nào đó lại chứng tỏ chính điều ngược lại - những tình cảm không bạn hữu bị che đậy. Chỉ có thể đóng vai người bạn trên sàn diễn chứ không phải trong cuộc sống. Thí dụ này cho thấy rõ sự khác nhau giữa hai loại hình quan hệ nêu trên. Song, giữa chúng không có ranh giới tuyệt đối không thể vượt qua. Nhu cầu giao tiếp vốn có của con người là một trong những sự biểu hiện bản tính xã hội của họ. Quan hệ về mặt vai trò - chức năng cũng luôn được thể hiện theo cách này hay cách khác trong lĩnh vực giao tiếp dưới hình thức sự tác động qua lại giữa quan hệ xã hội và quan hệ cá nhân. Và, những quan hệ cá nhân cũng có ảnh hưởng đến việc cá nhân ấy hoàn thành các chức năng của mình trong lĩnh vực tương tác xã hội.

Như vậy, giao tiếp là quan hệ được xác lập một cách có ý thức giữa các chủ thể là những cá nhân cụ thể và chỉ tồn tại trong sự tác động qua lại giữa họ với nhau. Quan hệ giao tiếp có thể tồn tại lâu dài, hoặc tương đối ngắn ngủi. Nhưng nó không tạo thành một cơ cấu siêu cá nhân nào cả. Khác với quan hệ xã hội là cái phản ánh những nhu cầu xã hội này hay khác, quan hệ giao tiếp chỉ biểu thị lợi ích và sở thích cá nhân, chỉ phản ánh những phẩm chất cá nhân của con người. Có nhiều hình thức giao tiếp và đó có thể là sự giao tiếp gián tiếp hay sự giao tiếp trực tiếp, gắn liền với cả chủ thể hiện thực lẫn chủ thể tưởng tượng, với cả con người hiện còn sống lẫn con người đã rời khỏi cuộc đời này khi người giao tiếp tưởng nhớ người đã khuất hay hướng vào di sản tinh thần của người đã khuất. Như vậy, việc nắm bắt văn hóa tinh thần - đó chính là sự giao tiếp với những người sáng tạo ra văn hóa tinh thần ấy, cho dù họ sống ở bất kỳ thời đại nào(3).

Thuật ngữ "xã hội hóa", theo chúng tôi, đã tách biệt cái chung đặc trưng cho quá trình hình thành con người như một thực thể xã hội. Nhưng con người lại không giống nhau, mà là khác nhau. Tự nhiên đã xắp đặt những sự khác nhau về gen giữa những cá thể. Cá tính, tính độc đáo của mỗi cá nhân hình thành trong sự tác động qua lại giữa, một mặt, là những yếu tố bẩm sinh, và mặt khác, là những điều kiện xã hội và văn hóa. Do vậy, có thể nói, quá trình xã hội hóa con người cũng đồng thời là quá trình cá thể hóa, quá trình làm nảy sinh những phẩm chất, đặc điểm, đặc thù về nhân cách của mỗi cá thể cụ thể.

Phân tích phương diện này của quá trình xã hội hóa chính là bước chuyển từ cái chung sang cái riêng và cái đặc thù - sang con người cụ thể, chuyển từ đặc trưng về bản chất xã hội của con người - con người với tư cách thực thể xã hội sang việc nghiên cứu một cá nhân cụ thể. Sự phân tích này luôn cần đến những dữ liệu có liên quan tới các tiền đề phát sinh của tính độc đáo và văn hóa của xã hội ấy, tức là cách tiếp cận phức hợp. Nói cách khác, việc nhận thức con người như một cá tính toàn vẹn không thể không mang tính phức hợp(4).

Danh từ "cá tính" còn có một sắc thái khác nữa và đã được ghi nhận như là một vấn đề tối quan trọng. Đó là mức độ cá thể hóa khác nhau của con người. Do mức độ cá thể hoá khác nhau, nên quá trình cá thể hóa cũng dẫn tới những kết quả rất khác nhau, rất đa dạng. Không có hai người tuyệt đối giống nhau và do vậy, nên việc đánh giá cá tính của một người có quan hệ chặt chẽ với đặc trưng về nhân cách của người đó.

Quá trình hình thành con người như một nhân cách cũng chính là quá trình con người tham gia vào đời sống xã hội. Hiện đang có nhiều quan điểm khác nhau về nhân cách. Do đó, không thể đề cập tới tất cả những quan điểm ấy ở đây. Chúng tôi chỉ muốn lưu ý rằng, trong nhiều quan điểm nhân cách được coi là nét đặc trưng cho con người như một chủ thể hoạt động có ý thức, có trách nhiệm về những hành vi của mình; như một chỉnh thể mang tính chủ quan cùng với thế giới tinh thần của mình, có năng lực tự ý thức, tự đánh giá và giao tiếp với những nhân cách khác. Rằng, nhân cách - đó là một đơn vị của tồn tại và được gọi là "cái Tôi", trong nó hình thành quan hệ của cá thể với thế giới, với xã hội, với những "cái Tôi" khác. Và, có thể xác định quá trình hình thành nhân cách như là quá trình nhân cách hóa con người, quá trình diễn ra trong một hệ thống quan hệ xã hội và trong thế giới văn hóa gắn liền với chúng.

Như vậy, xét về mặt phát sinh cá thể, quá trình phát triển của con người bao gồm ba bộ phận cấu thành có liên hệ qua lại với nhau  như là ba phương diện của một quá trình thống nhất: 1). Xã hội hóa, tức là việc nắm bắt kinh nghiệm xã hội và những tri thức làm cho cá thể trở thành một thực thể sống và hoạt động trong một xã hội cụ thể; 2). Cá thể hoá, tức là quá trình hình thành những phẩm chất phân biệt một cá thể này với cá thể khác; 3). Nhân cách hóa, tức là quá trình hình thành nhân cách. Quá trình này là đối tượng nghiên cứu của cách tiếp cận phức hợp - cách tiếp cận đòi hỏi gắn liền cách tiếp cận văn hóa - xã hội với những cơ sở tự nhiên của tồn tại người.

Cách tiếp cận văn hóa - xã hội với con người cho phép chủ thể nhận thức loại bỏ được sự phân chia quan niệm về con người như một thực thể xã hội và như một chủ thể văn hóa. Cách tiếp cận này ngày càng được giới nghiên cứu thừa nhận rộng rãi, vì nó không chỉ mở rộng quan niệm về sự phát triển con người, mà còn đem lại cho người nghiên cứu khả năng sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể. Ngoài ra, cách tiếp cận này còn giúp cho người nghiên cứu một cơ sở phương pháp luận để phân tích quá trình phát triển lịch sử xã hội từ lát cắt các nền văn minh.

Hiện nay, cách tiếp cận văn minh đã trở nên phổ biến rộng rãi, được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng trong các công trình nghiên cứu xã hội của mình. Không đi sâu vào vấn đề này, chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, khái niệm "nền văn minh" thường được hiểu như là một kết cấu văn hóa - xã hội. Do vậy, cách tiếp cận văn minh gắn liền vấn đề phát triển của con người với triển vọng phát triển của nền văn minh nhân loại trong thời đại hiện nay.

Lý tưởng về con người tích cực, hoạt động, cố gắng tự khẳng định, phát triển và bộc lộ những năng lực của mình, thể hiện bản chất "loài" của mình thường được coi là sản phẩm của nền văn minh phương Tây, của nền văn hóa phương Tây. Thực ra, ở đây đã xuất hiện vấn đề về vai trò đặc thù của văn hóa trong quá trình hình thành một lý tưởng như vậy về con người. Theo V.M.Megiuep, khái niệm "văn minh" gắn liền với con người bộ phận, còn văn hóa - với con người chỉnh thể, do vậy văn hóa đóng vai trò là bản nguyên, là cơ sở nền tảng của các nền văn minh(5). Có thể coi đây là một nhận xét xác đáng, song cũng cần lưu ý rằng, con người bộ phận cũng tồn tại trong văn hoá. Quá trình xã hội hóa và nhân cách hóa cá thể diễn ra trong suốt quá trình cá thể nắm bắt nền văn hóa đang tồn tại, nắm bắt những giá trị và chuẩn mực của nền văn hoá đó. Con người có khả năng phát triển, sáng tạo và đóng góp vào tiến trình phát triển lịch sử, vì nó kế thừa được kinh nghiệm và tri thức của các thế hệ đi trước. Các lý tưởng, giá trị, chuẩn mực, truyền thống và tri thức bao giờ cũng để lại dấu ấn của chúng trong mỗi thế hệ con người, trong mỗi con người, giúp cho con người chỉnh lý hành vi của mình và làm cho phương thức tồn tại chung của họ trở nên có thể. Với tư cách như vậy, chúng còn tham gia vào tiến trình phát triển của các thiết chế văn minh, thể hiện sự thống nhất giữa bản nguyên chủ quan và bản nguyên khách quan của đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, không chỉ các nền văn minh mới có tính đa dạng, mà cả các nền văn hóa cũng có tính đa dạng của chúng. Do vậy, khi luận giải lý tưởng phát triển cá nhân, triển vọng phát triển của con người từ các giá trị văn hóa phương Tây, không thể không xác định xem những lý tưởng và giá trị ấy có thể chấp nhận được ở chừng mực nào đối với các nền văn hóa hiện đại khác. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp, nhưng cũng hết sức cần thiết trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Về vấn đề này, cần phải thừa nhận rằng, nền văn minh phương Tây là cái đang chiếm ưu thế trong một thế giới đầy phức tạp và phụ thuộc lẫn nhau. Khoa học và công nghệ, các giá trị văn hoá, các mô hình lý tưởng của phương Tây đang được phổ biến khắp thế giới. Và, đứng đằng sau tất cả những cái này là một mô hình lý tưởng về con người theo quan niệm phương Tây. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các nền văn minh không phải phương Tây là ở chỗ tiếp nhận lý tưởng đó như thế nào, tiếp nhận theo tiêu chí nào.

Theo chúng tôi, tiêu chí về sự tiếp nhận như vậy chính là thái độ của các nền văn minh không phải phương Tây đối với tiến bộ khoa học - kỹ thuật, với trình độ phát triển công nghệ và khả năng tiếp nhận những thành tựu đó. Đương nhiên, một nền văn hóa nào đó có khả năng dung hợp được với những tiến bộ khoa học, giáo dục, công nghệ này thì nó không cần phải gạt bỏ hay vượt ra khỏi quan niệm truyền thống về lý tưởng sự phát triển cá nhân.

Về vấn đề này, có thể coi Nhật Bản là một ví dụ điển hình. Với nền văn hóa không phải phương Tây, Nhật Bản đã trở thành quốc gia đầu tiên thực hiện bước chuyển sang xã hội hậu công nghiệp. Người ta cho rằng, cái làm nên "phép màu" của Nhật Bản là ở chỗ, họ áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ của phương Tây trong khi vẫn duy trì và phát triển nền văn hoá truyền thống, làm cho chúng hoà nhập vào nhau như hình với bóng. Truyền thống văn hóa Nhật Bản không những không đề cao chủ nghĩa cá nhân theo quan niệm của phương Tây mà trái lại, còn thừa nhận một cách phổ biến truyền thống gia đình và coi đó như một giá trị bền vững. Họ đã sử dụng chính văn hóa này để phát triển sản xuất và, điều vô cùng quan trọng, cách làm này không những không gây ra những trở ngại cho sự phát triển kinh tế, cải biến xã hội, mà còn trở thành động lực thúc đẩy các quá trình này đi đến thành công.

Ở các quốc gia có nền văn minh Khổng giáo, như Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, người ta đã đưa ra những cách lý giải khác nhau về Khổng giáo, trong đó có những lý giải cho rằng, trong hệ tư tưởng Khổng giáo luôn có những tư tưởng hoà nhập được với tiến bộ khoa học và công nghệ, như thái độ tôn trọng tri thức, chủ nghĩa duy lý, thái độ quan tâm đến tự nhiên chứ không phải chống lại tự nhiên, v.v.. Mặc dù tư tưởng nhân văn cũng là cái xuyên suốt lý tưởng về con người trong Khổng giáo, song lý tưởng này vẫn khác với lý tưởng về con người theo quan niệm phương Tây. Nhiều học giả phương Tây kết tội Khổng giáo là học thuyết phản tiến bộ, chỉ biết bắt cá nhân phục tùng cộng đồng và đề cao kết cấu siêu cá nhân. Họ không thấy rằng, dẫu sao thì nền văn minh Khổng giáo cũng vẫn có khả năng đồng hóa những thành tựu của các dân tộc, các nền văn hóa khác, trong đó có cả khả năng giải quyết vấn đề con người ở cấp độ văn minh chung.

Theo đó, có thể nói, việc hiện thực hoá lý tưởng phương Tây về sự phát triển cá nhân trong các nền văn hóa ngoài phương Tây là điều không đơn giản. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng, việc phổ biến hệ thống giáo dục, các thành tựu khoa học - công nghệ và quan hệ kinh tế đi liền với chúng của nền văn minh phương Tây sang các nước đang phát triển không tự động dẫn tới sự chấp nhận các khuôn mẫu phát triển con người theo sự áp đặt của phương Tây. Trong nhiều trường hợp, bản thân sự phổ biến này sang một khu vực khác ngoài phương Tây gây nên sự phản kháng của nền văn hóa bản địa. Bởi lẽ, cái đi cùng với sự du nhập công nghệ phương Tây là nền văn hóa phương Tây với cái nhìn của riêng nó về thế giới, với quan niệm duy lý về con người, với những giá trị và sự định hướng của nó. Người ta gọi sự bành trướng của nền văn hóa là "chủ nghĩa đế quốc về văn hóa", thứ chủ nghĩa đàn áp văn hóa dân tộc và dẫn đến "chủ nghĩa dân tộc về văn hóa".

Thực tiễn cũng cho thấy, sự du nhập công nghệ phương Tây vào các nước đang phát triển đôi khi còn dẫn đến những hậu quả tiêu cực, bởi nó không những không làm tăng trình độ học vấn và phúc lợi cho đông đảo quần chúng nhân dân, mà còn không dẫn tới sự phát triển con người. Tại nhiều xí nghiệp sử dụng công nghệ cao ở các nước đang phát triển lại có nhiều công nhân bản địa không có trình độ chuyên môn cao. Tại đây, người ta chỉ sử dụng sức lao động rẻ mạt như một điều kiện thuận lợi để dịch chuyển một số ngành sản xuất nào đó sang các nước đang phát triển.

Trên thực tế, nhu cầu xã hội về sự phát triển cá tính con người xuất hiện không phải do tác động của những yếu tố riêng biệt nào đó, dù đó có là những yếu tố quan trọng của tồn tại người, mà là do nhu cầu phát triển văn hóa - xã hội, do những đòi hỏi bức bách của việc hoàn thiện hệ thống văn hoá - xã hội trên nền tảng của nền văn hoá dân tộc và kết cấu xã hội truyền thống. Chính vì vậy, nghiên cứu con người từ góc độ văn hóa - xã hội là hết sức cần thiết trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự gia tăng quá trình tương tác giữa các nền văn minh trong thời đại ngày nay.                   

 

 


(*) Nghiên cứu viên, Viện Triết học.

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 628.

(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr. 11.

(3) Xem: M.S.Cagan. Thế giới giao tiếp. New York, 2002, tr. 100-181 (tiếng Anh).

(4) Xem: I.T.Phrôlốp. Về con người và chủ nghĩa nhân đạo. Mátxcơva, 1989, tr. 25 (tiếng Nga).

(5) Xem: V. M. Megiuép. Giữa quá khứ và tương lai. Mátxcơva, 1996, tr.5 - 6 (tiếng Nga).

Đã xem: 940
Thời gian đăng: Thứ tư - 17/06/2015 04:55
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất