QC Shop

Di truyền học và giá trị sinh thái

Ths. Nguyễn Văn Việt

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Di truyền học là lĩnh vực đang có tính thời sự và liên quan đến hệ thống giá trị sinh thái. Nếu nói rằng, những giá trị sinh thái chỉ mới xuất hiện gần đây do hệ quả của những nghiên cứu và áp dụng khoa học thì chưa hẳn đã là chính xác. Nhưng nếu khẳng định rằng, chính những tác động của việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học tự nhiên, đặc biệt là di truyền học, là nguyên nhân cơ bản đánh thức ý thức con người về nhu cầu bảo vệ thiên nhiên và từ đó, hình thành giá trị sinh thái theo đúng nghĩa vì môi trường sống, thì điều đó hoàn toàn có cơ sở. Việc làm sáng tỏ luận điểm này cũng là làm sáng tỏ ảnh hưởng của khoa học tự nhiên nói chung, di truyền học nói riêng đối với hệ thống giá trị văn hoá sinh thái.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Chúng tôi nhất trí với quan niệm của Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Thị Ngọc Trầm khi khẳng định "có thể hiểu văn hoá sinh thái là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tác động và biến đổi giới tự nhiên nhằm tạo ra một môi trường sống phù hợp hơn, đáp ứng đầy đủ hơn những nhu cầu sống ngày càng tăng của con người, sự tồn tại và phát triển không ngừng của xã hội"(1). Theo chúng tôi, mặc dù khái niệm đưa ra khá rộng, song nó lại phản ánh được một cách khái quát những hình thức biểu hiện khác nhau cũng như ý nghĩa, vai trò của giá trị sinh thái. Theo cách hiểu này, những giá trị sinh thái bao gồm toàn bộ những giá trị nảy sinh trong mối quan hệ, tương tác giữa con người và tự nhiên và vì thế, nó là biểu hiện đặc thù của hệ thống giá trị văn hoá nói chung. Các giá trị văn hoá sinh thái có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, thông qua những giá trị tinh thần hay vật chất, như tư tưởng, quan niệm, biểu tượng, lối sống, những tạo phẩm vật chất trong nghệ thuật, kiến trúc, v.v.. Một trong những giá trị tinh thần căn bản trong hệ thống giá trị đó là tinh thần tôn trọng và yêu quý thiên nhiên.

Có thể nói, tinh thần yêu quý, tôn trọng thiên nhiên đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử mối quan hệ giữa con người và tự nhiên và ngày nay, nó đã trở thành một trong những giá trị văn hoá sinh thái truyền thống. Thời cổ đại, khi mà trình độ hiểu biết và chế ngự thiên nhiên còn thấp, con người thường coi những lực lượng của tự nhiên như một vị thần thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Đối với họ, tự nhiên là thần Sấm, thần Sét, thần Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, thần Dớt, v.v.. Sự tôn trọng, yêu quý và cả sợ sệt trước những sức mạnh của các vị thần thiên nhiên đó tạo nên một thái độ tôn trọng và yêu quý thiên nhiên.

Đối với một số nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, tình cảm yêu quý, tôn thờ thiên nhiên đó là do những điều kiện đặc thù quy định, luôn được giữ vững, bồi đắp để ngày nay, nó vẫn còn tồn tại với tư cách một giá trị căn bản trong quan hệ con người - tự nhiên. Lý giải cho điều này, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, "trong các ứng xử với môi trường tự nhiên, nghề trồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên, ra hoa, kết trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và ước vọng sống hoà hợp với thiên nhiên"(2). Về mặt tư tưởng, tình cảm tôn trọng và yêu quý thiên nhiên được kết tinh trong triết lý nhân sinh của các triết thuyết Nho, Lão, Phật, từ đó ảnh hưởng đến nhân sinh quan của quảng đại quần chúng. Nó đã biến thành phương châm hành động, thành lối ứng xử hàng ngày của quảng đại quần chúng: "Thiên - địa - nhân", "Thiên nhân hợp nhất", "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên".

Như vậy, có thể nói, tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên để có lối sống hoà đồng với thiên nhiên, trước hết có nguồn gốc từ sự bất lực của con người trước sức mạnh tự nhiên, gắn liền với những triết thuyết có tính chất tôn giáo. Điều đó chứng tỏ rằng, ý thức tôn trọng và yêu quý thiên nhiên với tư cách giá trị sinh thái không hoàn toàn xuất phát từ ý thức đầy đủ về vị trí, vai trò của nó đối với con người, nghĩa là nó không đúng với nghĩa ý thức sinh thái hiện đại như chúng ta hiểu ngày nay. Chính vì vậy mà có ý kiến cho rằng, chỉ trong xã hội hiện đại, khi mà sức khai thác tự nhiên của con người đã vượt quá khả năng cân bằng của môi trường sinh thái, làm cho nó suy thoái nghiêm trọng, đẩy con người đến trước nguy cơ huỷ diệt chính mình thì vấn đề môi trường mới được đặt ra như một nhu cầu cấp thiết, nóng bỏng. Trong bối cảnh như vậy, các quan điểm đạo đức sinh thái đã xuất hiện(3). Mặc dù vậy, cũng cần phải thừa nhận rằng, tư tưởng yêu quý, tôn trọng và hoà đồng với thiên nhiên của người phương Đông trong thời đại chúng ta đang sống lại và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ sinh thái. Nói cách khác, mặc dù tư tưởng tôn trọng thiên nhiên có xuất phát điểm chủ yếu là giá trị tôn giáo, gắn với sự bất lực của con người trước tự nhiên, với hoàn cảnh sống đặc thù, nhưng trong điều kiện ngày nay, nó lại có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thoả mãn nhu cầu bảo vệ cuộc sống của con người và trở thành một trong những giá trị sinh thái truyền thống.

Vấn đề sinh thái theo nghĩa hiện đại với tư cách của một lý thuyết đầy đủ, do nhận thức được nguy cơ của sự huỷ hoại môi trường từ những hoạt động thiếu ý thức của con người, thực sự chỉ xuất hiện vào khoảng những năm 40 của thế kỷ XX. Với triết lý con người là trung tâm của vũ trụ, con người tự cho mình cái quyền khai thác tự nhiên không hạn chế. Hành động đó đã dẫn đến hệ quả là tàn phá môi trường sống, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất thế cân bằng có lợi cho môi trường sống. Chính trong bối cảnh như vậy, những giá trị liên quan đến việc bảo vệ môi trường được quan tâm đặc biệt. Sự xuất hiện các quan niệm khác nhau về giá trị sinh thái hiện đại là hệ quả tất yếu của xu hướng này. Song song với việc hình thành các quan điểm sinh thái mới, các giá trị sinh thái truyền thống bắt đầu gây sự chú ý, được đề cao và phát triển thêm, trong đó đặc biệt phải kể đến những giá trị sinh thái truyền thống phương Đông. Điều này chứng tỏ rằng, sự nảy sinh giá trị sinh thái trên cơ sở ý thức đầy đủ về vị trí và vai trò của môi trường tự nhiên chỉ thực sự xuất hiện trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định, việc nảy sinh những giá trị sinh thái đã có cội rễ từ thời cổ đại và đặc biệt phát triển mạnh mẽ với tư cách quan điểm sinh thái hiện đại từ những năm 40 của thế kỷ XX. Ảnh hưởng của di truyền học chủ yếu không phải là ở chỗ là phát động ý thức sinh thái, mà ở chỗ thổi bùng lên sự quan tâm đó, làm cho phạm vi và cường độ của sự quan tâm này tăng lên, đồng thời cũng làm biến đổi tính chất của sự quan tâm về môi trường sinh thái.

Thật vậy, sự xuất hiện những cây trồng biến đổi gen (1973), cừu Dolly (1996), và gần đây là việc hoàn thành bản đồ gen người (2000, 2003) đã như những xúc tác kích thích làm cháy bùng lên sự quan tâm đến môi trường, đồng thời cũng mở ra nhiều loại quan tâm mới. Một mặt, sự phát triển của các kỹ thuật di truyền đang lôi kéo hầu hết các quốc gia, tổ chức, cá nhân trên khắp hành tinh này phải chú ý đến những hệ quả môi trường và những ứng dụng của nó. Mặt khác, những đề tài cũ về môi trường sống vẫn có một sự chú ý nào đó, song đã không còn đặc biệt như trước nữa, thay vào đó là những câu hỏi liên quan đến kỹ thuật mới, chẳng hạn như chúng ta có được phép xen vào bản thân sự sống hay không, những động vật và thực vật có giá trị bản tính hay không, làm sao để có được sự an toàn sinh học cho môi trường, v.v.?

Để chứng minh cho khẳng định này, chúng tôi xin phép nêu lên một vài con số thực tế. Mỹ là nước đi đầu trong việc ủng hộ sản xuất các sinh vật biến đổi gen (GMOS), trong khi làn sóng phản đối những ứng dụng này vẫn không ngừng tăng. Nhiều tổ chức quần chúng đã đứng ra kiện các công ty công nghệ sinh học. Họ đặt ra những nghi ngờ rằng, không biết có phải mục tiêu của công nghệ sinh học là nuôi sống thế giới và chế biến thức ăn hay không, các hệ thống sản xuất công - nông nghiệp theo phương thức độc canh có bền vững không, hậu quả đối với đa dạng sinh học như thế nào, ai được thua trong quá trình này, v.v.? Tương tự như ở Mỹ, ở Canađa, người ta cũng đang dấy lên phong trào phản đối cây trồng biến đổi gen. Ngày 14 - 1 - 1999, cơ quan sức khoẻ Canađa cấm dùng hoócmôn chuyển gen cho bò sữa, vì nó gây hại cho bò. Qua thăm dò cho thấy, 68% người Canađa không muốn mua sản phẩm biến đổi gen. Nhật Bản là thị trường tiêu thụ phần lớn nông sản của Mỹ, nhưng vào cuối năm 1999, người Nhật đã gửi một bức thư với 2 triệu chữ ký cho các nông gia Mỹ yêu cầu không trồng những cây biến đổi gen. Chính phủ Nhật Bản quyết định dán nhãn lên các sản phẩm có chứa 5% biến đổi gen. Australia giữ lập trường cấm buôn bán các sản phẩm GMOS; biện pháp được đại đa số người dân ở đây ủng hộ là phải dán nhãn các sản phẩm đó; 90% nông dân tán thành việc này, 55% đề nghị đình chỉ trong 5 năm việc trồng các cây biến đổi gen. Những nước chưa có công nghệ GMOS, như Thái Lan cũng từ chối việc nhập những sản phẩm GMOS (trừ thức ăn gia súc). Các nước Đông Âu do thiếu thông tin, nên trở thành mảnh đất thí nghiệm cho công nghệ này. Tuy nhiên, họ cũng đang chuẩn bị ban hành các đạo luật về GMOS. Nga đã cấm nhập những sản phẩm GMOS, và thông qua luật dán nhãn lên hàng hoá. Sự phản đối mạnh mẽ nhất là tại các nước Tây Âu. Kết quả tổng hợp các ý kiến từ những nghiên cứu của cơ quan nghiên cứu KRC thuộc Uỷ ban công nghệ sinh học nông nghiệp châu Âu (ABE), với tựa đề Quan điểm của người châu Âu về công nghệ sinh học nông nghiệp: tổng quan về quan điểm công chúng cho thấy, 47% số người châu Âu cho rằng họ không đồng ý với cây trồng và thực phẩm biến đổi gen, 8% có ý kiến ngược lại, 30% có sự cân bằng từ hai phía, 49% tin rằng sinh vật biến đổi gen sẽ phá vỡ cân bằng tự nhiên, phá huỷ môi trường(4). Những tỷ lệ nghi ngờ cao như vậy, đương làm xuất hiện những nhu cầu điều chỉnh các biện pháp an toàn, trong đó có những yêu cầu về đạo đức sinh thái.

Việc lôi kéo đông đảo quần chúng quan tâm đến hệ quả môi trường của các kỹ thuật di truyền như vậy có nguyên nhân từ sự khác nhau về bản chất của các kỹ thuật này so với những kỹ thuật trước đó. Nếu như các kỹ thuật trước đó được ví như "những tác nhân bên ngoài" đối với sự sống của tự nhiên thì từ bản chất của những kỹ thuật di truyền mới, có thể được coi đó như "những tác nhân bên trong" tự nhiên, thông qua những thao tác để can thiệp trực tiếp vào quá trình tiến hoá tự nhiên. Ảnh hưởng của những tác hại do kỹ thuật hạt nhân gây nên có thể được khắc phục, nhưng ảnh hưởng của kỹ thuật di truyền qua việc "thay đổi dòng thừa kế" sẽ để lại hệ quả mãi mãi.

Cùng với việc mở rộng phạm vi và cường độ, tính chất của sự quan tâm đến hệ quả áp dụng các kỹ thuật di truyền cũng có những thay đổi. Ở nhiều nước có chủ trương áp dụng công nghệ di truyền, làn sóng phản đối của công chúng đã dẫn đến hệ quả làm giảm những chủ trương có tính chất võ đoán từ phía chính phủ. Công dân ở các nước này được trực tiếp tham gia vào việc quyết định định hướng phát triển công nghệ, xét xem những kỹ thuật di truyền nào nên từ bỏ hay sử dụng, hướng chúng đi "một cách khôn ngoan hơn". Có thể coi đây là một sự đổi mới trách nhiệm đạo đức cá nhân đối với vấn đề công nghệ sinh học, là sự dân chủ hoá uy quyền đạo đức để mọi người đều có quyền năng phán xử cái đúng, cái sai, và cũng là nghĩa vụ của mỗi công dân trưởng thành. Theo đó, tranh luận xã hội được coi là nguồn hợp pháp duy nhất để tạo nên các khuôn mẫu giá trị, còn trách nhiệm công dân là mẫu số chung để phán xét giá trị đạo đức trong việc phát triển công nghệ sinh học"(5).

Như vậy, có thể khẳng định những ứng dụng di truyền học trong nông nghiệp đã trở thành nguyên nhân mở rộng phạm vi cả về bề rộng, chiều sâu lẫn tính chất của sự quan tâm đến vấn đề môi trường sống.

Trong bối cảnh của sự quan tâm sâu, rộng của quần chúng về vấn đề môi trường sống như vậy, đặc biệt là về khả năng mạo hiểm trong những tác động đến hệ di truyền của đời sống tự nhiên thông qua kỹ thuật "sửa chữa", "thay đổi", lần đầu tiên đã xuất hiện những lời kêu gọi cho quyền của thiên nhiên. Ý kiến này có thể làm cho một số người tỏ thái độ khinh bỉ hay dửng dưng, bởi nó được coi như một sự khiêu khích truyền thống văn hoá phương Tây, nơi có truyền thống coi quyền con người như một thực thể đứng trên mọi thứ, điều khiển mọi thứ. Và, có thể có người diễu cợt rằng, người ta đang tưởng tượng ra một phiên toà mà tại đó, các loài hoa, núi non, chim muông, thú vật được quyền cất lên tiếng nói của mình; rằng phải chăng, thuyết vật linh đang trở lại khi con người ban cho thiên nhiên thuộc tính linh hồn.

Đương nhiên, điều đó là sai lầm và không thể chấp nhận. Song, những đòi hỏi về tính cấp thiết phải bảo vệ thiên nhiên là một lý do chính đáng, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ môi trường sống của con người trong điều kiện mà phát triển của khoa học tự nhiên, đặc biệt là di truyền học, đã, đang và sẽ còn bị lợi dụng. Lịch sử đã cho thấy, trong mối quan hệ với tự nhiên, nhiều người đã tự coi con người có quyền đứng "bên trên", "phía ngoài" để nhìn vào thế giới tự nhiên, phán xét nó, nhưng họ quên rằng, chính họ và tất cả con người chỉ là một bộ phận "bên trong" tự nhiên, không thể tách rời nó, mọi quyết định của con người sẽ ảnh hưởng đến nó và do vậy, đến chính con người. Chính vì vậy, những đòi hỏi về quyền của thiên nhiên không phải là hoàn toàn vô lý. Vấn đề rắc rối ở đây là, chúng ta cần phải hiểu đúng về những nhu cầu mang ý nghĩa của một giá trị sinh thái này. Theo chúng tôi, nếu chúng ta hiểu quyền của thiên nhiên không phải theo nghĩa bản thể luận, mà theo nghĩa nhận thức luận, mang tính chất ẩn dụ về một nhu cầu hiện thực, cấp bách trong việc bảo vệ thiên nhiên, thì luận điểm này hoàn toàn hợp lý. Có thể hiểu quyền của thiên nhiên là tiếng nói của những lực lượng đại diện cho trách nhiệm pháp luật, đạo đức của nhân loại đối với việc bảo vệ môi trường sống của con người. Nhờ tính chất ẩn dụ về quyền của thiên nhiên này, người ta mới tạo ra được một tư cách pháp nhân cho thiên nhiên trong cuộc chiến chống lại những xâm hại môi trường từ những hành động thiếu trách nhiệm nào đó. Đánh giá về ý nghĩa của những quyền tượng trưng này, Marie Angơle Herơmittơ đã khẳng định: "Không nghi ngờ gì rằng điều đó là quan trọng, và người ta không dễ gì tạo ra một tư thế pháp nhân như vậy; thế kỷ XIX đã do dự nhiều trong việc thừa nhận quyền pháp lý cho các xí nghiệp, các hội, các tổ chức. Ấy vậy mà, quyền lao động liệu có thể phát triển không nếu không có sự thừa nhận các công đoàn có quyền kiện ra toà?... Chủ thể pháp nhân chỉ là một chỗ dựa trung tính mà luật và pháp chế xây dựng dần dần bằng cách gán cho nó những thuộc tính thích đáng. Một xí nghiệp làm gì có quyền bầu cử!"(6).

Ngày nay, bằng nhiều phương tiện và giải pháp hiện đại, chúng ta có thể phần nào giải quyết một cách có hiệu quả vấn đề môi sinh. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần dựa vào nó để quản lý tất cả một cách "hợp lý" thì đó lại là một điều không tưởng. Phần lớn sự ô nhiễm môi trường do sinh học gây nên nằm ngoài phạm vi quản lý, hoặc vì thiếu phương tiện, hoặc vì do không muốn và cũng có thể, do sự thiếu bền vững của công nghệ. Trong những trường hợp này, việc chờ đợi để có những chứng cứ về tính độc hại của công nghệ có thể là quá muộn. Cùng với những giải pháp kỹ thuật, chúng ta cần phải có những giải pháp văn hoá hiệu quả hơn cho việc duy trì sự tồn tại của hành tinh này. Có thể coi việc thừa nhận quyền của thiên nhiên như một tư cách pháp nhân là sự đáp ứng cho một giải pháp văn hoá - văn hoá trong ứng xử với thiên nhiên. Điều này ngày càng được thừa nhận rộng rãi và đã trở thành giá trị sinh thái trong thời đại chúng ta.

Như vậy, những ảnh hưởng mạnh mẽ trong điều kiện phát triển của di truyền học không chỉ có ý nghĩa quyết định trong việc mở rộng phạm vi, cường độ, tính chất của sự quan tâm đến môi trường sống, mà còn góp phần khôi phục lại những giá trị sinh thái truyền thống, đặt thiên nhiên vào vị trí của một quyền lực cần được tôn trọng. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa truyền thống và hiện đại là ở chỗ, nếu như trước đây, thiên nhiên được coi trọng bởi nó có vị trí của những lực lượng thần thánh, thì hiện nay, nó được coi trọng bởi con người đã nhận rõ ý nghĩa sinh thái của nó với sự tồn tại của chính con người. Có thể nói, đó là sự chuyển hướng từ cách hiểu bản thể luận sang cách hiểu nhận thức luận về vị trí, vai trò của tự nhiên trong quan điểm sinh thái. Với cách hiểu như vậy, sự tôn vinh ý nghĩa của thiên nhiên trong thời đại của những công nghệ di truyền không những không làm mất đi ý nghĩa của những giá trị sinh thái truyền thống, mà còn củng cố thêm những giá trị ấy bằng khẳng định dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên.

Di truyền học sẽ còn có những bước tiến lớn lao hơn nữa và hệ quả mà nó để lại cho cuộc sống con người không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế, mà còn ở những dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hoá của con người. Song, tương lai sẽ không làm chúng ta bị bất ngờ, lúng túng nếu hôm nay, chúng ta biết định ra những chiến lược phát triển đúng đắn trên cơ sở hiểu biết những tác động to lớn của di truyền học và những giá trị sinh thái do nó mang lại.r

 

 


(*) Thạc sĩ triết học, Trường Cao đẳng Sư phạm Long An.

(1) Phạm Thị Ngọc Trầm. Các giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá. Tạp chí Triết học, số 7, 2001, tr.17.
 
(2) Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hoá Việt Nam. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr.22.

(3) Xem, chẳng hạn, Đoàn Văn Khiêm. Một vài suy nghĩ về đạo đức sinh thái. Tạp chí Triết học, số 1, 2000.

(4) Theo trang web:http//biotechvn.com.vn/.

(5) Xem: Tsjalling Swirstra. From critique to responsibility the ethical turn in the technology debate, http: // scholar.lib.vt. edu/ ejournals / SPT/ v3n1/pdf/swiersta.

(6) Nicolaswitkowski (chủ biên). Thực trạng khoa học và kỹ thuật. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, tr. 99 -100.

Đã xem: 502
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 04:09
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất