QC Shop

Hiện đại hóa xã hội và giá trị văn hóa truyền thống ở Nhật Bản

NCV. Nguyễn Kim Lai

Nguồn: Triết học, số 5 (132), tháng 5-2002

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ngày nay, Nhật Bản được xếp vào hàng các nước phát triển nhất trên thế giới. Những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của Nhật Bản, đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa "kỹ thuật phương Tây" với "văn hóa truyền thống" trong xã hội Nhật Bản hiện đại, đã buộc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới phải quan tâm. Người ta cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hiện đại hóa xã hội ở Nhật Bản để từ đó rút ra những kinh nghiệm và bài học cho mình. Một trong các vấn đề được quan tâm nhiều nhất là vấn đề vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hiện đại hóa kinh tế - xã hội Nhật Bản. Nói cách khác, người ta cố tìm lời lý giải cho câu hỏi: tại sao Nhật Bản vẫn giữ được "bộ mặt" văn hóa - xã hội truyền thống của mình trong quá trình tiến hành thành công công cuộc hiện đại hóa kinh tế - xã hội?

Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng, các chuyên gia Nhật Bản học đã xây dựng cả một lý thuyết hiện đại hóa Nhật Bản. Cách tiếp cận chiếm ưu thế đối với việc nghiên cứu quá trình hiện đại hóa ở Nhật Bản chính là "lý thuyết hiện đại hóa" dưới hình thức ban đầu của nó. Theo lý thuyết này, khái niệm hiện đại hóa đã ra đời với tư cách là câu trả lời cho vấn đề tìm kiếm con đường phát triển cho các xã hội "truyền thống" ("thế giới thứ ba") theo mô hình của xã hội "hiện đại" (phương Tây). Như vậy, khi áp dụng vào Nhật Bản, hiện đại hóa được hiểu là quá trình cải biến xã hội "phương Đông" thành xã hội "phương Tây", hay nói cách khác, là quá trình Tây hóa. Khi đó, xã hội phương Tây được hiểu là một nền văn minh phát triển hơn, do những quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa nội sinh, tự phát tạo ra. Theo chúng tôi, cách tiếp cận đó có trong một chừng mực nhất định và với nghĩa đó, Nhật Bản là một mẫu mực về sự cải biến xã hội "truyền thống" thành xã hội "hiện đại".

Cách tiếp cận trên xuất phát từ chỗ coi trung tâm của quá trình xây dựng xã hội hiện đại (hiện đại hóa) là con người cùng với khả năng tự do thể hiện và tự do phát triển của nó. Thực tế xã hội phương Tây hiện đại đã đạt được những thành tựu đáng kể trên bình diện ấy, nó đã tạo ra và khẳng định hàng loạt giá trị nhân văn có tính phổ biến toàn nhân loại, như tự do cá nhân và các quyền khác của con người, chủ quyền chính trị, quyền dân tộc tự quyết, v.v.. Bất kỳ xã hội nào đang tiến hành hiện đại hóa cũng dần hướng tới những giá trị ấy, mặc dù không dừng lại ở nội dung hạn chế, mang tính giai cấp của chúng.

Song, cách tiếp cận nêu trên cũng làm nảy sinh những vấn đề nan giải, có liên quan tới các nội dung cụ thể của hiện đại hóa. Vấn đề là ở chỗ, cách tiếp cận nêu trên giả định phải chuyển tải, vay mượn các giá trị kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa xã hội từ các nước phát triển đưa vào các nước kém phát triển, bất chấp quốc gia đang hiện đại hóa có hay không có độc lập về kinh tế và chính trị. Nói cụ thể hơn, hiện đại hóa chủ yếu do các nhân tố ngoại sinh quy định. Mặt khác, không ai có thể phủ định con đường phát triển đặc thù của Nhật Bản, bộ mặt độc đáo "phương Đông" của xã hội Nhật Bản hiện đại, của văn hóa và con người Nhật Bản. Chính vì vậy, một số tác giả đã nói tới chủ nghĩa tư bản phật giáo với tư cách là cái chủ yếu để chỉ xã hội Nhật Bản hiện đại và theo chúng tôi, mấu chốt của vấn đề chính là ở đây, tức là vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hiện đại hóa xã hội Nhật Bản.

Theo chúng tôi, Jana Hiratadu đã có lý khi khẳng định rằng, cho dù hiện đại hóa diễn ra trên quy mô toàn cầu, song nó vẫn không dẫn tới một nền văn minh toàn cầu đồng nhất về cơ cấu chính trị và văn hóa. Các cơ cấu xã hội, văn hóa truyền thống của xã hội đang hiện đại hóa không những không bị triệt tiêu, mà còn tích cực "phản kháng" lại các nhân tố chính trị và văn hóa ngoại lai. Do vậy, hiện đại hóa làm phong phú nền văn hóa thế giới nhờ có sự tiếp biến giữa các nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc (2).

Như vậy, hiện đại hóa không có một hình thức phổ biến, chung cho tất cả các nước. Các giá trị văn hóa có tính độc lập tương đối và chính chúng quy định hình thức, cũng như mục đích và các phương pháp cụ thể của quá trình hiện đại hóa. Đối với xã hội Nhật Bản, tinh thần cộng đồng có thể coi là một trong các giá trị văn hóa như vậy. Một đặc điểm đặc trưng nữa cho tinh thần người Nhật Bản là khả năng thích nghi rất cao với các giá trị văn hóa ngoại lai, là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa dân tộc với truyền thống văn hóa du nhập. Hiện nay, khó có thể chỉ ra cái gì là đặc thù dân tộc, cái gì là vay mượn trong xã hội Nhật Bản hiện đại. Tất cả mọi thứ trong xã hội Nhật Bản dường như đan quyện với nhau như một khối hợp kim thống nhất, điều này đã trở thành một truyền thống văn hóa của người Nhật Bản.

Truyền thống ở đây được hiểu không đơn giản là một cơ chế sinh hoạt hay một cơ chế kinh tế, mà là một cơ chế phổ biến, nó tổ chức mọi chức năng xã hội cho phù hợp với các quy tắc ứng xử nhất định (3). Nói cách khác, truyền thống là cái kho chứa những đặc điểm chính yếu nhất của sinh hoạt xã hội và sinh hoạt văn hóa của một xã hội hay của một nền văn minh.

Nhìn từ góc độ này thì đặc điểm đặc trưng cho hiện đại hóa xã hội Nhật Bản là quá trình chuyển hóa mang tính tiến hóa của các truyền thống dân tộc. Những yếu tố mới chỉ gia nhập vào cơ cấu cũ, cùng tồn tại song song với nó mà không phá vỡ nó. Những yếu tố này dần dần cũng thay đổi để thích nghi với cơ cấu cũ và cùng với nó tạo thành một hệ thống mới. Nói cách khác, quá trình "Âu hóa", hiện đại hóa xã hội Nhật Bản được tiến hành không phải trên cơ sở phủ định các cơ cấu truyền thống, mà theo con đường tích cực sử dụng chúng (4).

Như vậy, khác với Trung Quốc và một số nước châu Á, Nhật Bản đã biết cách đáp lại sự thách thức của phương Tây. Và, nguyên nhân thành công của người Nhật Bản là ở chỗ, họ không cố bám lấy cái độc đáo của mình, mà tích cực lĩnh hội các giá trị văn hóa phương Tây. Điều này thể hiện rất rõ qua những biểu hiện sinh hoạt hàng ngày của người Nhật Bản, như ăn mặc, hưởng thụ âm nhạc, thưởng thức nghệ thuật, kiến trúc, v.v..

Chính chức năng tách hợp như vậy của văn hóa truyền thống Nhật Bản đã góp phần làm cho các cuộc cải cách ở Nhật Bản diễn ra một cách dần dần, không gây ra các chấn động xã hội. Có thể nói, giải quyết mâu thuẫn bằng con đường thỏa hiệp là một truyền thống của người Nhật Bản. Thí dụ, đặc điểm đặc trưng cho cải cách Minh Trị là sự thỏa hiệp giữa lực lượng bảo thủ với lực lượng đổi mới. Kết quả của sự thỏa hiệp đó là tiến hành cải cách xã hội dựa trên cơ sở bảo vệ hàng loạt giá trị văn hóa truyền thống, làm cho chúng thích nghi với điều kiện mới và trở thành cái định hướng, điều tiết quá trình cải cách. Theo chúng tôi, điều đó không có nghĩa là xã hội Nhật Bản trì trệ, không trải qua các cuộc "cách mạng". Ngược lại, nó đã chứng tỏ những "kỳ tích Nhật Bản", đã hiện đại hóa thành công đất nước, chỉ có điều là nó đã trải qua một cách "nhẹ nhàng" nhờ các giá trị văn hóa truyền thống đóng vai trò "cái giảm xóc" của quá trình ấy.

Mặc dù chế độ Minh Trị là chế độ phong kiến tập quyền, song nó vẫn có khả năng đưa Nhật Bản đột phá vào con đường phát triển tư bản chủ nghĩa. Vậy nguyên nhân ở đây là gì?

Theo chúng tôi, các nhân tố văn hóa xã hội đã đóng một vai trò to lớn trong quá trình "Âu hóa" xã hội Nhật Bản. Chế độ phong kiến Nhật Bản đã bảo đảm một trình độ giáo dục rất cao, do tác động của quan niệm Nho giáo về giáo dục, cho nên đông đảo các tầng lớp xã hội tuy khác nhau, nhưng đều cố gắng đạt đến trình độ học vấn cao nhất có thể. Thí dụ, vốn xuất thân từ tầng lớp dưới, thầy thuốc Ohia Sorai đã trở thành người cách tân nền triết học truyền thống, lối tư duy truyền thống của người Nhật Bản khi ông gắn liền triết học với hoạt động của con người, với vai trò của khoa học và qua đó, tạo ra "triết học thực tiễn". Như vậy, biến thể dân tộc của Nho giáo đã chuẩn bị cơ sở để tiếp nhận văn hóa châu Âu. Đúng như Benép nhận xét: "Đứng đằng sau sự phục hưng của Minh Trị không phải là Lốccơ hay Ruxô..., mà chỉ là một nhóm người trẻ tuổi có tư tưởng cầu thị, ham học, trung thành với Nhật Bản, song cũng có một nhãn quan quảng bác về tương lai"(5).

Do rất lạc hậu so với phương Tây về khoa học, kỹ thuật, nên để tiến hành hiện đại hóa đất nước, Nhật Bản buộc phải tiếp thu khoa học, kỹ thuật của phương Tây, song không thể làm được điều đó nếu không tiếp nhận những giá trị tinh thần của phương Tây. Giới cầm quyền Nhật Bản cố tiếp thu những tư tưởng góp phần phát triển kinh tế. Do vậy, họ đã đưa ra khẩu hiệu "tinh thần Nhật Bản - kỹ thuật phương Tây". Tinh thần Nhật Bản có nghĩa là văn hóa truyền thống, là khẳng định vai trò thế giới quan, các giá trị tinh thần và hệ tư tưởng nhà nước quan phương.

Theo chúng tôi, không những tiền đề vật chất được hình thành ở thời kỳ phong kiến, mà cả cơ cấu xã hội thời ấy cũng đã góp phần vào thành công của hiện đại hóa kinh tế, kỹ thuật của Nhật Bản. Trước hết, phải kể đến cơ cấu dọc của xã hội Nhật Bản cùng với các quy tắc ứng xử nghiêm ngặt theo lối "trên - dưới". Chính yếu tố gia đình với tư cách một hạt nhân sản xuất kinh tế có tôn ty trật tự "trên - dưới" đã giữ một vai trò quan trọng trong việc tổ chức kinh doanh có hiệu quả và do vậy, trong việc lĩnh hội khoa học - kỹ thuật phương Tây mà không phá vỡ "tinh thần phương Đông".

Chính giới cầm quyền ở Nhật Bản đã sử dụng một cách hợp lý những tư tưởng Nho giáo để cố kết xã hội khi tôn trọng lối ứng xử có tôn ty, thứ bậc. Tính nhất thể dân tộc cũng có một ý nghĩa quan trọng đối với nhân dân Nhật Bản - những người vốn có ý thức dân tộc sâu đậm. Như vậy, cả tiềm năng vật chất lẫn tiềm năng tinh thần trong xã hội Nhật Bản đã được sử dụng triệt để trong quá trình hiện đại hoá. Điều này chứng tỏ, quan điểm tuyệt đối hóa vai trò hàng đầu của các yếu tố ngoại sinh trong công cuộc hiện đại hóa xã hội Nhật Bản là một sai lầm.

Từ những điều đã trình bày ở trên, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

1. Để bàn luận về vấn đề chuyển biến xã hội thì không những cần đến lược đồ vĩ mô (lý thuyết hiện đại hóa), mà còn cần đến sự phân tích vi mô về những quá trình diễn ra ở cấp độ mỗi nước và ở cấp độ các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau của nó.

2. Thắng lợi của hiện đại hóa chỉ có thể đạt được khi từ bỏ việc phá hủy các nét đặc thù của riêng mình (bản sắc văn hóa dân tộc) mà trước đó, có cảm tưởng là trở ngại cho sự phát triển, cho sự nghiệp hiện đại hóa, cho công cuộc đổi mới theo hướng tạo ra khả năng cạnh tranh lớn hơn với phương Tây.

3. Phát triển mà không có sự thay thế từ trước tính đồng nhất, tính nhất thể sẽ cho phép con người giữ lại phẩm giá, tinh thần yêu nước, ý thức tự hào dân tộc. Giữ được những phẩm giá này sẽ tạo ra ở người lao động thái độ sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng chịu đựng kỷ luật lao động nghiêm ngặt. Giữ được tính đồng nhất và phẩm giá của mình, con người có thái độ tự tin tới mức sẵn sàng hành động một cách thắng lợi và có mục đích rõ ràng.

4. Khả năng phát triển theo cách thức đó không có một mô hình có sẵn, mà ngược lại, nó sử dụng tối đa các đặc điểm lịch sử văn hóa độc đáo của đất nước mình.

5. Sự phát triển được thực hiện ở mỗi nước bằng con đường tự giác quản lý nó, tự tìm ra các hình thức có hiệu lực một cách cụ thể và hữu hiệu sẽ tạo ra sự phát triển nhịp nhàng, bền vững.

6. Quá trình hiện đại hóa luôn đòi hỏi phải hoàn thiện tính đặc thù, phát huy các truyền thống văn hóa dân tộc và thúc đẩy cải cách kinh tế và công nghệ.

Những kết luận nêu trên có thể coi là điều bổ ích đối với chúng ta trong quá trình tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Chúng đòi hỏi chúng ta phải có một nhãn quan tỉnh táo để hoạch định chính sách, chiến lược phát triển và các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hóa mà không đánh mất bản sắc của mình, "hòa nhập mà không hòa tan", không trở thành "cái bóng mờ" của người khác, nước khác.

 


(1) Xem: X.Jonin. Xã hội học văn hóa. Mátxcơva, 1997, tr. 64 -100 ( tiếng Nga).

(2) Xem: Jana Hiratadu. Lược khảo lịch sử Nhật Bản hiện đại. Tokyo, 1952, tr.3-16 (tiếng Nhật).

 (3) Xem: A.A.Ianatiép. Các giá trị và xã hội truyền thống. Tạp chí Các vấn đề triết học, số 4,1991,  tr.8 (tiếng Nga).

(4) Xem: S.A.Atinnốp. Cuộc sống hiện đại ở Nhật Bản. Mátxcơva, 1968, tr. 64 (tiếng Nga).

(5) R.Benép. Tri thức và xã hội Nhật Bản. Những vấn đề của nước Nhật hiện đại. Tạp chí Xã hội học, số 12, 1975, tr. 139 (tiếng Nga).

 

Đã xem: 997
Thời gian đăng: Thứ tư - 04/02/2015 02:13
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất