QC Shop

Phương Đông - Phương Tây: Từ một bài thơ, suy nghĩ về khác biệt và thống nhất

Nguyễn Văn Dân(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (213), tháng 2 - 2009

Từ bài thơ “Khúc ca Đông - Tây” của R.Kipling, tác giả trình bày suy nghĩ của mình về sự thống nhất và khác biệt giữa Đông và Tây, rộng ra là sự thống nhất trong đa dạng của văn hoá. Với giả thiết rằng sự khác biệt Đông - Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá, văn minh Đông - Tây, tác giả đi tìm nguyên nhân của sự khác biệt đó. Cuối cùng, tác giả khẳng định rằng, thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để đi đến một sự phát triển hoà bình, ổn định và bền vững cho nhân loại.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngày nay, khi nói đến hai nền văn hoá phương Đông và phương Tây, nhiều nhà khoa học trên thế giới hay dẫn câu thơ nổi tiếng của R.Kipling - nhà văn người Anh đầu tiên đoạt giải Nobel văn học cách đây hơn một thế kỷ (1907): “Phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau”. Người ta thường cho rằng, phương Đông và phương Tây có những đặc thù riêng của chúng. Tuy nhiên, theo tôi, cái vế sau của câu thơ nói trên mới là điều đáng bàn: Có thật phương Đông và phương Tây “sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau”?

Về bài thơ của R.Kipling, tôi sẽ bàn kỹ ở phần sau. Trước hết, tôi muốn nói rằng, trên thế giới có rất nhiều tộc người sinh sống, cho nên sự khác biệt giữa các tộc người là điều hiển nhiên. Nhưng, các tộc người không tồn tại biệt lập nhau, mà ngày càng tiếp xúc, giao lưu với nhau theo dòng lịch sử. Vì thế, cái chung giữa các tộc người ngày càng được mở rộng. Sự hình thành và phát triển của cái chung đó được thực hiện nhờ có sự phát triển của văn hoá và văn minh nhân loại. Trong lịch sử hàng nghìn năm của nhân loại, do điều kiện cách biệt về chủng tộc và địa lý, giữa phương Đông và phương Tây đã hình thành những khác biệt không khó nhận ra. Nhưng, lịch sử cũng cho thấy rằng, giữa phương Đông và phương Tây không có một sự cách biệt hoàn toàn. Nhiều học giả đã chỉ ra rằng, giữa hai bên phương Đông và phương Tây đã có những mối giao lưu từ hàng nghìn năm nay. Đặc biệt, trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, khi thông tin và truyền thông đã làm cho khoảng cách về không gian và thời gian không còn nhiều ý nghĩa, thì liệu cái vế sau trong câu thơ của R.Kipling có trở nên lỗi thời không? Trong khi đó, cái vế đầu của câu thơ “phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây” cũng vẫn mãi ám ảnh suy nghĩ của nhiều học giả. Vậy, cái gì đã làm nên sự khác biệt được cho là không thể vượt qua đó?

Có một xu hướng chung cho rằng, người phương Tây duy lý, còn người phương Đông duy cảm; người phương Tây hành xử nặng về lý, còn người phương Đông hành xử nặng về cảm tính, về tình. Nhưng, tại sao lại có sự khác biệt lý - tình như vậy thì lại là một câu hỏi khó trả lời. Chẳng lẽ đó là do sự quy định của chủng tộc? Điều này là khó có thể chấp nhận, bởi lẽ chưa có một công trình nhân chủng học hoặc dân tộc học nào đưa ra được một kết quả thực nghiệm đủ sức thuyết phục về điều đó. Có nhiều người viện dẫn đến sự khác biệt giữa hai bán cầu đại não để lý giải sự khu biệt Đông - Tây. Song, người ta vẫn chưa chứng minh được rằng, liệu có phải ở người phương Tây có sự phát triển mạnh bán cầu đại não trái - thiên về lý tính và phân tích lôgíc, còn ở người phương Đông có sự phát triển mạnh bán cầu đại não phải - thiên về trực giác, tổng hợp, hay đây chỉ là hai chức năng bổ sung cho nhau trong cùng một bộ não của bất cứ một con người nào?

Khoảng nửa cuối thế kỷ XX, một số nhà khoa học Italia và Nhật Bản đã nghiên cứu, so sánh phản ứng xúc cảm của người Nhật với người Italia xuất hiện trong hai bán cầu đại não. Họ đã lần lượt tiêm thuốc gây tê vào động mạch chủ của từng bán cầu đại não của đối tượng thí nghiệm và thấy rằng, có sự khác nhau trong phản ứng xúc cảm xuất hiện trên hai bán cầu đại não của người Italia và người Nhật. Ở người Italia, phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu đại não phải (được họ gọi là bán cầu không mang tính trội). Còn ở người Nhật, phản ứng xúc cảm xuất hiện trên bán cầu đại não trái (mang tính trội)(1). Tuy nhiên, họ không đưa ra kết luận gì về tính trội lý tính trong bộ não của người phương Tây và tính trội cảm tính trong bộ não của người phương Đông. Dù vậy, đây là một thí nghiệm rất đáng quan tâm; đồng thời, nó đòi hỏi phải được tiếp tục một cách sâu rộng và có hệ thống thì mới có thể đi đến kết luận chính xác về sự khác biệt Đông - Tây này. Mặt khác, khi nghiên cứu về tính trội ngôn ngữ trong hai bán cầu đại não của người phương Tây và người Nhật, các nhà khoa học Nhật Bản nhận thấy rằng, người Nhật tiếp nhận nguyên âm nhiều hơn trong bán cầu đại não trái, còn người phương Tây tiếp nhận nguyên âm nhiều trong bán cầu đại não phải, phụ âm thì ở bán cầu đại não trái. Tuy nhiên, theo hai nhà khoa học người Mỹ gốc Nhật là Niseis và Sanseis, việc người Nhật tiếp nhận nổi trội nguyên âm trong bán cầu đại não trái không phải là do di truyền, mà là do môi trường sống quy định(2). Nhìn chung, đây là một vấn đề nan giải mà khoa học vẫn chưa có tiếng nói cuối cùng.

Vì thế, tôi giả thiết rằng, có lẽ sự khác biệt Đông - Tây nằm ẩn sâu trong truyền thống văn hoá và văn minh của hai khu vực lớn này (tức là “do môi trường đem lại”). Con người ban đầu sinh ra trong thiên nhiên bao la đầy những bí ẩn; khi đó, hoạt động văn hoá đầu tiên của con người là nhận thức thiên nhiên. Khi văn minh phát triển, sự khác biệt giữa các dân tộc bắt đầu hình thành. Văn minh của người phương Đông cổ xưa chủ yếu là văn minh làng xã, họ không đặt mục đích chinh phục thiên nhiên, mà dựa vào thiên nhiên, gửi gắm tình cảm vào thiên nhiên để tồn tại và lập ra những hương ước nặng về tình để đối nhân xử thế. Người phương Đông đề cao sức mạnh của thiên nhiên và siêu nhiên. Họ quan niệm con người phụ thuộc vào thiên nhiên và thế giới siêu nhiên. Người ta cho rằng con người phương Đông cổ xưa nhận thức thiên nhiên và thế giới chủ yếu bằng con đường trực giác(3), tức là bằng tư duy cảm tính. Phải chăng mối quan hệ tình cảm có phần huyền bí giữa con người với thiên nhiên và với thế giới siêu nhiên là lý do chính tạo ra kiểu tư duy này? Y thuật, số thuật và chiêm tinh thuật của phương Đông đã thể hiện rõ ràng quan điểm này. Cũng từ đó, quan điểm tôn trọng gốc gác và là nguồn gốc của đạo đức học phương Đông xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay. Người phương Đông dù đi xa vẫn khó quên gốc gác của mình. Chẳng hạn, người Do Thái, người Ảrập, người Hoa sống ở nước ngoài vẫn giữ gần như nguyên vẹn bản tính dân tộc. Ở những nước văn minh canh nông phương Đông (ngoại trừ văn minh du mục), việc hình thành nhiều quốc gia từ một nguồn gốc dân tộc không phải là điều phổ biến.

Trong khi đó, ở phương Tây, do nền văn minh đô thị phát triển sớm, người phương Tây đã sớm có ý thức cạnh tranh với thiên thiên và siêu nhiên, chinh phục thiên nhiên và chinh phục thế giới để khẳng định sức mạnh của con người lý tính.

Thực ra, khi nói về văn minh đô thị thì phải nói tới cái nôi đầu tiên của nó là khu vực Lưỡng Hà (Tiểu Á), khoảng thế kỷ thứ VIII TCN. Nhưng sau đó, sự phát triển của văn minh đô thị lại hướng về phía Tây. Còn ở vùng viễn Đông xa xôi, văn minh đô thị phát triển chậm hơn. Trong bối cảnh đó, nền y học phương Tây là một nền y học chủ yếu dựa vào khả năng lý tính chế tác của con người và ít cầu viện đến thiên nhiên, không giống như y thuật phương Đông chủ yếu dựa vào chiêm nghiệm, trực giác. Mặt khác, ý thức chinh phục thiên nhiên và giao thương phát triển sớm làm cho người phương Tây sẵn sàng rời xứ sở đi tìm miền đất mới để định cư. Tất nhiên, việc mở mang bờ cõi diễn ra ở cả phương Tây lẫn phương Đông. Nhưng ở phương Tây, sau khi định cư ở miền đất mới, người bản quốc sẵn sàng lập ra một quốc gia mới để khẳng định mình và cạnh tranh với bản quốc. Chẳng hạn, sau đêm dài Trung cổ và sau khi phát hiện ra châu Mỹ, người Tây Âu đã ồ ạt di cư sang Tân Thế giới này để lập ra một loạt quốc gia độc lập hẳn với chính quốc của họ. Quốc gia mới của người Anh trên lãnh thổ nước Mỹ ngày nay khác hẳn với nước Anh chính quốc. Đối với người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha ở Trung và Nam Mỹ cũng vậy.

Theo nhiều nhà khoa học, một trong những cội nguồn của văn hoá là tín ngưỡng. Chẳng hạn, nhà triết học người Nga (Liên Xô cũ) Alexander Spirkin đã giải nghĩa từ “cultura” trong tiếng Latinh (nghĩa là “văn hoá”) bằng cách cho rằng nó có xuất xứ từ từ “colere” - có nghĩa là “gieo trồng” và “thờ cúng”. Ông cho rằng, trong suốt quá trình lịch sử loài người, văn hoá của mọi dân tộc đều thấm đậm chất tôn giáo ở một mức độ nào đó(4). Ngày nay, tôn giáo không còn giữ được ý nghĩa và vai trò ban đầu của nó, nhưng cái chất tín ngưỡng tôn giáo thì vẫn tồn tại thấm đậm trong lối sống, trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của hầu hết các dân tộc. Mỗi khi thể hiện những tình cảm đặc biệt, chúng ta thường viện dẫn đến Thượng Đế. Lúc vui, lúc buồn, ta thường kêu “Trời”, cầu “Chúa”... Theo từ điển Wikipedia, từ “goodbye” [“tạm biệt”] trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tập ngữ “God be with ye” [“Chúa phù hộ cho bạn”] trong tiếng Anh cổ.

Hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của phương Đông và phương Tây cũng có những sự khác nhau rất cơ bản. Tư tưởng tôn trọng gốc gác nơi đất mẹ thiên nhiên của người phương Đông đã dẫn đến một ý thức thuần phục gần như tuyệt đối đối với tôn ti trật tự đã được thiết lập trong tôn giáo. Đạo Phật của phương Đông về cơ bản là nhất quán, thông suốt, hầu như không có những “kẻ phản nghịch”. Trong khi đó, ở phương Tây, đạo Cơ Đốc luôn được sửa đổi, cải cách, thậm chí ly giáo. Ngay từ khi Cơ Đốc giáo mới ra đời, Chúa Jesus đã có kẻ tông đồ thứ 13 là Juda - được mệnh danh là kẻ “phản nghịch” đầu tiên. Trong lịch sử Cơ Đốc giáo, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vụ ly giáo, như vụ ly giáo Đông - Tây năm 867 giữa giáo trưởng thành Constantinople Photius với giáo hoàng Nicolas I ở Roma; vụ ly giáo Đông - Tây năm 1054 giữa giáo trưởng thành Constantinople Kerularios với giáo hoàng Leo IX; vụ ly giáo lớn ở châu Âu diễn ra từ năm 1378 đến năm 1417 giữa ba chế độ giáo hoàng: chế độ giáo hoàng ở Roma, chế độ giáo hoàng ở Avignon (Pháp) và chế độ giáo hoàng ở Pisa (Italia); đặc biệt là cuộc cải cách đạo Cơ Đốc của nhà thần học người Đức Martin Luther hồi đầu thế kỷ XVI, dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành. Tư tưởng phản nghịch thể hiện phổ biến trong Cơ Đốc giáo đến nỗi Nhà thờ đã phải lập ra một toà án để xử tội dị giáo.

Có thể, tư tưởng “phản nghịch” của người phương Tây có xuất xứ từ truyền thống văn hoá thần thoại xa xưa. Hệ thống thần thoại Hy Lạp là một hệ thống tranh giành quyền lực. Thần Cronos sẵn sàng giết cha là thần Uranos để lên nối ngôi. Đến lượt mình, thần Dớt lại làm một cuộc “cách mạng” lật đổ cha mình để nắm quyền trị vì thế giới. Trong một loạt những cuộc giao tranh tiếp theo giữa các phe phái trong các vị thần, như cuộc giao tranh giữa các vị thần Olympos với các vị thần khổng lồ Gigantes, con người với đại diện là dũng sỹ Heracles cũng tham gia giúp các vị thần Olympos đánh lại các vị thần Gigantes. Trong thần thoại Hy Lạp - điển hình của thần thoại văn minh đô thị, thần thánh và người trần sống lẫn với nhau, yêu nhau, kết hôn với nhau và cạnh tranh lẫn nhau, hầu như không có sự phân biệt và không có một tôn ti trật tự tuyệt đối. Nhiều người trần sẵn sàng đấu võ và thi tài với thần linh: tráng sỹ Heracles giết chết nhiều thần khổng lồ Gigantes, trong đó có thần Antaios nổi tiếng [tức thần “Ăngtê” gọi theo tiếng Pháp]; tráng sỹ Diomedes đánh bị thương thần chiến tranh Ares; cô thợ dệt Arakhne dám thi tài dệt vải với nữ thần Athena; cô gái Acalanthis và chàng trai Thamyras dám thi hát với các nữ thần nghệ thuật Musa; nàng Casiope xinh đẹp và tự tin dám thi sắc đẹp với các nữ thần biển Neraydes, v.v.. Trong khi đó, trong thần thoại phương Đông, thế lực thần thánh được phát huy tuyệt đối quyền hành, tôn ti trật tự được tuân thủ nghiêm ngặt. Kẻ phản nghịch duy nhất là Tôn Ngộ Không cũng chỉ “múa may” trong thế giới quỷ sứ chứ không đụng chạm được đến quyền lực thánh thần.

Trong giáo dục, người phương Đông đề cao tư tưởng “tôn sư trọng đạo”. Người thầy có một vị thế quan trọng đến mức thiêng liêng. Người ta chỉ có thể lập ra một tư tưởng, một lý thuyết mới, chứ ít khi cải cách lý thuyết của thầy. Ngay cả đến thời đại ngày nay cũng vậy, khi Đặng Tiểu Bình thực hiện cải cách Trung Quốc thì tư tưởng Mao Trạch Đông vẫn được tôn sùng. Trong khi đó, ở phương Tây, khái niệm người thầy không có ý nghĩa “thần thánh” như ở phương Đông. Ngay từ thời xa xưa, Xôcrát đã không dạy học trò bằng cách áp đặt quan điểm của mình, mà ông đưa ra các câu hỏi để học trò chủ động trả lời. Arixtốt, bằng các công trình học thuật của mình, đã dám phản bác lại quan điểm duy tâm của thầy mình là Platôn. Đến thời cận - hiện đại, K.Jung, học trò của S.Freud, đã cải cách lý thuyết tâm phân học của thầy mình, dẫn đến hai người không còn muốn nhìn mặt nhau. Các Mác đã kiên quyết “lật ngược” phép biện chứng duy tâm của Hêghen để lập ra một học thuyết mới. V.I.Lênin cũng sửa đổi học thuyết Mác về cách mạng vô sản để thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại (C.Mác chủ trương rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thành công khi nó diễn ra trên toàn thế giới. V.I.Lênin sửa lại rằng cách mạng vô sản có thể thành công trong khâu yếu nhất của chủ nghĩa tư bản).

Như vậy, có thể thấy, bên cạnh yếu tố tích cực là đề cao tình nghĩa thầy - trò, tư tưởng tôn sư trọng đạo của phương Đông nhiều khi dẫn đến thái độ thuần phục mang tính mô phạm, giáo điều, kìm hãm tư duy sáng tạo. Trong khi đó, ở phương Tây, chính quan niệm bình đẳng thầy - trò là một trong những động lực làm nảy sinh nhiều tư tưởng và lý thuyết mới. Vậy mà cái tư tưởng mô phạm, giáo điều đó vẫn còn tồn tại dai dẳng ở phương Đông cho đến ngày nay, đôi khi thể hiện ra là sự bắt chước một cách máy móc các lý thuyết của nước ngoài, đặc biệt là trong khoa học xã hội. Điển hình gần đây nhất là quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ta về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật. Đó chính là căn bệnh cảm tính và thiếu tư duy lôgic triết học đã được cảnh báo. Căn bệnh thiếu tư duy lôgic cũng thể hiện trong cả cuộc sống hàng ngày. Chẳng hạn, ở nước ta, tất cả các đồng tiền của nước ngoài đều được đọc xuôi theo ngữ pháp tiếng Việt, riêng đồng Việt Nam thì được đọc ngược theo ngữ pháp tiếng Anh. Phải chăng, đó cũng là biểu hiện của truyền thống tư duy cảm tính của người phương Đông?

Tuy nhiên, trong thời đại thế giới đang phát triển như vũ bão ngày nay, khi con người đang có nguy cơ huỷ diệt thiên nhiên và vì thế sẽ dẫn đến huỷ diệt chính mình, cái bản chất truyền thống của văn hoá phương Đông nặng về cảm tính và tình nghĩa, tôn thờ đất mẹ thiên nhiên lại có tác dụng tích cực là thúc đẩy sự hoà hợp con người với thiên nhiên, rất phù hợp với quan điểm phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Trong khi đó, cái tư duy thiên về lý tính của phương Tây có mặt mạnh là luôn đổi mới và thúc đẩy sự phát triển lại tiềm ẩn những nguy cơ huỷ hoại môi trường, như làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên, v.v.. Chính vì thế, ở phương Tây đang có một xu hướng tìm đến phương Đông. Song, trong khi phương Tây tìm đến phương Đông để học tập cái hay trong văn hoá mang tính hoà nhập với thiên nhiên của phương Đông thì nhiều nước đang phát triển của phương Đông, vì nôn nóng bắt chước xu hướng phát triển nhanh của phương Tây, lại đang góp phần đắc lực vào việc hủy hoại môi trường sống của chính mình. Chẳng hạn, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã cảnh báo rằng, Trung Quốc hiện đang là nước gây ô nhiễm và huỷ hoại thiên nhiên vào loại bậc nhất thế giới(5). Mặt trái của tư duy cảm tính khiến cho người ta học tập sự phát triển của phương Tây một cách không suy xét và sao chép.

Như vậy, sự khác biệt Đông - Tây là có thật. Ở đây, tôi chỉ bàn đến sự khác biệt trên bình diện tư duy và đời sống văn hoá - tinh thần. Nhưng, khác biệt không có nghĩa là không thể gặp gỡ và bắt tay nhau. Bởi trên thực tế, sự gặp gỡ Đông - Tây, đặc biệt là mối quan hệ giao thương, đã tồn tại từ lâu: con đường tơ lụa dài 8.000 km nối liền Trung Quốc với châu Âu được hình thành từ đầu thế kỷ II TCN. là một trong những bằng chứng lâu đời cho mối quan hệ này. Vì thế, sự khác biệt cũng có phần nhạt nhoà dần theo thời gian. Đến đây, có lẽ chúng ta phải trở lại với câu thơ của R.Kipling để hiểu rõ thêm tư tưởng của ông.

Thực ra, ý nghĩa câu thơ của R.Kipling không đơn giản như từ xưa đến nay người ta vẫn hiểu, hay cố tình hiểu đơn giản như thế. Sự thật là R.Kipling không bao giờ tuyên bố một cách dứt khoát về sự khác biệt Đông - Tây.

Câu thơ trên được trích từ khổ đầu của bài thơ Khúc ca Đông Tây do R.Kipling viết năm 1889. R.Kipling là con trai của một vị bộ trưởng người Anh, sinh ra và lớn lên tại Ấn Độ. Ông am hiểu văn hoá phương Đông và sáng tác nhiều về đề tài phương Đông. Ông được trao giải Nobel văn học vì óc quan sát thực tế, trí tưởng tượng độc đáo và tài năng tự sự nổi tiếng. Tuy nhiên, ngày nay, người ta cho rằng tư tưởng đề cao sức mạnh của đế quốc Anh cùng khả năng khai hoá văn minh của nó trong các sáng tác của R.Kipling đã làm giảm phần nào uy tín của ông. Theo tôi, về bài thơ Khúc ca Đông Tây, việc người ta hay trích câu thơ nói trên thực tế mới chỉ là trích một nửa tư tưởng của ông.

Trong khổ đầu của bài thơ, R.Kipling đã viết như sau:

Ôi, phương Đông là phương Đông, phương Tây là phương Tây, và hai bên sẽ chẳng thể bao giờ gặp nhau,

Cho đến khi Đất Trời có mặt tại Toà phán xử tối cao của Thượng Đế;

Nhưng sẽ chẳng có Đông cũng chẳng có Tây, chẳng có Ranh giới, chẳng có Giống nòi, cũng chẳng có Sinh sôi,

Khi hai người đàn ông mạnh mẽ đứng đối diện nhau, dù họ đến từ những nơi tận cùng của Trái đất!

Phần tiếp theo của bài thơ là đoạn tự sự kể về chuyện đụng độ giữa một thủ lĩnh người bản xứ với con trai một đại tá thực dân. Cuộc đụng độ đã kết thúc bằng sự hoà giải và kết nghĩa anh em giữa “hai người đàn ông mạnh mẽ”. Và, bài thơ kết thúc với việc lặp lại khổ thơ đầu. Hoá ra, R.Kipling không chia cắt Đông - Tây như người ta vẫn tưởng. Trong quan niệm của ông, sự khác biệt Đông - Tây không đến mức không thể hiểu nhau và hợp tác với nhau. Thực tiễn lịch sử nhân loại đã và đang tiếp tục chứng minh điều đó. Quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh của S.Huntington đang bị nhiều người trên thế giới phản bác. Còn ở Việt Nam, Đảng ta chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”.

Tựu trung lại, điều quan trọng ngày nay là chúng ta phải hiểu rõ được mặt mạnh và mặt yếu của mỗi khu vực văn hoá để kết hợp, bổ sung cho nhau, nhằm xây dựng một thế giới phát triển bền vững. Chúng ta không nên tuyệt đối hoá một khía cạnh nào đó của văn hoá khu vực mà quên đi mặt khiếm khuyết của nó. Thống nhất trong đa dạng chính là nguyên tắc để thúc đẩy sự hợp tác, bổ sung những cái hay, cái tốt cho nhau, để cùng tồn tại và phát triển. Hội nhập không có nghĩa là thủ tiêu sự khác biệt. Đông là Đông, Tây vẫn là Tây. Vấn đề là không nên quá tự đề cao những cái khác biệt của riêng mình đến mức không thấy những cái hay, cái tốt của người khác. Làm như thế sẽ có nguy cơ rơi vào căn bệnh “tự phụ thông thái rởm” mà đại thi hào Gớt đã cảnh báo cách đây gần hai thế kỷ. Hội nhập Đông - Tây nói riêng và hội nhập toàn thế giới nói chung chính là véctơ chủ đạo và là mục đích cuối cùng để loài người có được một ngôi nhà chung hoà bình và ổn định trên toàn Trái đất.                    

 


(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Phó viện trưởng Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

(1) Xem: Proceedings of the Japan Academy [“Kỷ yếu Viện Hàn lâm Nhật Bản”], 1976, t.52, số 9, chương 143; Tadanobu Tsunoda and Mikiko Oka. Lateralization for Emotion in the Human Brain and Auditory Cerebral Dominance, pp.528-531 (Yasuji Katsuki tường thuật trên http://www.journalarchive.jst.go.jp/...).

(2) Xem: Tài liệu đã dẫn, tr.528.

(3) Alexander Spirkin. Man and Culture [“Con người và văn hoá”], trong Dialectical Materialism [“Chủ nghĩa duy vật biện chứng”]. Progress Publishers, Moscow, 1983, chapter 5 (bản dịch tiếng Anh của Robert Daglish)

(www.marxists.org/reference/archive/spirkin/works/dialectical-materialism/appndx02.html).

(4) Xem: Alexander Spirkin. Tài liệu đã dẫn.

(5) Xem: Elizabeth C.Economy. The Great Leap Backward? [“Một bước nhảy tụt hậu lớn?”], Foreign Affairs, September/October 2007, Vol. 86, Number 5. (http://www.foreignaffairs.org/20070901faessay86503...).

Đã xem: 1423
Thời gian đăng: Thứ ba - 22/03/2016 04:36
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất