QC Shop

Vai trò của tư duy biện chứng duy vật đối với sinh viên đại học nước ta

Hoàng Thúc Lân(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (191), tháng 4 - 2007

Tư duy biện chứng duy vật có vai trò to lớn đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn của sinh viên. Cụ thể là, nó giúp sinh viên khắc phục lối tư duy siêu hình, phiến diện… để có thể xem xét đối tượng một cách đúng đắn, toàn diện; khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ và thái độ định kiến với cái mới; tránh sự phỏng đoán thiếu cơ sở khoa học và nguy cơ rơi vào ảo tưởng; nhìn nhận đối tượng một cách khách quan và khoa học; giúp việc học tập và nghiên cứu các môn khoa học khác có hiệu quả hơn, đồng thời có khả năng gắn kết lý luận với thực tiễn, gắn học với hành.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức, cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường... đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng phải đào tạo được đội ngũ những công chức, những nhà khoa học, những kĩ sư, bác sĩ… giỏi về chuyên môn, có khả năng vận dụng tri thức khoa học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả nhất. Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cụ thể là không chỉ trang bị cho sinh viên tri thức khoa học, mà cả năng lực kết hợp lý luận với thực tiễn, gắn học với hành, cần phải có nhiều biện pháp tích cực và đồng bộ, đặc biệt là việc bồi dưỡng cho họ năng lực tư duy biện chứng duy vật. Đây là một yêu cầu bức xúc giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngay từ khi bước vào bậc đại học, sinh viên phải được rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy biện chứng để việc học tập, tiếp thu và tích lũy tri thức có hiệu quả; đồng thời có khả năng nhận thức, phân tích và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra.

Tư duy biện chứng duy vật đòi hỏi chủ thể không chỉ phản ánh đúng những mối liên hệ, sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, mà còn phải nắm vững và vận dụng nhuần nhuyễn những phương pháp, nguyên tắc của phép biện chứng duy vật vào nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nó có những đặc trưng cơ bản, như tính khách quan, tính toàn diện, tính lịch sử - cụ thể, tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; không chỉ phản ánh trạng thái hiện tồn, mà còn dự báo xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng. Tư duy biện chứng duy vật có vai trò to lớn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người nói chung và sinh viên nói riêng. Cụ thể là:

Thứ nhất, tư duy biện chứng duy vật giúp sinh viên, một mặt, khắc phục được lối tư duy siêu hình, phiến diện, chiết trung, nguỵ biện; mặt khác, xem xét đánh giá vấn đề một cách toàn diện, đúng đắn.  Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng, mọi sự vật và hiện tượng đa dạng, phong phú trong thế giới khách quan luôn có mối liên hệ biện chứng, có ảnh hưởng, tác động qua lại và nằm trong một chỉnh thể thống nhất; nhận thức chỉ đạt đến chân lý khi nó phản ánh đúng đắn bản chất của thế giới khách quan. Bản thân các sự vật, hiện tượng rất phức tạp, chúng là kết quả do nhiều nguyên nhân gây ra và vận động, biến đổi qua nhiều giai đoạn khác nhau mà người ta thường chỉ quan sát được kết quả cuối cùng. Chính vì vậy, khi chưa được trang bị tri thức triết học Mác - Lênin thì khả năng tư duy trong quá trình học tập và nhận thức khoa học của sinh viên còn nhiều hạn chế. Họ thường gặp nhiều khó khăn và dễ mắc sai lầm trong việc phân tích để tìm ra đâu là nguyên nhân cơ bản trong vô số những nguyên nhân tác động tới một sự vật, hiện tượng, hoặc tỏ ra lúng túng không xác định được mối quan hệ chủ yếu, bản chất của vấn đề đang nghiên cứu để tập trung giải quyết. Nói cách khác, do ít được rèn luyện năng lực tư duy biện chứng, hầu hết sinh viên thường rơi vào thế thụ động; tư duy của họ chưa đi sâu vào bản chất, cũng như các mối quan hệ của vấn đề. Trên thực tế, họ ít có khả năng nhìn nhận, đánh giá các vấn đề cả trong học tập lẫn thực tiễn cuộc sống một cách đúng đắn, khoa học; trái lại, tư duy của họ còn siêu hình, cứng nhắc, thường quá đề cao hoặc tuyệt đối hoá lĩnh vực này, xem nhẹ lĩnh vực khác. Có một số sinh viên chỉ chú ý tới việc học, không tham gia vào các hoạt động thực tiễn của đoàn thể, nhà trường... Tình trạng này dẫn đến chỗ kết quả giáo dục không toàn diện, năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn mang tính sách vở, giáo điều, chỉ giỏi về lý thuyết mà chưa biết vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống. Bên cạnh đó, nhiều sinh viên còn nhận thức sai lệch về vai trò của các môn học, cộng thêm tư tưởng thực dụng; chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không có chiến lược phát triển cho tương lai, chỉ tập trung vào các môn học chuyên ngành, không chú ý tới các môn hỗ trợ và các lĩnh vực khác nên xảy ra hiện tượng mù chữ chức năng (nhất là tin học và ngoại ngữ) - một hiện tượng khá phổ biến hiện nay; không ít sinh viên thờ ơ với các vấn đề chính trị, thậm chí bị kẻ xấu lợi dụng, hoặc mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên là do sinh viên chưa nghiêm túc học tập, rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin. Kết quả điều tra từ 954 sinh viên của 4 trường đại học ở Hà Nội cho thấy: khi chưa được trang bị tư duy biện chứng, có 50,62% số sinh viên cho rằng, tư duy của họ lệ thuộc hoàn toàn vào các khoa học cụ thể; 35,53% sinh viên thừa nhận còn nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách thụ động, máy móc và theo cảm tính; 59,74% thừa nhận tư duy của họ mới chỉ dừng lại ở trình độ mô tả, liệt kê, thiếu tính hệ thống và khái quát(1). Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức và họạt động thực tiễn của sinh viên.

Trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hoá đang tác động đến các quốc gia, các mặt của đời sống xã hội, nhiều sinh viên không biết chọn lọc, tiếp thu những giá trị tích cực, đích thực từ các luồng văn hoá bên ngoài nên đã bị lôi kéo, sa ngã vào các tệ nạn xã hội, sống buông thả, đua đòi, ăn mặc lai căng; quan niệm một cách đơn giản về nhiều vấn đề hệ trọng, chẳng hạn như tình yêu, hôn nhân, việc làm, lối sống... Mặt trái của nền kinh tế thị trường, của văn hoá ngoại lai đã làm cho một bộ phận sinh viên bị tha hoá. Họ không biết quý trọng những thành quả cách mạng mà cha ông ta phải trải qua bao khó khăn, gian khổ mới giành được, không quan tâm tới lịch sử, truyền thống dân tộc; thiếu ý thức giữ gìn, phát huy giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc...

Trước đây, V.I.Lênin đã từng khẳng định: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó. Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”(2). Vì vậy, theo chúng tôi, quán triệt nguyên tắc toàn diện của tư duy biện chứng duy vật là giải pháp cơ bản nhất để khắc phục những hạn chế trong tư duy của sinh viên ở nước ta hiện nay. Nguyên tắc này giúp cho sinh viên trong quá trình nhận thức, nghiên cứu biết đi thẳng vào vấn đề, xem xét và phân tích đối tượng một cách chính xác, đầy đủ, toàn vẹn; khắc phục được cách đánh giá đơn giản, một chiều.

Nếu nắm vững phương pháp tư duy biện chứng duy vật, sinh viên sẽ có được sự nhận thức một cách khoa học, cụ thể là xem xét sự vật, hiện tượng trong sự tương tác giữa các mặt, đặt chúng trong các mối liên hệ biện chứng, chi phối lẫn nhau trong một thể thống nhất. Thông qua nguyên tắc này, sinh viên biết sâu chuỗi vấn đề, phát hiện sự liên hệ giữa chúng chứ không đánh giá sự vật, hiện tượng một cách rời rạc, lẻ tẻ và biệt lập khỏi các mối quan hệ đa dạng vốn có; từ đó, tìm ra được cốt lõi, bản chất và những mối liên hệ cơ bản nhất để tập trung giải quyết một cách có hiệu quả. Kết quả của cuộc điều tra (đã nói ở trên) cho thấy: sau khi được trang bị tư duy biện chứng duy vật, trong số 954 sinh viên của 4 trường đại học được hỏi, có 41,29% sinh viên cho rằng, họ đã khắc phục được những hạn chế và có tư duy tốt hơn, đúng đắn hơn; 53,77% sinh viên cho rằng, họ đã có thể bước đầu vận dụng phương pháp tư duy biện chứng duy vật vào việc nhận thức và giải quyết những vấn đề trong thực tiễn; chỉ có 4,06% sinh viên cho rằng, tư duy của họ không có gì thay đổi(3).

Thứ hai, tư duy biện chứng duy vật giúp cho sinh viên khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ và thái độ định kiến với cái mới. Thiếu nguyên tắc phát triển của tư duy biện chứng duy vật, sinh viên dễ mắc phải sai lầm khi nhận thức các vấn đề, thường rơi vào duy tâm, siêu hình, không thấy rằng động lực nội tại của sự phát triển chính là sự giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật và hiện tượng. Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên còn tin vào số phận, bói toán, mê tín dị đoan; chưa có năng lực làm chủ nhận thức và hành động nên khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trong nghiên cứu khoa học, họ thường rơi vào tình trạng bi quan, chán nản và đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc thụ động chấp nhận hoàn cảnh. Điều này biểu hiện qua suy nghĩ và hành động của một số sinh viên, như lười học tập, không kiên trì tích luỹ kiến thức, học chỉ mang tính đối phó; họ không làm chủ được kiến thức nên hoang mang, lo sợ, thậm chí có người đi lễ bái cầu mong sự che chở để vượt qua những khó khăn đang phải đối mặt. Có những sinh viên chưa phát huy hết năng lực của bản thân, còn có thái độ dựa dẫm, ỷ lại; suy nghĩ và hành động không thống nhất. Kết quả điều tra 500 sinh viên năm thứ hai các khoa Sinh, Sử, Toán, Văn, Lý của trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho thấy: có 45,37% sinh viên còn tin vào số phận; 59,22% sinh viên thừa nhận đôi khi không làm chủ được cuộc sống và cầu mong thần thánh, chúa trời che chở. Nhiều người trong số họ tỏ ra bị động, thiếu niềm tin vào tương lai để vươn tới các giá trị chân – thiện – mỹ(4).

 V.I.Lênin đã từng khẳng định: “...lôgíc biện chứng đòi hỏi phải  xét sự vật trong sự phát triển, trong "sự tự vận động",… trong sự biến đổi của nó”(5). Thật vậy, chỉ khi nắm được nguyên tắc phát triển của tư duy biện chứng duy vật, sinh viên mới có thể xem xét và hiểu đúng bản chất của vấn đề, mới có thể tìm và phân tích các mâu thuẫn bên trong của nó để có cách giải quyết phù hợp, đúng đắn. Có như vậy, họ mới có  phương pháp luận, cơ sở khoa học để hiểu rằng sự phát triển của các sự vật, hiện tượng không diễn ra theo đường thẳng tắp mà theo xu hướng quanh co, phức tạp, đôi lúc có bước thụt lùi tạm thời; rằng, chúng phải có sự tích luỹ dần về lượng để dẫn đến thay đổi về chất. Tư duy biện chứng duy vật giúp sinh viên chống tư tưởng nóng vội, chủ quan duy ý chí, hoặc tư tưởng hữu khuynh, bảo thủ, không mạnh dạn từ bỏ cái cũ, lỗi thời để đón nhận cái mới, tốt đẹp.

Thứ ba, tư duy biện chứng giúp sinh viên tránh những sự sai lầm, mò mẫm, phỏng đoán thiếu cơ sở khoa học và nguy cơ rơi vào ảo tưởng. Khi chưa được trang bị tư duy biện chứng duy vật, nhất là nguyên tắc lịch sử cụ thể, sinh viên thường nhìn nhận và đánh giá sự vật một cách chung chung, hoặc tuyệt đối hoá những kết luận nào đó mà không gắn với những điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn xã hội cụ thể; họ dễ rơi vào tình trạng thụ động, thiếu sáng tạo trong học tập và hoạt động thực tiễn.

 Những sai lầm mà sinh viên thường mắc phải là quá đề cao, lý tưởng hoá những kết quả học tập đã đạt được dẫn tới chủ quan, kiêu ngạo, thiếu khiêm tốn, không có thái độ học hỏi và cầu thị. Điều này ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hoạt động thực tiễn tiếp theo. Đa số sinh viên còn chậm đổi mới phương pháp, thói quen cũ trong học tập ở bậc phổ thông - những phương pháp không phù hợp với cách học và nghiên cứu ở cấp đại học. Đây cũng là một lý do khiến nhiều sinh viên phải thi lại, thậm chí phải học lại môn học. Nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi chủ thể trong quá trình nhận thức và nghiên cứu phải đi tìm nguồn gốc, nguyên nhân của quá trình vận động và phát triển của sự vật trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể; phân tích và nắm bắt được những đặc tính vốn có, cũng như sự thay đổi của từng thuộc tính trong những tình huống nhất định để nhận thức xu hướng vận động, biến đổi, phát triển của sự vật một cách chính xác. Nguyên tắc này còn giúp cho sinh viên thấy được tính lịch sử của tri thức khoa học để từ đó, có thái độ học tập, nghiên cứu một cách khoa học, đúng đắn và nghiêm túc, tránh tuyệt đối hoá tri thức khoa học đã có trong mọi hoàn cảnh; ngược lại, luôn bổ sung những tri thức mới phù hợp với sự vận động của thực tiễn cuộc sống.

Thứ tư, tư duy biện chứng duy vật giúp cho sinh viên nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách khách quan và khoa học, khắc phục sai lầm chủ quan. Thiếu nguyên tắc khách quan của tư duy biện chứng duy vật, việc nhận thức trong học tập và nghiên cứu của sinh viên sẽ gặp nhiều hạn chế. Trong học tập và nghiên cứu, có những sinh viên mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hoá nhận thức của bản thân, xa rời thực tiễn, lấy lòng nhiệt tình thay cho sự yếu kém về tri thức khoa học, việc học tập còn mang nặng tính kinh viện, sách vở, học thuộc lòng câu chữ, chưa chú trọng chất lượng. Tư duy biện chứng duy vật đòi hỏi sinh viên khi phản ánh, nhận thức đối tượng phải bảo đảm nguyên tắc khách quan, nắm được quy luật vận động, biến đổi, phát triển của nó; phải tôn trọng và dựa vào quy luật khách quan để rút ra những kết luận khoa học đúng đắn, nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học của mình. Khi nắm vững nguyên tắc này, sinh viên có thể đạt được sự nhận thức khoa học: nghiên cứu và giải quyết vấn đề phải xuất phát từ bản thân sự vật, quan sát tỉ mỉ chính xác để nắm bắt các thuộc tính của sự vật và đi sâu phân tích, khảo sát, khái quát hoá rút ra những kết luận khoa học; đồng thời bổ sung và kiểm nghiệm kết quả của quá trình nhận thức qua thực tiễn. 

Thứ năm, phương pháp tư duy biện chứng duy vật giúp sinh viên có điều kiện học tập và nghiên cứu các môn khoa học khác một cách hiệu quả hơn. Thiếu tư duy biện chứng duy vật, việc học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên không đạt được hiệu quả cao, dễ rơi vào tình trạng mò mẫm, thiếu định hướng khoa học; tư duy thiển cận, vụn vặt, khả năng khái quát, trừu tượng khoa học thấp kém. Tri thức triết học nói chung và phương pháp tư duy biện chứng duy vật nói riêng có vai trò quan trọng đối với việc học tập các môn khoa học khác. Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của nó là kết quả của quá trình nhận thức khoa học, được khái quát hoá, trừu tượng hoá từ các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Vì vậy, việc rèn luyện, bồi dưỡng tư duy biện chứng duy vật sẽ giúp sinh viên nắm được cách thức phân tích, khái quát hoá, trừu tượng hoá đối tượng; biết khai thác, nắm bắt linh hồn của vấn đề, đi sâu vào bản chất của đối tượng nghiên cứu; biết sử dụng và kết hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu khoa học, đặt đối tượng nghiên cứu trong các mối liên hệ phong phú và trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng; đồng thời, khắc phục lối tư duy sai lầm, dàn trải, thiếu trọng tâm, hoặc chỉ dừng lại ở trình độ liệt kê, mô tả.

Thứ sáu, tư duy biện chứng duy vật giúp cho sinh viên có khả năng gắn kết lý luận với thực tiễn, gắn học với hành. Thực tế cho thấy, sinh viên nói chung, nhất là sinh viên năm thứ nhất còn nhiều hạn chế  và lúng túng trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn, chưa biết khái quát và vận dụng sáng tạo tri thức khoa học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Không ít sinh viên còn chưa thấy vai trò, mối liên hệ giữa các môn học; hiểu không đúng về giá trị của các môn học trang bị tư duy biện chứng duy vật, coi triết học là môn phụ và không liên quan tới chuyên môn sau này. Qua thống kê kết quả thi hết môn triết học của 20.949 sinh viên năm thứ nhất cho thấy, tỷ lệ sinh viên đạt điểm thi xuất sắc là 0,46%; khá: 24,21%; trung bình: 49,63%; thi lại, học lại: 20,91%(6). Sinh viên ít tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học, nếu có thì chất lượng công trình cũng không cao, chủ yếu là mô tả, “tầm chương trích cú”. Để cải thiện và nâng cao năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn cho sinh viên, không có cách nào khác là phải bồi dưỡng cho họ phương pháp tư duy biện chứng duy vật. Nó mang lại cho sinh viên phương pháp nhận thức khoa học, cho phép tiếp cận và nắm bắt các tri thức một cách tinh tế, sâu sắc và linh hoạt hơn. Qua đó, sinh viên còn được rèn luyện năng lực vận dụng sáng tạo những tri thức khoa học để luận giải những vấn đề thực tiễn một cách có hiệu quả, kích thích khả năng gắn lý luận với thực tiễn, hiểu sâu sắc hơn các vấn đề đã được học tập, khắc phục tình trạng học máy móc, chỉ thuộc lòng câu chữ.

Được học tập và trang bị phương pháp tư duy biện chứng duy vật, sinh viên không chỉ hình thành cho mình bản lĩnh khoa học, nguyên tắc, phương pháp nhận thức khoa học, mà còn có khả năng vận dụng tri thức chuyên môn vào cuộc sống, biết tu dưỡng và rèn luyện bản thân để phát triển toàn diện. Đồng thời, tư duy biện chứng duy vật còn giúp cho sinh viên chống lại quan điểm duy tâm, siêu hình, mê tín dị đoan; có lăng kính khoa học đúng đắn để nhận thức và giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra.

Người xưa đã từng nói rằng, hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí mạnh thì đất nước thịnh, nguyên khí yếu thì đất nước suy. Nhận thức được tầm quan trọng này, ngành giáo dục - đào tạo nước ta, đặc biệt là giáo dục ở bậc đại học, phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng để đào tạo ra những nhà khoa học giỏi về chuyên môn, có năng lực tư duy biện chứng phát triển ở trình độ cao. Cụ thể, chúng ta cần tập trung giải quyết một số vấn đề quan trọng: 1) Đẩy mạnh việc giảng dạy các môn khoa học trang bị tư duy biện chứng, như Triết học Mác - Lênin, Lôgíc học, Toán học…; 2) Thường xuyên đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, gắn các trường đại học với các viện nghiên cứu khoa học và các doanh nghiệp; 3) Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Đó là con đường để nâng cao chất lượng giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước.

 

 

(*) Thạc sĩ triết học,  Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại  học Sư phạm Hà Nội.

(1) Tác giả điều tra 4 trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Giao thông vận tải Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội năm 2004.

(2) V.I.Lênin. Toàn tập, t.42. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, tr. 364.

(3) Tác giả điều tra 4 trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Mỏ - Địa chất, Đại học Giao thông vận tải Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội trong quá trình nghiên cứu năm 2004.

(4) Tác giả điều tra 5 khoa Sinh, Sử, Văn, Vật Lý, Toán - Sinh viên năm thứ 2, sau khi học triết học Mác - Lênin của trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong quá trình nghiên cứu năm 2004.

(5) V.I Lênin. Sđd., t. 42 tr.364.

(6) Nguyễn Duy Bắc (chủ nhiệm đề tài).  Vấn đề dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học ở Hà Nội. Thực trạng và giải pháp. Hà Nội, 2003, tr.234 – 239.

Đã xem: 8973
Thời gian đăng: Thứ bảy - 21/11/2015 13:33
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 14 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất