QC Shop

Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường

TS. Trần Nguyên Việt(*)

Nguồn: Triết học, số 5 (132), tháng 5-2002

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Từ trước tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta. Các công trình đó đã chú trọng tìm hiểu nguồn gốc và ảnh hưởng của nó đến đời sống của con người Việt Nam hiện đại. Tuy vậy, chưa có một công trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu, so sánh trên phương diện triết học về mối quan hệ giữa đạo đức truyền thống của dân tộc và cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách là bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống mà hàng nghìn đời nay, con người Việt Nam tích luỹ, trao truyền theo thời gian, được cài đặt vào tâm thức của mình như những mẫu tượng triết lý sâu sắc, đồng thời kế thừa các giá trị đó trong quá trình điều chỉnh các chuẩn mực đạo đức cho phù hợp với cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức được nảy sinh do cơ chế kinh tế thị trường.

 

Theo chúng tôi, mỗi dân tộc đều có những chuẩn mực đạo đức riêng, trong đó có một số yếu tố được cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức chấp nhận, làm cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề toàn cầu. Thực tiễn cuộc sống hiện đại đã chỉ rõ, khi áp dụng các chế định, công ước quốc tế thông qua các biện pháp trừng phạt không thể giải quyết được các vấn đề nói trên, chẳng hạn nạn khủng bố, tội ác chiến tranh, v.v., mà phải dựa trên cơ sở cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức để ngăn ngừa các hành vi tội phạm đó. Cái được toàn thể loài người chấp nhận từ các nền văn minh khác nhau, trong đó có cái đạo đức mà chúng ta đang đề cập tới, luôn mang tính bền vững và ổn định cao, đồng thời tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào tính dân tộc, tính giai cấp và thể chế xã hội của bất cứ dân tộc nào. Nó mang tính giá trị cao bởi tính chất nền tảng của đạo đức nhân văn trong việc ổn định và phát triển các mối quan hệ giữa các cộng đồng người trên hành tinh, giữa toàn thể nhân loại với môi trường sinh thái toàn cầu. Vì vậy, việc nghiên cứu, so sánh cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức với truyền thống đạo đức dân tộc để chỉ ra những gì gọi là ưu thế, lợi thế của các giá trị đạo đức dân tộc truyền thống đang đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo đức mới nhằm khắc phục và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực do kinh tế thị trường gây nên, đồng thời không làm tổn hại đến các giá trị truyền thống - đó  là một việc cần thiết và cấp bách.

Theo ngôn ngữ triết học, đạo đức là hình thái ý thức xã hội, trong đó các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên thông qua hệ thống điều chỉnh có chuẩn mực mà dư luận xã hội tán thành được phản ánh. Nói cách khác, xét về mặt chức năng, đạo đức là một hệ thống điều chỉnh cần thiết đối với mỗi trình độ phát triển của xã hội. Hệ thống điều chỉnh này hoạt động trên cơ sở các chuẩn mực đạo lý được dư luận xã hội tán thành và các chuẩn mực pháp lý làm nên toàn bộ sức mạnh của bộ máy chính quyền. Chuẩn mực pháp lý khác với các chuẩn mực đạo lý ở chỗ, nếu các chuẩn mực pháp lý biểu hiện như những phạm trù cơ bản của pháp luật, chẳng hạn hợp pháp-bất hợp pháp, đúng luật-sai luật, thì các phạm trù đánh giá cơ bản của đạo đức và đạo đức học là thiện, ác, chính nghĩa, trách nhiệm, lương tâm, vinh hạnh, phẩm hạnh, hạnh phúc, ý nghĩa của cuộc sống, v.v.. Điều cần lưu ý là các chuẩn mực đạo đức được phổ biến trong quan hệ giữa người với người và không chịu sự điều chỉnh của các bộ máy nhà nước, và đó là các quan hệ tình cảm, như tình bạn, tình đồng chí, tình yêu v.v..

Trong đạo đức bao giờ cũng chứa đựng cái phổ biến toàn nhân loại, cái văn minh làm thành hạt nhân quan trọng với những đặc tính lý tưởng, đạo lý cao và những nguyên lý đạo đức tốt đẹp được trao truyền từ thời đại này qua thời đại khác. Tuy nhiên, chuẩn mực của đạo lý toàn nhân loại là căn bản (có thể nói là giản đơn), được phản ánh trong ý thức của con người về trật tự quan hệ giữa người với người. Ý nghĩa xã hội của các nguyên tắc chung sống đó là ở chỗ, chúng bảo vệ các thành viên của xã hội khỏi những điều thái quá, khỏi những cái có thể làm tổn hại đến đời sống, sức khỏe, an ninh, phẩm giá và lợi ích của mọi người.

Một trong những giá trị quan trọng trong truyền thống tinh thần của dân tộc ta là giá trị đạo đức và nhân văn. Khi nói đến chủ nghĩa nhân văn chúng ta hiểu một cách ước lệ là hệ thống nguyên lý triết học và đạo đức xã hội về quan hệ với con người như một giá trị cao nhất. Với tư cách là một hiện tượng văn hoá tinh thần, chủ nghĩa nhân văn bao hàm nội dung căn bản của quá trình văn minh mà ở đó, các chuẩn mực đạo đức, lý tưởng xã hội, giá trị tinh thần, tự do ý chí, sự tương trợ và hợp tác, tôn trọng quyền và phẩm giá của con người, công bằng và bình đẳng, chính nghĩa, chống tội ác và bạo lực,... được biểu hiện ra với những hình thức đa dạng, phong phú của nó. Các giá trị đạo đức truyền thống và nhân văn là phương thức tồn tại của xã hội, chúng được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác để hình thành nên những giá trị mới của xã hội.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa đạo đức truyền thống và cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức bị chi phối một cách mạnh mẽ bởi những yếu tố mới nảy sinh và có thể bị các yếu tố này phá vỡ cấu trúc đã được hình thành. Đó là cấu trúc của các chuẩn mực đạo đức được hình thành trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó dẫn đến việc cần thiết phải xác định rõ truyền thống đạo đức nào cần được gìn giữ, phát huy, dù nó ở bất kỳ trình độ phát triển nào của xã hội.

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, mục tiêu đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao đã trở thành mục đích tự thân, nghĩa là các chủ thể hoạt động độc lập cố gắng tìm cho mình những giải pháp riêng, nhiều khi là những bí quyết để đạt được hiệu quả đó. Về mặt này, có thể nói, nhiều truyền thống một thời bị xem là không thích hợp, thì nay lại được khôi phục, chúng làm cho thể diện đạo đức của con người thay đổi. Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và việc chấp nhận để các thành phần kinh tế đó hoạt động theo cơ chế thị trường đã làm cho đời sống xã hội thay đổi và các chuẩn mực đạo đức buộc phải trở thành một hệ thống nhạy cảm, có điều chỉnh. Nhận thức về thực chất của nền kinh tế thị trường đối với các nhà lý luận mácxít không phải là khó, cái khó ở đây là việc nhận thức tính thống nhất biện chứng giữa cái truyền thống và cái hiện đại, giữa nhu cầu, lợi ích của cá nhân  với nhu cầu,  lợi ích của xã hội.

Cái hiện đại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần phải được luận chứng một cách chặt chẽ. Việc tìm được giải pháp đúng để cơ chế này vận hành một cách nhịp nhàng, hợp quy luật cũng có nghĩa là tìm được sự thống nhất biện chứng của nó. Trong đạo đức học mácxít, chúng ta đã bắt gặp khái niệm “đạo đức sản xuất” như là thuộc tính vốn có của kinh tế tập thể mà ở đó, mỗi cá nhân tham gia vào quá trình sản xuất phải có những phẩm chất đạo đức tích cực, phù hợp với trình độ sản xuất theo tinh thần mình vì mọi người. Chuẩn mực kinh tế đó là phù hợp, nói đúng hơn là trùng hợp với các chuẩn mực đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Những phẩm chất đạo đức của con người xã hội chủ nghĩa liệu có còn được tiếp tục duy trì trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay hay không, hay là chỉ một phần nào đó mà thôi? Và cái phần được chấp nhận đó có phải là cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức hay không? Đó là những vấn đề mà đạo đức học nước ta và những nước đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội như nước ta phải nghiên cứu.

Trên cơ sở của cách đặt vấn đề như vậy, chúng tôi muốn tìm một số yếu tố điển hình cấu thành đạo đức truyền thống của dân tộc và vai trò của nó trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.

Cũng như bất kỳ giá trị phổ biến nào của toàn nhân loại, giá trị đạo đức và nhân văn truyền thống của dân tộc ta có nguồn gốc từ lao động. Bởi chỉ có lao động mới đáp ứng được mọi nhu cầu và lợi ích của cá nhân cũng như xã hội. Là một nước có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nền nông nghiệp truyền thống là trồng lúa nước, nên cộng đồng người Việt Nam có mối liên hệ cố kết chặt chẽ để sinh tồn. Tình cảm đoàn kết, gắn bó keo sơn đã hun đúc lên những  giá trị đạo đức và nhân văn truyền thống tốt đẹp mà biểu hiện của nó là nhiệt tình, hăng say trong lao động sản xuất, tình yêu quê hương đất nước, tình người đồng cảnh, đồng cam cộng khổ. Giá trị đạo đức và nhân văn truyền thống tốt đẹp đó quy định ý thức đạo đức của nhân cách, của các nhóm (giai cấp), của cả cộng đồng Việt Nam, và theo chúng tôi, đa phần là phù hợp với đạo lý toàn nhân loại.

Mọi sản phẩm của xã hội, suy cho cùng, đều là những đối tượng của nhu cầu, là mẫu mực của đạo lý, là hoạt động và giao tiếp trong lĩnh vực lao động và nghỉ ngơi; mặt khác, những ý niệm và lý tưởng của sự phát triển xã hội là những khách thể hoá và là những giá trị, bởi chính lao động xã hội đã tạo ra chúng. Tuy nhiên, giá trị ở đây phải hiểu cụ thể là những sản phẩm của lao động xã hội mang ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển xã hội, phải thể hiện đầy đủ đặc tính nhân văn của nó.

Chính trong quá trình lao động thúc đẩy sự phát triển đi lên của xã hội đã xuất hiện ý thức, các hình thức khác nhau về giao tiếp xã hội và điều quan trọng hơn cả là hình thành bản tính và hoạt động sống của chính con người. Tại đó, con người đã khách thể hoá các ý tưởng cải tạo tự nhiên dựa trên nguyên lý con người là trung tâm và từ đó, hình thành quan niệm về tính tất yếu của hoạt động này theo hướng hợp lý và tích cực. Nhờ có lao động mà nảy sinh các vấn đề về quan hệ xã hội giữa người với người, giữa người với tự nhiên. Con người sống và lao động không chỉ cho riêng bản thân mình, mà phải tạo ra hằng sản để đảm bảo việc phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái thành người. Một đất nước có nền nông nghiệp truyền thống hàng ngàn đời đã khắc sâu vào tâm trí của từng người cái giá mà mình phải đánh đổi với tự nhiên để có hằng sản đó: để làm ra hạt gạo, con người Việt Nam phải một nắng hai sương bên cây lúa, phải đổ mồ hôi cho lúa mọc và đến ngày thu hoạch, bưng bát cơm trên tay mà vẫn chưa hết lo, vẫn phải so đo tính toán với công sức bỏ ra để thực hành tiết kiệm, để định hướng cho công việc của vụ sau (“Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” -Ca dao).

Đức tính cần cù, chịu khó của con người Việt Nam trong lao động đã trở thành một giá trị nhân văn và góp phần vào sự khách thể hoá các ý tưởng cải tạo tự nhiên, tạo ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sống của con người. Ngoài việc lý giải quá trình chuyển hoá từ vượn thành người thông qua lao động, thể hiện sự tiến hoá của các bộ phận cơ thể (tay, chân, dáng đi) và cao hơn nữa là ngôn ngữ giao tiếp trong lao động, Ph.Ăngghen còn nhấn mạnh rằng, “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người”(1).

 

Do lao động có tầm quan trọng như vậy đối với toàn bộ đời sống của loài người, cho nên việc giáo dục tình yêu lao động, xem lao động là thước đo đạo đức cá nhân con người đã được ghi trong ca dao tục ngữ của dân tộc ta: “Có làm thì mới có ăn, không làm chết đói nhăn răng méo mồm”.  Rõ ràng là, chết vì đói mà cái đói đó là hậu quả của sự lười nhác thì cái chết đó mang tính tội lỗi, đáng bị trừng phạt. Những người lười nhác đáng bị trừng phạt bởi trước hết, họ không nuôi được bản thân mình, chứ chưa nói đến việc phụng dưỡng cha mẹ và nuôi nấng con cái mình. Việc lên án tệ lười nhác của con người như là sự vô lương tâm, thiếu đạo đức đã trở thành lời răn cho các thế hệ tiếp nối, tạo đà cho việc giữ gìn và phát huy truyền thống yêu lao động, chịu thương, chịu khó của con người Việt Nam.

Như trên chúng tôi đã nói, trong hoàn cảnh địa lý tự nhiên không mấy thuận lợi, giá trị một hạt gạo làm ra được đo bởi nhiều yếu tố cấu thành ra nó, trong đó yếu tố căn bản là lao động. Có hiểu được giá trị của lao động thì con người Việt Nam mới quý trọng các sản phẩm làm ra và bước tiếp theo là sử dụng thành quả lao động một cách hợp lý, tức là thực hành tiết kiệm. Cần luôn đi đôi với kiệm.

Việc kế thừa các yếu tố tích cực trong các học thuyết Nho, Phật, Lão cách đây khoảng hai nghìn năm đã có ý nghĩa đáng kể đối với định hướng hoạt động kiến tạo các giá trị nhân văn. Ba học thuyết này kết hợp với cái bản địa tạo thành nền tảng thế giới quan Việt Nam, góp phần hình thành nên các giá trị đạo đức và nhân văn của dân tộc ta, đồng thời được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị - đạo đức luôn đề cao bản tính thiện của con người. Dù bị biến đổi theo thời gian và bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch sử,  bản tính thiện của con người mà Nho giáo đề cập tới vẫn luôn hàm chứa giá trị nhân văn quan trọng. Đó là chuẩn mực đạo đức (nhân nghĩa) với tư cách là yếu tố căn bản và là sự phản ánh trong ý thức của mọi người về trật tự quan hệ  trong xã hội vốn được hình thành từ hàng nghìn năm. Mặc dù hạn chế của học thuyết Nho giáo về thước đo mức độ trị bình của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định được tính bằng việc xã hội hoá các nguyên tắc cơ bản đó theo mục đích trước hết là bảo vệ thể chế phong kiến với các trật tự đẳng cấp của nó, sau đó mới đến thứ dân, chúng ta vẫn không thể phủ nhận điều là, con người với tư cách thành viên của cộng đồng được bảo vệ khỏi sự đe dọa về tính mạng, về nhân phẩm, sức khoẻ và các điều kiện khác, nếu nó biết tuân thủ các tiền định do Trời và quốc vương (Thiên tử) đặt ra. Như vậy, chuẩn mực đạo đức phong kiến được hình thành không phải hoàn toàn tự nhiên, thông qua sự chấp nhận và duy trì của ý thức thông thường, mà có cả sự áp đặt. Tuy vậy, sự áp đặt đó tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển của xã hội mà tìm được cho mình hạt nhân hợp lý để tồn tại, đồng thời khắc sâu vào ý thức của nhân dân và cuối cùng, trở thành chuẩn mực đạo đức tối thiểu; không chỉ trở thành vũ khí hữu hiệu trong việc diệt ác trừ gian và bạo lực, mà còn được thể hiện ra ở mối quan tâm của các bậc cha mẹ trong việc giáo dục con cái, con cái phải biết thương yêu bố mẹ, người trẻ kính trọng kẻ già, v.v.. Các chuẩn mực này thoạt nhìn có vẻ là đương nhiên, song về mặt quan hệ xã hội, vẫn bao hàm những yếu tố thực dụng nhất định, bởi vì, trong cuộc sống hữu hạn về mặt thời gian của một cá nhân, ai cũng buộc phải trải qua thời kỳ mà ở đó, hơn bao giờ hết, cần đến sự quan tâm của người thân, của cộng đồng.

Giá trị nhân văn của quan hệ truyền thống này là sự đảm bảo cho con người có một cuộc sống tương đối an toàn bởi sự đoàn kết, cố kết lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng. Một đất nước phần lớn dựa vào nông nghiệp thì thành quả lao động trong lĩnh vực đó phải được thường xuyên bảo vệ khỏi nạn thiên tai, ngoại xâm, trộm cắp, v.v.. Khi tham gia vào mối quan hệ này, con người được bảo đảm hơn về mặt an ninh, các hành vi đạo đức của nó được duy trì tốt hơn do đòi hỏi khắc nghiệt của việc chấp hành “lễ”, làm cho trật tự xã hội được bền vững trên cơ sở của những thiết chế “luật - lễ” và dư luận xã hội.

Từ sự cố kết, đoàn kết và hợp tác trong lao động sản xuất và sinh hoạt, mối quan hệ xã hội dần dần được hình thành dưới hình thức tập thể mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với những yếu tố của truyền thống nhân văn và đạo đức có giá trị. Hình thức đời sống tập thể mà bất cứ con người Việt Nam nào cũng phải tham gia hoàn toàn không phụ thuộc vào sở thích của họ, như gia đình, làng, nước. Tuy hình thức tập thể trong truyền thống tồn tại một cách khách quan, nhưng sự lệ thuộc của cá nhân, vào đó lại bị quy định bởi sự lựa chọn có thể có của cá nhân, như phường, hội nhằm mục đích hợp tác, tương trợ thiết thực và có hiệu quả trong quá trình lao động sản xuất, cũng như phòng chống thiên tai địch họa.

Điều căn bản dễ nhận thấy là, toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh cho sự tồn tại nhiều hình thức phong phú về đời sống tập thể của con người theo không gian và thời gian. Thế giới hiện đại đang vận động không phải tới chỗ phân chia loài người thành những cá thể độc lập, mà tới chỗ phát triển phương thức phức tạp của sự giao tiếp giữa cá nhân và xã hội.

Chính sự cố kết cộng đồng do địa chính trị quy định đối với con người Việt Nam qua hàng nghìn năm, lại được Nho giáo bổ sung thêm về phương diện lý luận chính trị - đạo đức, đã tạo nên một lối sống của riêng nó, có bản sắc riêng - cuộc sống mang tính tập thể. Bản sắc này lại được phát huy mạnh mẽ khi đất nước tìm được định hướng phát triển đúng đắn mà chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu lý luận nói chung và lịch sử tư tưởng Việt nam nói riêng đều có chung nhận định về những điều kiện thuận lợi của sự du nhập, bắt rễ và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam.

Ngày nay, mặc dù cơ chế thị trường với nhiều mặt trái của nó đang có ảnh hưởng không phải hoàn toàn tích cực tới các giá trị đạo đức truyền thống của nước ta, song việc đặt vấn đề về tính bất dung giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn không có căn cứ. Một là, các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội được nhận định lại một cách chính xác hơn, phù hợp hơn với thực tế đời sống xã hội là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hai là, xuất phát từ những mục tiêu nói trên, chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay đã và đang nghiên cứu ngày càng sâu hơn phương pháp thực hiện các mục tiêu đó. Sự tiếp nhận kinh tế thị trường để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh là cần thiết và quan trọng và để thực hiện tiếp theo các mục tiêu còn lại không thể có con đường nào khác khả dĩ hơn là định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việc gìn giữ, bảo vệ thành quả giá trị của chủ nghĩa xã hội ở nước ta về mọi mặt đã trở thành chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện đại. Sở dĩ chúng tôi dùng khái niệm thành quả giá trị là vì những thành quả đó đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Không phải cái gì của chủ nghĩa xã hội hiện thực cũng đều có giá trị, điều này đã được thực tiễn xây dựng đất nước trong mấy chục năm qua chỉ ra. Song, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, kể cả những truyền thống được hình thành trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình phổ biến trước đây, hiện vẫn có nhiều điểm phù hợp với cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức. Do vậy, khi phát triển theo xu thế chung của thế giới, đất nước ta vẫn có những tiền đề vững chắc là các giá trị đạo đức truyền thống đó.

Lấy thí dụ trong lĩnh vực kinh tế, xu hướng phổ biến của nhân loại hiện nay là phát huy ưu thế của nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế kế hoạch theo kiểu tập trung, quan liêu bao cấp trước đây của các nước xã hội chủ nghĩa đã tỏ ra kém hiệu quả do thiếu yếu tố cạnh tranh với tư cách là nhân tố phát triển chất lượng hàng hoá, giảm giá thành sản phẩm nhằm đáp ứng các nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, đồng thời tạo điều kiện để đất nước hội nhập kinh tế thế giới: xuất nhập khẩu và trao đổi hàng hoá, phát huy nội lực để xác định vị thế của mình trong lĩnh vực sản xuất hàng hoá. Tuy vậy, những mặt trái của nền kinh tế thị trường không phải là ít. Thứ nhất, các quốc gia thực hiện nền kinh tế thị trường phải tiến hành mở cửa và phát huy nội lực, mà muốn phát huy được nội lực, phải không ngừng nâng cao tính độc lập tự chủ trong đường lối phát triển kinh tế. Thứ hai, phải giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường, trong đó có đạo đức nghề nghiệp. Thứ ba, nền kinh tế thị trường phải gắn liền với lợi ích toàn dân tộc, đồng thời đảm bảo cho mỗi cá nhân trong xã hội được phát triển một cách toàn diện. Thứ tư, kinh tế thị trường phải đảm bảo việc duy trì các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giữ gìn phong hoá khỏi sự suy đồi do nền kinh tế đó phát sinh, như chạy theo lợi nhuận mà bất chấp nhân tính, chà đạp lên cả cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức; dựa vào đồng tiền để phó mặc mối quan tâm đến người thân và cộng đồng cho các kiểu dịch vụ như chăm sóc người già, con cái, v.v..

Việc khắc phục những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, phát huy những mặt tích cực của nó cũng chính là những mục tiêu quan trọng của đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn. Vấn đề này đang đỏi hỏi cơ sở lý luận mới, mang tính nhân văn và đạo đức cao để giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của nhóm (giai cấp) và của toàn thể xã hội, làm cho truyền thống đạo đức của dân tộc không chỉ mang đầy đủ các yếu tố của cái phổ biến toàn nhân loại trong đạo đức, mà còn bổ sung, góp phần làm cho nó ngày một phong phú hơn, thiết thực hơn.

(*) Tiến sĩ triết học, Trưởng phòng Nghiên cứu Triết học Việt Nam, Viện Triết học

(1) C. Mác và Ph. Ăng ghen. Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994,  tr. 641.

 

 

Đã xem: 693
Thời gian đăng: Thứ tư - 04/02/2015 03:01
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất