QC Shop

Một vài suy nghĩ về triết học Việt Nam và những đặc điểm của nó

PGS, TS. Nguyễn Hùng Hậu

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 4 (155), tháng 4 - 2004

Lịch sử triết học Việt Nam với tư cách một bộ môn khoa học chỉ mới ra đời cách đây không lâu ở Việt Nam. Hiện nay, nó được trình bày rải rác trong các bộ sách về Lịch sử tư tưởng Việt Nam, chẳng hạn như của Nguyễn Đăng Thục (7 tập), của Viện Triết học (2 tập) và của Trần Văn Giàu (3 tập). Ngoài ra, còn một số sách báo, chuyên khảo ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đề cập đến như, cuốn Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông, Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam và  Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam  của Nguyễn Hùng Hậu. Nhìn chung, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam đã được xới lên, nhiều giai đoạn, nhiều vấn đề đã được nghiên cứu khá sâu.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Thực ra, trước khi xuất hiện triết học Mác - Lênin, ở Việt Nam đã có truyền thống Văn, Sử, Triết, Tôn giáo bất phân. Bởi vậy, ở Việt Nam không có triết học với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập hiểu theo nghĩa hiện đại, mà chỉ có những tư tưởng hay học thuyết triết học nằm trong các cuốn sách về văn, sử hay tôn giáo. Nếu xét ở góc độ những vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường của triết học hiện nay thì quả thật ở Việt Nam, khía cạnh này rất mờ nhạt. Nhưng từ chỗ ở Việt Nam trước kia chỉ có những người hiền, hiền triết, minh triết mà nói rằng không có các nhà triết học thì e rằng đã dùng con mắt hiện đại mà nhìn nhận, đánh giá người xưa. Có lẽ chính vì thế mà từ trước tới nay, ở nước ta, mới chỉ có những cuốn sách về Lịch sử tư tưởng Việt Nam, chứ chưa hề có cuốn sách nào với cái tên Triết học Việt Nam hay Lịch sử triết học Việt Nam. Thậm chí, ngay cái tên khá khiêm tốn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, ta cũng không thấy có. Năm 2001, cái tên này mới thấy xuất hiện trong Giáo trình lịch sử triết học dùng cho hệ cử nhân chính trị. Nếu nói là Lịch sử tư tưởng Việt Nam thì có lẽ quá rộng, bởi ngoài tư tưởng triết học, nó còn bao gồm cả tư tưởng kinh tế, chính trị, pháp luật, mỹ thuật, đạo đức, hội hoạ, văn hoá, v.v.. GS.Trần Văn Giàu đã nói: "Có một mối liên hệ gần gũi giữa lịch sử tư tưởng và lịch sử triết học, nhưng hai môn không phải là một. Triết học thuộc tư tưởng, nhưng còn có nhiều tư tưởng không phải là triết học"(1).

Trong những năm gần đây, đã có người cho rằng, trước kia chúng ta chỉ có những tư tưởng có tính chất triết học, chứ không có triết học. Nhưng theo chúng tôi, trước khi có triết học mácxít, chúng ta không chỉ có những tư tưởng triết học, mà còn có cả những học thuyết triết học theo đúng nghĩa của nó. Chẳng hạn, học thuyết Trần Thái Tông, trong nó bao gồm cả bản thể luận lẫn nhận thức luận, cả thế giới quan lẫn nhân sinh quan(2). Hơn nữa, chúng tôi còn cho rằng, ngoài Trần Thái Tông, ở Việt Nam còn khá nhiều các nhà triết học, như Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, v.v..(3). Đã có những nhà triết học, học thuyết triết học, lẽ tất nhiên là có người học và nghiên cứu những học thuyết này. Như vậy, dù không nói từ "Triết học", nhưng ở Việt Nam vẫn có triết học, vấn đề là triết học được hiểu theo nghĩa nào. Điều này cũng giống như người ta không nói đến từ "Biện chứng", điều đó không có nghĩa là trong cuộc sống lại không có biện chứng. Có những nhà triết học, họ không thừa nhận học thuyết của mình là triết học, nhưng không một ai lại khẳng định họ không phải là nhà triết học. Đó là trường hợp của Lútvích Phoiơbắc, nhà triết học duy vật có tầm cỡ lớn của Đức.

Lại có người giản đơn nghĩ rằng, Việt Nam cũng như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước phương Đông khác, ở họ có triết học, chẳng hạn như triết học Trung Quốc, triết học Ấn Độ, vậy thì ta cũng có triết học Việt Nam.

Chúng tôi không tán thành quan điểm cho rằng, ở Việt Nam, vấn đề cơ bản của triết học khá mờ nhạt và do vậy, không có triết học, mà chỉ có những tư tưởng triết học. Ph.Ăngghen cho rằng, vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, vấn đề tối cao của toàn bộ triết học là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và giới tự nhiên.

Ở Việt Nam cũng có vấn đề này, nó thể hiện dưới dạng mối quan hệ giữa "vật" và "tâm", song nó không phải là trung tâm điểm của triết học Việt Nam. Chẳng lẽ triết học chỉ có mỗi một vấn đề tối cao, cơ bản đó hay sao? Nếu vậy thì triết học quả là nghèo nàn, khô cứng. Như chúng ta đã thấy, dưới vấn đề tối cao (cao nhất) này, còn có nhiều vấn đề khác thấp hơn được cụ thể hoá, bên cạnh vấn đề cơ bản, còn nhiều vấn đề không cơ bản, nhưng chúng vẫn thuộc vào triết học. Triết học đâu chỉ có bản thể luận, nhận thức luận, mà nó còn bao gồm cả thế giới quan, nhân sinh quan, lôgíc, đạo đức, mỹ học, thân phận con người, đạo lý làm người, thế giới tâm linh... Tuỳ theo từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ mà vấn đề nào nổi trội hơn. Có hiểu như vậy thì chúng ta mới thấy triết học phương Đông cũng phong phú không thua kém gì triết học phương Tây, triết học Việt Nam cũng có nhiều điều thú vị.

Có một vấn đề mang tính phương pháp luận mỗi khi nghiên cứu triết học Việt Nam là: chẳng lẽ nội dung triết học Việt Nam chỉ được bóc tách, phát hiện từ các văn bản, như văn, thơ, phú, kệ, lục, luận, cáo, biểu, v.v.. Vậy còn các văn bản khác, như thơ ca, hò vè, ca dao, tục ngữ, ngụ ngôn, tiếu lâm, phong giao, v.v. thì sao, tại sao ta không khai thác triết học từ những văn bản này? Có người cho rằng, đằng sau những văn bản này, chúng chứa đựng ẩn ý của những triết lý, chứ không phải triết học. Từ đó, xuất hiện vấn đề: triết học có bao hàm triết lý không? Nghiên cứu triết học có nghiên cứu cả triết lý, chẳng hạn như triết lý dân gian không?

Nếu hiểu triết học theo nghĩa rộng, nó là môn khoa học về triết, bao gồm tất cả các loại triết, thì nó bao gồm cả triết lý. Nhưng nếu hiểu triết học là một hệ thống khái niệm, phạm trù được kết cấu bằng một lôgíc chặt chẽ nhằm giải quyết vấn đề cơ bản của triết học thì triết lý không thuộc triết học. Gắn triết học với hệ thống cũng chưa hẳn đúng, vì trong lịch sử cũng có những triết học phi hệ thống. Ngày nay, văn hoá dân gian đã trở thành đối tượng của một bộ môn khoa học thì hà cớ gì chúng ta - những người làm triết học - lại cứ khư khư đóng cửa, không mở rộng sang lĩnh vực triết lý dân gian.

Mặt khác, nhu cầu thực tiễn đất nước buộc chúng ta phải giải đáp câu hỏi: triết lý tồn tại qua mấy nghìn năm lịch sử của dân tộc ta là gì? Mỗi người chúng ta trong quá trình sống, dù nói ra hay không nói ra, đều có một quan niệm sống nhất định, một triết lý nho nhỏ. Vậy, cả một dân tộc có bề dày lịch sử như dân tộc Việt Nam lại không có triết lý của mình hay sao? Chúng tôi không tin như vậy. Nghiên cứu mảng này biết đâu chúng ta lại vạch ra được lôgíc nội tại của sự phát triển lịch sử đất nước.

Như vậy, theo chúng tôi, ở Việt Nam có cả triết học (mặc dù trước kia, ông cha ta không dùng từ này và nó nằm trong quan hệ bất phân với Sử, Văn, Tôn giáo) và triết lý. Nếu như cái thứ nhất chúng ta còn chưa dám khẳng định, thì cái thứ hai hầu như chúng ta bỏ trống. Nếu triết học ngả về phía bác học thì triết lý nghiêng về phía dân gian. Nếu công cụ của triết học là phạm trù, khái niệm, thì công cụ của triết lý là những ẩn dụ, hình ảnh để nói lên tư tưởng. Triết học thường gắn liền với tính chặt chẽ và đi liền với tính chặt chẽ này, nó thường khô khan, cứng nhắc, còn triết lý tỏ ra mềm dẻo hơn, sinh động hơn, phổ thông hơn, quần chúng hơn. Nếu xét ở bình diện phổ thông, quần chúng thì nghiên cứu triết lý dân gian còn quan trọng hơn cả nghiên cứu triết lý bác học, triết học, bởi từ đây rất có thể chúng ta lại tìm ra, phát hiện được cái mạch ngầm sâu thẳm của dân tộc mà tư tưởng bác học chỉ là sự thể hiện bề nổi, bên ngoài.

Điểm cuối cùng mà chúng tôi muốn nói là, ở Việt Nam, các vĩ nhân, anh hùng dân tộc, thậm chí các nhà hiền triết, minh triết thường viết rất ít. Đối với họ, chủ yếu là hành động, hoạt động nhằm ích nước lợi dân, đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Bởi vậy, nếu chỉ dựa vào câu chữ của họ mà nói lên tư tưởng của họ, chúng tôi e rằng sẽ không đầy đủ, hoàn chỉnh. Tư tưởng của họ, nó "bàng bạc" ở khắp mọi nơi, trong hành vi, hành động, trong đối nhân xử thế, trong toàn bộ cuộc đời của họ. GS.Trần Văn Giàu đã rất đúng khi cho rằng, có các tác phẩm văn chương nói lên tư tưởng, mà cũng có hành vi, thái độ, hoạt động cá nhân hay tập thể nói lên tư tưởng(4). Trong các tư tưởng đó, rất có thể có những tư tưởng triết học. Bởi vậy, chúng ta cần nghiên cứu tư tưởng triết học, triết lý thể hiện qua hành vi, thái độ, hoạt động của con người. Điều này có vị thế vô cùng quan trọng khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, một con người vĩ đại nhưng lại ít viết và nếu có viết thì lại viết rất ngắn gọn, cô đọng.

Thực ra, khuynh hướng này cũng không có gì mới mẻ, bởi trong Nho, Phật, Lão cách đây hàng mấy nghìn năm đã có nhiều ví dụ dùng hành động, cử chỉ, hành vi để nói lên tư tưởng. Các nhà hiền triết phương Đông, như Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, các vị Thiền sư, ... đều đi theo khuynh hướng này. Từ đây mở ra một lĩnh vực mới đối với triết học Việt Nam là nghiên cứu triết lý qua hành động, hoạt động, chẳng hạn như triết lý trong võ thuật, lễ hội, phong tục, tập quán, v.v.; đi xa hơn nữa, triết lý trong âm nhạc, hội hoạ, điêu khắc, trong thần thoại, cổ tích, v.v.. Chúng ta cần phát hiện đằng sau những di sản văn hoá vật chất và tinh thần, người xưa muốn gửi gắm những thông tin tư tưởng, những triết lý gì cho thế hệ sau này. Chẳng hạn, đằng sau ngôi chùa Một Cột, ông cha ta muốn gửi gắm một triết lý:

"Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông thắm lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Về mặt triết học, điều đó có nghĩa là, trong cái tương đối có cái tuyệt đối, cái tuyệt đối nằm trong cái tương đối; ai đã đạt được cái tuyệt đối, họ có thể ung dung sống trong cái tương đối mà không bị cái tương đối níu kéo, chi phối.

Đó rất có thể là bước quá độ để chúng ta nghiên cứu tư tưởng của các vị thiền sư với phương châm vô ngôn, "bất lập văn tự", triết lý vô ngôn của nhà Phật(5).

Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu một số đặc điểm của triết học Việt Nam.

1. Nếu như triết học phương Tây thường gắn liền với những thành tựu của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên, triết học Ấn Độ gắn liền với tôn giáo, triết học Trung Quốc gắn liền với chính trị, đạo đức, thì triết học Việt Nam gắn liền với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Khi phản ánh hiện thực đó, triết học Việt Nam hướng chủ yếu đến vấn đề nhân sinh, đạo lý làm người mà tư tưởng trung tâm là yêu nước. Như vậy, tư tưởng triết học xuyên suốt toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam là tư tưởng yêu nước, là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Dĩ nhiên, chủ nghĩa yêu nước này có nhiều điểm khác với chủ nghĩa yêu nước ở một số nước khác; thậm chí, trong mỗi giai đoạn của lịch sử dân tộc, nó lại mang những màu sắc khác nhau. Nó cũng chính là chiếc lăng kính, bộ lọc để các hệ tư tưởng du nhập từ bên ngoài đi qua. Nghiên cứu đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, Nho giáo Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.

2. Nếu như triết học phương Tây có khuynh hướng trội là đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan (từ bản thể luận đến nhận thức luận, lôgíc học), thì triết học Việt Nam lại có khuynh hướng trội là đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan. Ở Việt Nam, vấn đề trung tâm, hàng đầu là vấn đề con người, đạo lý làm người, tức nhân sinh quan; sau đó, các nhà tư tưởng mới đi tìm cách lý giải, đặt cơ sở cho những vấn đề trên và tạo nên thế giới quan. Điều này bị quy định bởi phương thức sản xuất châu Á (cái mà sau này C.Mác gọi là hình thức sở hữu ban đầu hay giai đoạn quá độ từ sở hữu công cộng sang sở hữu tư nhân) ở Việt Nam.

3. Triết học Việt Nam là sự thể hiện, phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan của cộng đồng dân tộc; nó phát triển từ những ý niệm thô sơ, chất phác về nhân sinh, vũ trụ lên trình độ lý luận, song do khuynh hướng trội nêu trên, nên nó thiếu tính hệ thống chặt chẽ và thường là cải biến nội dung các khái niệm trong các học thuyết được du nhập từ bên ngoài qua lăng kính yêu nước nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4. Cũng chính vì khuynh hướng trội nêu trên mà vấn đề cơ bản của triết học, tức vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức, trong triết học Việt Nam là rất mờ nhạt, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không trải ra trên khắp mọi vấn đề, nhưng nhìn chung, khuynh hướng duy tâm tôn giáo xét trên bình diện bác học có vẻ nổi trội hơn khuynh hướng duy vật vô thần, trong khi đó, trên bình diện bình dân lại có vẻ ngược lại.

5. Do đó, nếu xét trên bình diện bác học, triết học phương Tây hơi nghiêng về duy vật, hướng ngoại, thì triết học Việt Nam lại hơi ngả về duy tâm, hướng nội. Nếu triết học phương Tây nghiêng về lấy cái bên ngoài để giải thích cái bên trong thì triết học Việt Nam lại ngả về lấy cái bên trong để giải thích cái bên ngoài theo kiểu của cụ Nguyễn Du: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Nếu biện chứng trong triết học phương Tây nghiêng về đấu tranh, thì biện chứng trong triết học Việt Nam lại ngả về thống nhất. Nếu vận động, phát triển trong triết học phương Tây ngả theo con đường đi lên theo hình xoáy trôn ốc thì vận động, phát triển trong triết học Việt Nam lại ngả theo con đường vòng tròn, tuần hoàn.

 

 

 


(*) Phó giáo sư, tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(1) Trần Văn Giàu. Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, t.1. Hệ thức phong kiến và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973, tr.10.

(2) Xem: Nguyễn Hùng Hậu. Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.

(3) Xem: Nguyễn Hùng Hậu. Lược khảo tư tưởng thiền Trúc Lâm Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.

(4) Xem: Trần Văn Giàu. Mấy ý kiến sơ bộ về nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam. Thông báo triết học, số 7, 1967.

(5) Xem: Nguyễn Hùng Hậu. Triết lý "vô ngôn" của nhà Phật. Trong: Almanach. Các nền văn minh thế giới. Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1996.

Đã xem: 3382
Thời gian đăng: Thứ năm - 04/06/2015 04:23
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất