QC Shop

Nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam - Thành quả và những vấn đề đặt ra

Phạm Văn Đức(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3 (190), tháng 3 - 2007

Bài viết đề cập đến hai nội dung cơ bản: một số thành quả và vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng ở Việt Nam. Trên cơ sở luận giải, làm rõ các kết quả trong nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, về các quy luật và các phạm trù cơ bản… của phép biện chứng duy vật, tác giả cho rằng, những nghiên cứu đó đã góp phần truyền bá thế giới quan duy vật biện chứng, xây dựng cơ sở phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đồng thời, tác giả cũng nêu rõ những vấn đề đặt ra hiện nay, cả ở nghiên cứu cơ bản lẫn nghiên cứu ứng dụng, mà những người làm công tác nghiên cứu lý luận nói chung, nghiên cứu triết học nói riêng ở Việt Nam cần quan tâm và giải quyết một cách hiệu quả nhằm phát huy vai trò của triết học đối với thực tiễn xây dựng đất nước.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Năm 2000, Viện Triết học đã thực hiện đề tài cấp bộ Nhìn lại 55 năm nghiên cứu triết học ở Việt Nam: một số vấn đề chủ yếu. Có thể nói, đề tài đó đã tổng kết một các khá đầy đủ những kết quả mà giới triết học Việt Nam đã thu được trong hơn nửa thế kỷ qua, đồng thời nêu lên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới. Riêng trong phần chủ nghĩa duy vật biện chứng, các tác giả đã tập trung đánh giá lại những thành tựu đã đạt được trên các mặt như: nghiên cứu vấn đề vật chất và ý thức, nghiên cứu về phép biện chứng duy vật. Trong bài viết này, chúng tôi không trình bày lại một cách chi tiết những kết quả cụ thể, mà chỉ nêu lên một số nhận định khái quát; trên cơ sở đó, trình bày những vấn đề hiện đang đặt ra trong lĩnh vực nghiên cứu này.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học đã có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu các quan niệm khác nhau về vật chất và ý thức, mối quan hệ vật chất - ý thức, nhất là quan niệm của triết học Mác - Lênin về các vấn đề này. Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã tập trung làm sáng tỏ, phân tích quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về hai phạm trù cơ bản và rộng nhất của triết học cũng như mối quan hệ giữa chúng. Song, để có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tầm cỡ về vấn đề này và nhất là để có những nghiên cứu có giá trị làm cơ sở lý luận và phương pháp luận cho hoạt động cải tạo thực tiễn và nhận thức khoa học, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học cần có sự đầu tư­ công sức nhiều hơn nữa, đồng thời cần có sự hợp tác chặt chẽ với các nhà khoa học trong các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là với các nhà khoa học tự nhiên.

Cũng như­ những vấn đề xung quanh các phạm trù vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng, trong hơn nửa thế kỷ qua, phép biện chứng duy vật đã đ­ược nghiên cứu khá toàn diện.

Trư­ớc hết, cần khẳng định rằng, trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định phép biện chứng duy vật như­ là "khoa học về mối liên hệ phổ biến" và là "khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy". Kế thừa và phát triển những tư­ tư­ởng đó, V.I.Lênin đã coi "phép biện chứng là học thuyết toàn diện nhất và sâu sắc nhất về sự phát triển".

Căn cứ vào những chỉ dẫn trên đây của các tác gia kinh điển, các nhà triết học mácxít ở Liên Xô đã phân chia phép biện chứng duy vật thành ba bộ phận chủ yếu, đó là: hai nguyên lý, ba quy luật và sáu cặp phạm trù. Ở Việt Nam, trong các giáo trình triết học, nội dung của phép biện chứng cũng được quan niệm t­ương tự như­ vậy. Ở đây, chúng ta không bàn đến tính hợp lý hay không hợp lý của quan niệm trên đây về nội dung của phép biện chứng, mà lấy đó làm căn cứ để xem xét những cái đã làm đư­ợc và những cái cần tiếp tục làm trong thời gian tới.

Trong số hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến nguyên lý về sự phát triển thì nguyên lý về sự phát triển đư­ợc quan tâm nghiên cứu nhiều, mặc dù kết quả của sự nghiên cứu đó còn khiêm tốn.

Nếu như­ trư­ớc đây, ở Liên Xô, lý thuyết về sự phát triển đ­ược nghiên cứu một cách khá bài bản và trên nhiều khía cạnh thì ở Việt Nam, do những nguyên nhân khác nhau, nguyên lý về sự phát triển chỉ đ­ược triển khai trên ba hư­ớng chủ yếu sau:

1. Theo h­ướng thứ nhất, một số tác giả tập trung làm rõ các khái niệm có liên quan đến phạm trù phát triển, nh­ư vận động, tiến bộ, phát triển.

2. Theo hư­ớng thứ hai, một số tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề nguồn gốc, động lực của sự phát triển, mà đặc biệt là của sự phát triển xã hội. Có thể nói, trong những năm vừa qua, đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây, hư­ớng nghiên cứu này đã đ­ược khai thác khá nhiều. Sở dĩ như­ vậy là vì, bắt đầu từ giữa những năm 80, khi bắt tay vào công cuộc đổi mới, chúng ta ngày càng nhận ra vai trò động lực đặc biệt của con ngư­ời trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, vấn đề đ­ược đặt ra là, làm thế nào khai thác đ­ược động lực ấy và sử dụng được nó một cách có hiệu quả để thúc đẩy quá trình vận động và phát triển xã hội.

3. Theo hướng thứ ba, một số tác giả đã nghiên cứu triết lý phát triển của Việt Nam. Từ năm 1997 đến năm 2000, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã có một chư­ơng trình nghiên cứu triết lý phát triển của Việt Nam. Các tác giả tham gia chư­ơng trình này đã tập trung nghiên cứu các vấn đề như­: sự khác nhau giữa triết học và triết lý; quan điểm của C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về triết lý của sự phát triển, triết lý về mối quan hệ giữa con ng­ười và tự nhiên, giữa cái kinh tế và cái xã hội, giữa nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại sinh.

Có thể nói, những công trình nghiên cứu về động lực của sự phát triển, triết lý về sự phát triển trong những năm qua đã góp phần đáng kể vào việc cụ thể hoá nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật trong lĩnh vực xã hội.

Cùng với nguyên lý về sự phát triển, các quy luật cơ bản của phép biện chứng cũng đã đư­ợc chú ý nghiên cứu một cách thích đáng hơn. Một số công trình nghiên cứu mang tính chất cơ bản và ứng dụng đã đ­ược công bố.

Tr­ước hết, cần nói đến các nghiên cứu xung quanh phạm trù quy luật. Đây là phạm trù hết sức cơ bản của phép biện chứng duy vật. Phạm trù đó đã được các nhà triết học trong lịch sử bàn luận t­ương đối nhiều và t­ưởng như­ mọi thứ đã trở nên rõ ràng, không còn vấn đề gì phải tranh luận. Nh­ưng, đến năm 1986, khi Đảng ta nêu ra "Bài học về tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan" thì vấn đề nội dung của phạm trù quy luật lại bắt đầu đư­ợc đặt trở lại. Bởi lẽ, để tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan thì điều quan trọng tr­ước tiên là cần phải hiểu thế nào là quy luật?

Trước yêu cầu đó, trong khoảng mươi năm gần đây, một số tác giả đã xem xét phạm trù quy luật dư­ới góc độ lịch sử, tập trung làm rõ các quan điểm khác nhau trong lịch sử triết học về quy luật; trên cơ sở đó, nêu lên những đặc trư­ng cơ bản nhất của phạm trù đó. Một số tác giả khác xem xét mối quan hệ giữa phạm trù quy luật với các phạm trù khác của phép biện chứng duy vật để từ đó, vạch ra sự tư­ơng đồng và khác biệt giữa phạm trù quy luật và các phạm  trù khác của phép biện chứng duy vật. Ngoài ra, phạm  trù quy luật còn đ­ược xem xét trong mối tư­ơng quan với phạm trù mâu thuẫn(1), v.v..

Trong số ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: quy luật mâu thuẫn (hay quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập), quy luật l­ượng chất và quy luật phủ định của phủ định thì trong những năm qua, quy luật mâu thuẫn đ­ược tập trung nghiên cứu nhiều hơn cả. Sở dĩ như­ vậy không phải chỉ vì quy luật mâu thuẫn là quy luật cơ bản nhất, hay nói như­ V.I.Lênin, là "hạt nhân" của phép biện chứng, mà chủ yếu là vì, trong những năm qua, nhiều vấn đề thực tiễn đã đặt ra một cách hết sức cấp bách và muốn giải quyết chúng buộc phải trở lại những vấn đề cơ bản có liên quan đến nội dung của quy luật mâu thuẫn. Chẳng hạn, khi nghiên cứu những mâu thuẫn cơ bản của xã hội ta hiện nay, chúng ta buộc phải giải quyết những vấn đề hết sức cơ bản, như­ mâu thuẫn là gì, các loại mâu thuẫn, các cách thức giải quyết mâu thuẫn, v.v.. Có thể nói, trong những năm qua, nhiều đề tài, trong đó có cả đề tài cấp nhà nư­ớc, nhiều bài báo, một số cuốn sách chuyên khảo và luận án tiến sĩ đã giải quyết những vấn đề thực tiễn có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy luật mâu thuẫn.

Về các phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật thì, kể từ năm 1986 đến nay, ngoài cặp phạm trù khả năng và hiện thực đã đ­ược nghiên cứu một cách tương đối chuyên sâu, các cặp phạm trù khác của phép biện chứng duy vật ít đ­ược nghiên cứu chuyên sâu hơn. Ngoài những bài báo, những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ bàn trực tiếp đến nội dung của một số cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật(2), hầu như­ không có một chuyên khảo nào bàn sâu đến một cặp phạm  trù nào đó nh­ư cặp phạm trù khả năng và hiện thực mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Đây cũng là một mảnh đất trống nữa mà những ngư­ời làm công tác nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng phải quan tâm. Thực tiễn xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề có liên quan đến nội dung của các phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng cần tập trung công sức nghiên cứu.

Như­ vậy, có thể nói, các thành quả mà những ngư­ời nghiên cứu triết học đạt đ­ược trong lĩnh vực chủ nghĩa duy vật biện chứng như­ đã trình bày ở trên là đáng kể. Những nghiên cứu đó đã góp phần truyền bá thế giới quan duy vật biện chứng, góp phần làm cho chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành cơ sở phư­ơng pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Đồng thời, các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hơn nửa thế kỷ qua là tư­ơng đối đa dạng, đi sâu vào từng khía cạnh, từng quy luật hoặc một vấn đề cụ thể nào đó có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nếu trừu t­ượng hoá đi các nghiên cứu cụ thể, chúng ta có thể nhận thấy các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng đi theo hai h­ướng chủ yếu: 1. Theo hư­ớng nghiên cứu cơ bản và 2. Theo hư­ớng nghiên cứu ứng dụng, tức là đi vào những vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra nh­ưng có liên quan đến nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Theo h­ướng nghiên cứu cơ bản, những ng­ười làm công tác nghiên cứu triết học, một mặt, đã trình bày một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên cơ sở đó, có sự điều chỉnh, chính xác hoá những cách hiểu khác nhau để từ đó, ngày càng có đư­ợc cách hiểu chính xác hơn; mặt khác, nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó, trên cơ sở ấy, đề ra những nguyên tắc ph­ương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn.

Theo hư­ớng nghiên cứu ứng dụng, những ngư­ời làm công tác nghiên cứu triết học tập trung vào những vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra bằng cách áp dụng những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Trong những năm qua, số công trình nghiên cứu theo h­ướng này nhiều hơn. Bởi lẽ, các nghiên cứu như­ vậy gần đây đ­ược đầu tư­ nhiều hơn và đồng thời, cũng dễ thực hiện hơn.

Chúng tôi cho rằng, cả hai h­ướng nghiên cứu đó đều rất cần thiết. Trong tư­ơng lai, các h­ướng nghiên cứu nh­ư vậy cần đ­ược tiếp tục triển khai. Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, so với yêu cầu phát triển của chuyên ngành và của thực tiễn thì những kết quả đạt đ­ược trong thời gian qua còn khá khiêm tốn. Vì vậy, theo chúng tôi, để góp phần làm cho các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn, cần kết hợp một cách chặt chẽ hơn nữa giữa các nghiên cứu cơ bản và các nghiên cứu ứng dụng.

Tr­ước hết, trong các nghiên cứu cơ bản, cần đầu t­ư và tìm cách khắc phục những "mảng trống" trong nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Như­ đã trình bày ở trên, những "mảng trống" trong chủ nghĩa duy vật biện chứng còn khá nhiều. Trong số đó, không ít những "mảng trống" rất cần đ­ược nghiên cứu để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách. Ngay cả những vấn đề đã đ­ược nghiên cứu gọi là tư­ơng đối nhiều thì không phải mọi thứ đều đã có câu trả lời rõ ràng. Thêm vào đó, cuộc sống hiện nay đã và đang đặt ra và đặt lại nhiều vấn đề triết học khá căn bản.

Chẳng hạn, ngay vấn đề vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng đã và đang có những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo về mặt khoa học. Như mọi người đều biết, một nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng là “trong thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động, mà vật chất đang vận động không thể vận động như thế nào khác ngoài vận động trong không gian và thời gian”. Còn ý thức chẳng qua chỉ là “cái vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”; ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, là sự phản ánh tự giác, ít nhiều các sự vật, hiện tượng và quá trình hiện thực của thế giới vật chất, nói như V.I.Lênin, đó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Như vậy, theo quan điểm của những người sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái tồn tại độc lập với ý thức và quyết định nội dung của ý thức; còn ý thức là cái bị quyết định và phụ thuộc vào vật chất. Nhưng chủ nghĩa duy vật biện chứng còn đi xa hơn chủ nghĩa duy vật trước Mác khi thừa nhận sự tác động tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất, coi ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất thông qua hoạt động của con người. Nhưng xung quanh nguyên lý cơ bản này, hàng loạt vấn đề lý luận đang được đặt ra, như phải chăng vật chất, xét đến cùng, là cái đóng vai trò quyết định, còn ở những giai đoạn nhất định thì ý thức lại đóng vai trò quyết định? Nếu vật chất luôn luôn đóng vai trò quyết định và ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất thì sự đẩy nhanh và kìm hãm đó là vô hạn hay chỉ giới hạn trong phạm vi nào và với những điều kiện nào thì ý thức mới có được vai trò như vậy? Có thể nói, không chỉ có mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, mà nhiều mối quan hệ của các phạm trù khác của triết học Mác, như mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, mối quan hệ giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, cũng đặt ra những vấn đề tương tự như vậy. Tình hình đó đòi hỏi những người nghiên cứu và giảng dạy triết học phải có câu trả lời sáng rõ và cụ thể hơn về những vấn đề mang tính nguyên lý cơ bản của triết học.

Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học và thực tiễn cũng đang đặt ra những vấn đề xung quanh vật chất và ý thức cũng như mối quan hệ giữa chúng. Hàng loạt vấn đề thuộc về ý thức và tâm linh con người đang đòi hỏi triết học phải có câu trả lời, như ý thức là sự phản ánh của vật chất hay có sự tồn tại độc lập bên ngoài của thế giới đó; những hiện tượng tìm mộ hay nói chuyện với người âm là hiện tượng có thật hay chỉ là ảo thuật của các thày gọi hồn, v.v.. Đứng về mặt khoa học, đó là những hiện tượng cần phải được lý giải một cách nghiêm túc. Khi khoa học chưa giải quyết được thấu đáo thì đó lại là mảnh đất cho tôn giáo phát triển.

Hoặc khi nói về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, các nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, thực tiễn là cơ sở, là động lực, đồng thời là tiêu chuẩn của chân lý. Nhưng, bản thân các ông lại khẳng định rằng, tiêu chuẩn thực tiễn chỉ có tính tương đối và xét đến cùng, ngoài thực tiễn, để kiểm tra tính đúng đắn của chân lý còn cần sử dụng các tiêu chuẩn khác, chẳng hạn như tiêu chuẩn lôgíc. Vấn đề đặt ra là, tiêu chuẩn thực tiễn có mối quan hệ như thế nào với tiêu chuẩn lôgíc và nên hiểu tính tương đối của tiêu chuẩn thực tiễn như thế nào và vận dụng nó ra sao trong quá trình kiểm tra tính đúng đắn, tính chân lý của nhận thức, v.v.. Có thể nói, còn rất nhiều vấn đề tương tự như vậy cần được nghiên cứu thấu đáo về mặt lý luận và để nghiên cứu những vấn đề đó thì cần phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa những người làm công tác triết học với những người làm công tác nghiên cứu của các ngành khoa học khác. Cái khó cho những người nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng hiện nay là, để nghiên cứu tốt những vấn đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng, người nghiên cứu phải nắm được những kiến thức nhất định về khoa học hiện đại, đặc biệt là khoa học tự nhiên. Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “...muốn có một quan niệm vừa biện chứng vừa duy vật về tự nhiên thì người ta phải biết toán học và khoa học tự nhiên”(3). Bản thân Ph.Ăngghen cũng đã từng bỏ ra phần lớn thời gian trong tám năm để học toán học và khoa học tự nhiên. Nhưng đối với nước ta hiện nay, việc tìm được một người vừa giỏi triết học, vừa thạo khoa học tự nhiên là quá khó.

Theo chúng tôi, các nghiên cứu cơ bản là tiền đề và cơ sở cho các nghiên cứu ứng dụng. Các nghiên cứu ứng dụng chỉ có thể có hiệu quả nếu đ­ược dựa trên một cơ sở vững chắc, đó là các nghiên cứu cơ bản. Lúc sinh thời, V.I.Lênin đã từng nhận xét rằng, "ngư­ời nào bắt tay vào những vấn đề riêng tr­ước khi giải quyết vấn đề chung, thì kẻ đó, trên mỗi bư­ớc đi, sẽ không sao tránh khỏi "vấp phải" những vấn đề chung đó một cách không tự giác. Mà mù quáng vấp phải vấn đề đó trong những trư­ờng hợp riêng, thì có nghĩa là đ­ưa chính sách của mình đến chỗ có những sự dao động tồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyên tắc"(4). Có thể coi những nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu giải quyết các vấn đề chung, còn những nghiên cứu ứng dụng là những nghiên cứu giải quyết các vấn đề cụ thể do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Vì vậy, để có những nghiên cứu ứng dụng tốt, có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra cần phải có những nghiên cứu cơ bản tốt. Đương nhiên, để có những nghiên cứu cơ bản tốt, đó là việc làm không đơn giản; bởi lẽ các nghiên cứu cơ bản, mặc dù ở nư­ớc ta không nhiều, như­ng trên thế giới đã đ­ược tiến hành một cách khá bài bản.

Song, trong điều kiện nước ta, do điều kiện về đội ngũ, trình độ của đội ngũ những người làm công tác triết học và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế, việc chọn vấn đề nghiên cứu để tiến hành nghiên cứu cơ bản cũng cần căn cứ vào nhu cầu của thực tiễn và để giải quyết những vấn đề do thực tiễn trước mắt đặt ra, đồng thời cũng phải biết dự báo trước những nhu cầu sắp tới của đất nước.

Thứ hai, bên cạnh các nghiên cứu cơ bản, cần tiến hành nghiên cứu những vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra. Đây là h­ướng nghiên cứu hết sức quan trọng, là sự vận dụng những kiến thức cơ bản để giải quyết những vấn đề thực tiễn, làm cho triết học gắn bó hơn với thực tiễn.

Tuy nhiên, ở đây, cần phải l­ưu ý rằng, hiệu quả của các nghiên cứu ứng dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng không giống như­ hiệu quả của các ngành khoa học - kỹ thuật khác và càng không giống với hiệu quả của sản xuất trực tiếp. Nhìn chung, các kết quả do nghiên cứu triết học mang lại không góp phần giải quyết một cách trực tiếp, cụ thể cho từng vấn đề cụ thể vô cùng đa dạng của cuộc sống, mà chỉ là cơ sở có tính chất định h­ướng cho các lời giải đáp trực tiếp, cụ thể ấy.

Nh­ư vậy, hiệu quả của nghiên cứu ứng dụng phép biện chứng duy vật thể hiện ở sự định hư­ớng cho hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú và đa dạng của những kết luận chung và khái quát cao mà các nghiên cứu ấy đem lại, chứ không phải là những cách giải quyết cụ thể cho từng vấn đề cụ thể. Có thể nói, nhiều khi hiệu quả của những kết luận mà triết học đem lại đối với xã hội là vô cùng to lớn, là vô giá mà không thể nào tính thành tiền đ­ược. Bởi những kết luận đó có thể làm thay đổi cả xu h­ướng hoạt động của xã hội.

Chúng tôi cho rằng, cũng nh­ư bất kỳ một ngành khoa học nào khác, triết học nói chung, chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng có nhiệm vụ góp phần thiết thực vào việc giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của cuộc sống. Nh­ưng để có nhiều đóng góp thiết thực, những người làm công tác triết học phải đứng từ góc độ chuyên môn của mình, bằng con đư­ờng riêng, thông qua cách thức riêng của triết học, chứ không hoàn toàn giống các khoa học khác. Nếu không chú ý đến nét đặc thù của triết học, đến đúng góc độ mà từ đấy, triết học cần phải làm để góp phần mình vào việc đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn thì những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học dễ bị lấn sân sang lĩnh vực của các môn khoa học khác, lĩnh vực mà họ không hiểu biết một cách thấu đáo. Trong trư­ờng hợp đó, chắc chắn hiệu quả đóng góp của những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học sẽ không cao.

Xuất phát từ quan niệm như­ vậy, chúng tôi cho rằng, để gắn các nghiên cứu chủ nghĩa duy vật biện chứng với thực tiễn, làm cho các nghiên cứu đó phục vụ thực tiễn có hiệu quả hơn và đúng góc độ chuyên môn của mình, nhiệm vụ của các nhà triết học không phải tự mình lao vào giải quyết từng vấn đề cụ thể, mà phải đi sâu nghiên cứu và giải quyết những vấn đề triết học nảy sinh từ vấn đề cụ thể do thực tiễn đất nư­ớc đề ra và thông qua đó, góp phần hoàn thiện lý luận triết học.

Cuối cùng, mục đích của các nhà nghiên cứu triết học nói chung, chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng không phải chỉ để nghiên cứu mà nhằm phục vụ thực tiễn. Vì vậy, để các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng gắn bó với thực tiễn, phục vụ một cách thiết thực cho hoạt động thực tiễn, các nghiên cứu đó phải có nhiệm vụ phản biện cho các chủ tr­ương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà n­ước. Điều đó có nghĩa là, từ các nghiên cứu của mình, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy có nhiệm vụ góp tiếng nói phản biện cho các chủ tr­ương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để trên cơ sở đó, các cơ quan Đảng và Nhà n­ước có đủ căn cứ để đ­ưa ra các quyết sách một cách hợp lý nhất, đúng đắn nhất.

Thực ra, phản biện là một chức năng không thể thiếu được của bất kỳ một khoa học nào. Cũng như bất kỳ một khoa học nào khác, triết học nói chung phải có chức năng phản biện. Nhưng, do tính chất đặc thù của triết học là nghiên cứu những vấn đề có liên quan chặt chẽ với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nên các nghiên cứu triết học thường gắn chặt với chính trị và mang tính nhạy cảm. Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng đó, cần có một cơ chế dân chủ đối với những người làm công tác lý luận nói chung, đối với người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học nói riêng để sao cho mọi người có thể trình bày thẳng thắn các ý kiến của mình về những vấn đề nhạy cảm nhất. Nhưng mặt khác, để những ý kiến phản biện của các nghiên cứu triết học có hiệu quả, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học không những phải đầu tư và cần được đầu tư để nâng cao chất lượng nghiên cứu, mà còn phải có trách nhiệm chính trị trước dân tộc và đất nước.

 

 


(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Quyền Viện trưởng Viện Triết học, Tổng biên tập Tạp chí Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam .

(1) Xem: Nguyễn Ngọc Hà. Một số vấn đề về nhận thức quy luật và mâu thuẫn. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.

(2) Chẳng hạn: Thành Phư­ơng. Phép biện chứng giữa cái riêng và cái chung, một vài suy nghĩ về nội dung và sự ứng dụng. Tạp chí Giáo dục lý luận, số 6-1986; Nguyễn Văn Chinh. Về phạm trù cái đơn nhất, cái đặc thù, cái phổ biến. T/c Nghiên cứu, số 4-1986; Vũ Hùng. Lại nói về cái riêng và cái chung. Tạp chí Cộng sản, số 8-1986; Nguyễn Cảnh Hồ. Về thực chất và các biểu hiện của nguyên lý nhân quả trong vật lí học vi mô (Luận án phó tiến sĩ triết học, Hà Nội, 1989; Lê Trọng Ân. Một vài suy nghĩ về phép biện chứng của cái phổ biến, cái đơn nhất và cái đặc thù. T/c Triết học, số 1, 1989; Nguyễn Đăng Tấn. Tìm hiểu t­ư t­ưởng của Ph.Ăngghen về "ngẫu nhiên và tất nhiên” trong "Biện chứng của tự nhiên". T/c Triết học, số 4-1995; Lê Minh Thọ. Quan niệm mácxít về mối quan hệ giữa cái chung, cái riêng và việc vận dụng nó trong điều kiện Việt Nam hiện nay (Luận văn thạc sĩ triết học). Viện Triết học, Hà Nội, 1998; Phạm Thị Hồng Yến. Quan hệ bản chất, hiện t­ượng và vấn đề nhận thức bản chất sự vật (Luận văn thạc sĩ triết học). Viện Triết học, Hà Nội, 1998; v.v…

(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 22.

(4) V.I.Lênin. Toàn tập, t.15. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr. 437.

Đã xem: 1875
Thời gian đăng: Thứ bảy - 21/11/2015 00:28
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất