QC Shop

Triết lý dân gian về hạnh phúc trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam

Lê Huy Thực(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 2 (153), tháng 2 - 2004

Tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam luôn hàm chứa nhiều triết lý dân gian về hạnh phúc. Khi luận bàn, phân tích kho tàng văn hoá dân gian này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau về những triết lý đó. Trong bài viết này, chúng tôi muốn góp thêm một ý kiến vào những cách hiểu đó.

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Nói đến tình yêu, hôn nhân đẹp, gặp nhiều điều may mắn, tốt lành và coi đó là hạnh phúc, không ít người thiên về tình cảm hơn là về lý trí. Nhưng, trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam thì lại khác. Nhiều tác giả của kho tàng văn học này đã chứng tỏ rằng, hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân cần có một sự tính toán, lựa chọn của lý trí. Câu tục ngữ "Một năm là mấy mùa xuân, gái kia hồ dễ mấy lần đưa dâu"(1) là một triết lý mang nội dung nhắc nhở, cảnh báo con người (ở đây là các thiếu nữ) trong việc xây dựng hạnh phúc, hôn nhân phải có sự suy xét của lý trí để tránh việc dễ dàng hơn một lần tìm người bạn đời của mình. Trong thực tế, không ai có thể phủ nhận việc có những cô gái, phụ nữ đã đến tuổi trưởng thành, được nuôi dưỡng, giáo dục tử tế, kinh nghiệm cuộc sống không ít, nhưng lại thiếu lý trí trong tình yêu và hôn nhân. Vì thế đã có vụ việc lẽ ra không nên có: mới tổ chức tiệc cưới xong được chừng vài tháng, một thời gian quá ngắn ngủi, thế nhưng một phụ nữ đáng thương đã vội viết hơn một tờ đơn xin ly hôn. Thực tế vừa chua cay, vừa phũ phàng ấy đối với tất cả những ai có lương tâm khi chứng kiến hoặc được thông tin lại đã cho hay, nhân vật thuộc phái đẹp kia, hoặc là thiếu lý trí sáng suốt trong giai đoạn yêu đương, tìm hiểu, hoặc là thiếu lý trí trong cuộc sống hôn nhân mà nhiều người vẫn chúc tụng là hạnh phúc. Mong rằng người phụ nữ đáng thương nói trên cũng như hàng triệu, hàng triệu phụ nữ Việt Nam hãy đọc và suy ngẫm nghiêm túc câu tục ngữ - triết luận đang bàn ở đây để rút ra bài học và tự đính chính mình!

Những câu, đoạn ca dao, dân ca Việt Nam sau đây đều nhất nhất khẳng định hạnh phúc, hôn nhân là một sự lựa chọn, tính toán của lý trí. Chẳng hạn, hai câu ca dao "Em là con gái, em có hai bến sông / Bến đục em chịu, bến trong em chờ" (2) là lời của một người con gái bộc bạch suy nghĩ của mình. Qua đây, chúng ta thấy việc đi đến hôn nhân, hạnh phúc, người con gái - nhân vật trữ tình, chính diện trong văn học dân gian Việt Nam - đã có sự tính toán, lựa chọn bằng lý trí, cô đã khước từ ("chịu") nơi có phẩm chất kém hơn và chờ đợi, cầu mong hạnh phúc ở nơi có phẩm chất tốt hơn. Và, trong đoạn dân ca "Người như cây cảnh trên chùa / Tôi như chim nhạn đỗ nhờ nên chăng? / Ngày xưa tôi dặn người rằng / Đâu hơn người lấy, đâu bằng đợi tôi", "Mình về ta dặn câu này / Đâu hơn thì kết, đâu bằng chờ anh"(3), các tác giả của nó đều nhấn mạnh hôn nhân, hạnh phúc là một sự lựa chọn, tính toán của lý trí để thấy sự hơn kém của nơi này, chỗ kia, chứ không phải chỉ xuất phát từ tình cảm, từ nhận thức cảm tính ("cây cảnh", "chim nhạn", v.v.).

Hạnh phúc, hôn nhân còn được các tác giả của văn học dân gian Việt Nam mô tả là một sự tính toán, lựa chọn theo lối thực dụng. Thí dụ như bài ca dao sau đây, đọc lên, chúng ta được nghe những lời nói của một cô gái đầy vẻ yêu thương, băn khoăn, lo ngại về gia đình nghèo, thiếu quá nhiều điều kiện vật chất của người mà cô muốn đi đến xây dựng hạnh phúc, hôn nhân: "Thấy anh em cũng muốn theo / Em sợ anh nghèo anh bán em đi / Lấy anh em biết ăn gì / Lộc sắn thì chát, lộc si thì già / Lấy anh không cửa không nhà / Không cha, không mẹ biết là cậy ai"(4). Người con gái trong bài ca dao này quả đúng là, với sự tham gia của lý trí, đã tính toán một cách thực dụng về những sản phẩm vật chất để ăn, ở, v.v., nhưng quyết không phải là đại biểu của chủ nghĩa thực dụng. Cô cũng nghĩ về những yếu tố, điều kiện vật chất như bao con người bình thường khác, nhưng không đến mức thái quá. Đọc toàn bài ca dao ngắn trên đây thì thấy tình yêu thương của người con gái dành cho người yêu của mình là khôn cùng và khác hẳn với nhân vật cùng giới trong bài dân ca đề cập tiếp theo đây.

"Trai làng ở hoá còn đông / Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư / Ngụ cư có thóc cho vay / Có lụa bán đầy, em lấy ngụ cư"(5). Hạnh phúc, hôn nhân theo nữ nhân vật được gọi một cách trừu mến là "em" và tự xưng cũng bằng "em" ở đây là sự tính toán quá nặng về vật chất, ngoài vật chất ra, không còn có nhu cầu, đòi hỏi gì khác.

Hạnh phúc, hôn nhân của con người còn được nhiều tác giả văn học dân gian Việt Nam trình bày là một sự tính toán của lý trí biết coi trọng phẩm chất trí tuệ. "Thà rằng làm lẽ thứ mười, còn hơn chính thất những người đần ngu"(6). Trong chế độ cũ, khi phải làm lẽ (làm vợ lẽ, tức là lấy chồng mà người chồng đó đã có vợ chính thức, thậm chí còn có cả vợ lẽ rồi), nhiều người con gái đã phải chịu cực khổ rất nhiều. Ngay cả nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương tài hoa, có người tôn vinh, coi là "bà chúa thơ nôm" của dân tộc ta, nhưng trong cuộc sống riêng tư, bà cũng không gặp may, phải làm lẽ (một hoặc hai người?) và cũng phải chịu phiền hà, thua thiệt như bao người phụ nữ khác, đến nỗi bà phải hạ bút: "Chém cha cái kiếp lấy chồng chung". Ở giai đoạn lịch sử đang xét, làm lẽ một vài người đã quá khốn khổ, làm lẽ nhiều người hơn thì càng khốn khổ hơn. Ấy vậy mà trong việc kiếm tìm hạnh phúc, hôn nhân, những người phụ nữ Việt Nam, bằng sự phán xử của lý trí, có sự tính toán chọn lựa bằng trí tuệ vẫn đi đến quyết định phải tìm người bạn trăm năm là người có phẩm chất trí tuệ, cho dù phải làm lẽ đến thứ mười. Ở đây, trí tuệ là giá trị được đặt lên hàng đầu và đối địch với đần ngu. Những người đần ngu, nếu không sớm được giáo dục, cải đổi theo chiều hướng tích cực thì không chỉ khổ cho bản thân họ, mà còn cho cả những người thân. Những người này thường lo sợ cái không đáng lo sợ, quan tâm cái không đáng quan tâm, ca ngợi cái không đáng ca ngợi, thậm chí là cái cần phê phán, và vì thế, nhiều vấn đề, vụ việc đáng lẽ ra phải được tập trung thời gian, công sức để hoàn thành thì lại ít hoặc không chú ý, v.v.. Họ thường hay chú trọng những gì nhỏ nhặt, "rơm rác", còn những việc quan yếu thì lại lãng quên, không đối xử đúng mức một cách tự giác hoặc không tự giác. Chỉ dẫn giải sơ qua như vậy cũng đã thấy được câu tục ngữ trên khẳng định hạnh phúc, hôn nhân cần phải tính toán, lựa chọn người có phẩm chất trí tuệ là một sự khái quát, rút ra từ cuộc sống và mang giá trị hiện thực. Câu ca dao Việt Nam sau đây cũng mang ý nghĩa tương tự như câu tục ngữ vừa phân tích, bình luận: "Xưa nay những bạn má hồng / Thà hầu quân tử hơn chồng đần ngu"(7).

Hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân của con người, theo nhiều tác giả văn học dân gian Việt Nam, còn là vấn đề cần có sự quyết đoán, tức là phải quyết định nhanh chóng, mạnh bạo, dứt khoát, tự tin không do dự, không sợ hãi. Tác giả câu ca dao sau đây đã làm lời cho một cô gái nói với người yêu nhằm khẳng định việc xây dựng hạnh phúc, hôn nhân cần có sự quyết đoán để khắc phục, vượt qua cảnh nghèo khó về vật chất: "Chàng về cho thiếp về cùng / Đói no thiếp chịu, lạnh lùng có đôi"(8). Câu ca dao "Một hàng tre, ba bẩy hàng tre/ Đẹp duyên thì lấy, chớ nghe họ hàng" (9) lưu ý, nhắc nhở chúng ta phải biết gạt bỏ những lời góp ý không mang tính xây dựng của nhiều người nội, ngoại gần gũi để tự quyết định việc hạnh phúc, hôn nhân của mình. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, câu triết luận sau đây thể hiện rất rõ tính quyết đoán của chủ thể trong việc đi đến hạnh phúc, hôn nhân của mình: "Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng / Đẹp duyên thì lấy chẳng ông tơ hồng nào xe" (10). Hơn nữa, nó còn phản đối thuyết tiền định, quan niệm duy tâm, phi lý cho rằng hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng của mọi người đã được trời định trước rồi, chúng ta chỉ còn có việc thực hiện, không thể cưỡng lại được. Những người theo quan niệm tiền định, duy tâm đã dựng lên những giai thoại có sức hấp dẫn lôi cuốn người đọc đến mức diệu kỳ để vừa tuyên truyền, vừa bảo vệ lý luận phi thực tế của mình. Đã có nhiều điển tích văn học ghi lại những giai thoại tuyên truyền, quảng bá cho quan niệm duy tâm, cho thuyết coi hạnh phúc, hôn nhân là tiền định, do sự sắp đặt của trời, con người phải chấp nhận cho dù có cảm thấy vô lý đến mấy(11).

Bàn thêm về câu ca dao trên ("... Đẹp duyên thì lấy, chẳng ông tơ hồng nào xe"), chúng ta thấy tác giả của nó cũng như nhiều phụ nữ Việt Nam có tư tưởng, tinh thần tự do lành mạnh về hạnh phúc, hôn nhân và với tư tưởng, tinh thần ấy, họ đã đi đến một sự quyết đoán cần thiết để chống quan niệm duy tâm, tiền định.

Trong cuộc sống đời thường, hầu như ai cũng phải đối mặt, để tâm vào những chuyện kinh tế, tiền bạc. Không như thế thì làm sao con người có thể tồn tại và lao động sáng tạo được. Nhưng trên thực tế, không ít người đã lo lắng đến mức quá đáng về cảnh nghèo khó, thiếu thốn tiền bạc, ảnh hưởng xấu đến kết quả công việc của mình. Bởi thế, trong tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc, các tác giả văn học dân gian Việt Nam đã đưa ra những câu triết luận: "Phải duyên phải kiếp thì theo / Lấy tôi chớ quản khó nghèo làm chi / Chúng tôi đây quân tử nhất thì / Đẹp duyên cứ lấy lo gì mà lo / Đôi ta đã trót hẹn hò / Đẹp duyên cứ lấy chớ lo bạc tiền"(12). Bài hát dân gian này nhắc nhở các chàng trai, cô gái trên con đường đi đến hôn nhân, hạnh phúc đừng có quá lo lắng, băn khoăn, mà phải quyết đoán, phải có lối ứng xử, giải quyết nhanh trong suy nghĩ về cảnh nghèo, nếu không thì điều may mắn, tốt lành của họ sẽ không thành hiện thực. Triết lý ấy dường như có ý nghĩa thiết thực và mang tính giáo dục cao. Chân giá trị của nó chính là ở những tác dụng tích cực đó.

Bàn luận về hạnh phúc, nhiều tác giả văn học dân gian Việt Nam đã nhấn mạnh đó là vấn đề đòi hỏi chủ thể phải có sự năng động. Chủ thể nói ở đây là con người có ý thức và bằng hành động, việc làm tác động, cải tạo, biến đổi môi trường, hoàn cảnh theo hướng có lợi cho mình.

Một trong những biểu hiện năng động của con người trong trường  hợp cụ thể này và theo sự giải trình trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam là phải biết khắc phục khó khăn để đi đến hạnh phúc, hôn nhân. "Rú, rừng, núi, động, đèo, truông / Ngàn xanh cách trở, mấy luồng cũng theo / Bể, hồ, khe, hói, lạch rào / Sông sâu nước lội, ước ao kết nguyền"(13). Đấy là bài dân ca có ngôn từ, âm hưởng gây ấn tượng, tác động mạnh đến độc giả và chuyển tải được ý tứ, nội dung gồm biết bao khó khăn, trở ngại về không gian, hoàn cảnh địa lý trên con đường đi đến tình yêu, chuẩn bị cho hôn nhân, hạnh phúc của tuổi trẻ. Hai câu ca dao sau đây nói đến những khó khăn thuần túy về hoàn cảnh địa lý (núi, sông, đèo cao cách trở) đòi hỏi những bạn trẻ phải khắc phục, vượt qua cho được để đi đến hôn nhân, hạnh phúc: "Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo / Thất bát giang cũng lội, tam thập lục đèo cũng qua"(14).

Trên con đường đi đến với tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc, không chỉ có những khó khăn như ca dao, dân ca Việt Nam đã đề cập mà chúng ta đã bàn luận sơ bộ ở trên. Còn có không ít trở ngại khác, chẳng hạn như cảnh nghèo túng. Về vấn đề này, nhiều tác giả tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam đã triết lý, khuyên nhủ, chỉ dẫn cho con người phải khắc phục chứ không đầu hàng hoàn cảnh để đi đến hôn nhân, hạnh phúc. Chẳng hạn, hai câu ca dao sau: "Chim khôn đừng nệ kiểng tàn / Gái khôn đừng thấy trai cơ hàn mà xa"(15). Trong đời sống xã hội đã có biết bao nam nữ thanh niên có quan hệ tình yêu để đi đến hôn nhân, hạnh phúc không xuất phát từ tiền của vật chất, từ địa vị, danh vọng cao sang, mà chủ yếu từ tình yêu thương sâu sắc, bất kể hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Những người như thế, hoặc là chịu ảnh hưởng, hoặc là có sự đồng cảm với nội dung, tư tưởng triết lý nhân sinh của cha ông chúng ta được diễn đạt trong câu ca dao trên. Còn những ai đến với tình yêu, hôn nhân, xây dựng hạnh phúc bởi tiền tài, chức quyền thì câu ca dao trên chẳng có mấy ý nghĩa với họ, càng không cảm hoá được họ.

Trong việc xây dựng hạnh phúc trên cơ sở tình yêu, hôn nhân của nam nữ thanh niên, theo triết lý của các tác giả tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam, thì ngoài những khó khăn phải vượt qua về hoàn cảnh địa lý, kinh tế, còn có trở ngại phiền hà khác, đó là cha mẹ già khó tính, khó chiều của người yêu. Đấy là một thực tế, tuy không phải là phổ biến, nhưng cũng thấy không ít trong đời sống xã hội vốn rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Để đi đến hôn nhân, hạnh phúc, những chàng trai, cô gái của chúng ta phải khắc phục bằng được khó khăn đó. Bài ca dao sau đây đã diễn tả sự lo phiền trong xây dựng hạnh phúc, hôn nhân và sự quyết tâm vượt qua trở ngại nói trên để làm cho điều may mắn, tốt lành, cho những mong ước trở thành hiện thực: "Nước lên lai láng vườn dâu / Nhà anh ba cha bảy mẹ, biết đâu em chiều ? / Quý hồ anh có lòng yêu / Ba cha bảy mẹ em chiều cũng xong" (16).

Họ Châu và họ Trần ở Trung Quốc ngày xưa đời đời gả con cho nhau. Vì thế, trong nhiều nguồn tài liệu văn học, hai chữ Châu - Trần đã được dùng để chỉ hạnh phúc, hôn nhân. Mượn tích này, các tác giả dân ca Việt Nam viết lời cho bài hát ả đào, trong đó có đoạn: "Con chim khôn chết mệt vì mồi. Nó kêu réo rắt ghẹo người tình nhân. Đôi ta đã quyết Châu - Trần"(17). Chỉ qua ít câu (lời) trong bài dân ca này, người viết đã chuyển tải ý tưởng, quan điểm của mình: hạnh phúc, hôn nhân là vấn đề đòi hỏi chủ thể của nó phải tự mình chuẩn bị, quyết tâm về mặt ý thức, tình cảm. Theo các tác giả văn học dân gian Việt Nam, để có hạnh phúc, hôn nhân, con người không chỉ có chủ động về tinh thần, mà còn phải bằng hành động, việc làm thiết yếu nữa. Nhiều câu, đoạn, bài ca dao, dân ca sau đây đã thể hiện triết lý đó: "Chim khôn đậu nóc nhà quan / Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng"(18); "Vác chuông đi đánh nước người / Ôm gà đi chọi những nơi anh hùng/ Anh đi tìm vợ qua sông / Em đang tìm chồng gặp được anh đây"(19); "Đôi ta như sợi xe ba / Thầy mẹ xe ít thì ta xe nhiều / Đôi ta như chỉ xe năm / Thầy mẹ xe ít ta cầm ta xe"(20); "Anh về mua gỗ đóng giường / Mua tre làm vạc, mua luồng làm song / Mua thêm đôi chiếu, cỗ màn / Rồi ra em vợ anh chồng mới nên"(21). Qua những câu triết luận trên, người viết cũng như tất cả những ai có nhu cầu đọc, tìm hiểu, học tập tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam đều cảm thấy, một quan niệm mới, tiến bộ về hạnh phúc của ông cha ta, thấy việc ông cha ta chuẩn bị cho niềm vui lớn của mình một cách đơn sơ, giản dị, thể hiện bản chất của con người và dân tộc Việt Nam. Theo đây, để đi đến hạnh phúc, hôn nhân thì không chỉ có nam giới, những chàng trai mới tự giác xúc tiến nhiều công việc thiết yếu, mà cả phái đẹp, những cô gái Việt Nam từ trong lịch sử quá khứ, từ trong truyền thống cũng cùng có sự quan tâm, lo lắng và hành động như người yêu của mình. Khi trình bày, thể hiện những triết lý tiến bộ này về hạnh phúc, hôn nhân, các tác giả tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam đã có ý thức hoặc vô hình trung (?) đính chính những quan điểm cổ hủ, lỗi thời và rất phi lý, nhưng đã từng tồn tại trong lịch sử tư tưởng cũng như trong đời sống xã hội cuả dân tộc ta (đại để như "Trâu tìm cọc, chứ cọc không tìm trâu"(22), nghĩa là về hạnh phúc, hôn nhân, chỉ có người con trai đóng vai trò chủ động, tích cực, còn người con gái không làm như người con trai, và nếu làm như người con trai thì bị dư luận cho là ngược đời, vô lý, thậm chí còn bị phê phán, chỉ trích gay gắt).

Trong văn học dân gian Việt Nam, triết lý về hạnh phúc còn đòi hỏi chủ thể phải biết bảo vệ, giữ gìn hạnh phúc bằng nhiều phương thức. Bảo vệ, giữ gìn hạnh phúc nhiều khi chỉ bằng tình thương của người vợ dành cho chồng: "Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm xông hương mặc người" (23). Đọc những ca dao này, tin rằng, những đấng nam nhi, những người đã từng làm chồng và cả những người chưa làm chồng, sẽ làm chồng đều xúc động về tình thương của những người vợ, những phụ nữ Việt Nam dành cho chồng. Xem thế, tình thương của người vợ nói trong câu triết luận trên có sức mạnh thật diệu kỳ. Tin rằng, sức mạnh tuyệt vời, lý tưởng đó đã và còn có tác dụng bảo vệ hạnh phúc, hôn nhân của biết bao cặp vợ chồng, gia đình. Mong rằng, tất cả nam thanh niên, những người thuộc đấng nam nhi, khi được người bạn đời dành cho tình yêu thương thì không được phụ bạc và phải có trách nhiệm đền đáp, bảo vệ hạnh phúc, hôn nhân của mình.

Trong tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, việc bảo vệ, giữ gìn hạnh phúc, hôn nhân còn được thực hiện bằng cách ứng xử, hành động đúng mức, hợp lý của con người: "Chồng giận thì vợ bớt lời / Cơm sôi lửa nhỏ không rơi hột nào"(24). Nếu hành động theo phương châm này thì tin rằng, đó là một trong những cách thức bảo vệ, giữ gìn hạnh phúc gia đình hữu hiệu. Trong cuộc sống hiện thực, hằng ngày, nhiều cặp vợ chồng, gia đình khó tránh khỏi mâu thuẫn, bất bình. Đó là chuyện bình thường. Nhưng, nó sẽ trở nên không bình thường nếu như những chủ nhân ở đấy lại không biết xử lý một cách phù hợp, hữu hiệu nhất theo chỉ dẫn của cha ông chúng ta được ghi rõ trong kho tàng văn học dân gian. Rất tiếc cho những ai chỉ vì những mâu thuẫn gia đình, có khi chỉ ở mức độ bình thường, nhưng do không khéo ứng xử, giải quyết, muốn lớn tiếng cho hả giận, vơi bực bội, vô tình đã xúc phạm nhân phẩm, danh dự của vợ (hoặc chồng) nên đã làm tan vỡ hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân vốn tốt đẹp của mình. Vì thế, rất mong phương châm hành động, cũng là lời chỉ giáo của cha ông ta đã trích dẫn trên đây được nhiều lớp người Việt Nam hôm nay và mai sau lưu tâm, quán triệt để góp phần giữ gìn hạnh phúc, hôn nhân, tránh đổ vỡ, mất mát những điều tốt lành của bản thân và của những người đã từng đồng cam cộng khổ với mình.

Vẫn trong tục ngữ, thơ ca dân gian Việt Nam, độc giả còn thấy những triết lý về một phương thức bảo vệ hạnh phúc, hôn nhân, tình yêu của con người khá kiên quyết, mạnh mẽ, chứng tỏ một quan niệm mang tính phổ biến của nhân loại. Chúng ta cùng đọc và suy ngẫm đoạn ca dao này: "Con cò trắng tợ như vôi / Ai muốn làm bé cha tôi thì về / Mẹ tôi chẳng đánh chẳng chê / Mài dao cho bén móc mề moi gan"(25). Ở đây, người làm ca dao đã đứng trên quan điểm đồng tình, bảo vệ hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân tiến bộ một vợ một chồng và phản đối kịch liệt những ai vi phạm điều đó. Chúng ta đã và đang thực hiện chính sách hôn nhân một vợ một chồng, vì thế không có lý do gì để không đồng tình với sự phản đối, cho dù là đến mức rất dữ dội, hành động, việc làm vi phạm chính sách đó. Giờ đây,  xây dựng hạnh phúc gia đình và thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng là chấp hành nghiêm túc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; làm ngược trở lại là đồng nghĩa với chống đường lối, chính sách ấy, là “tham ô” trong tình cảm, là hành động tội ác, làm tổn thương tình cảm, tình yêu và phá vỡ hạnh phúc của người khác. Lập luận và tư duy theo hướng này, chúng ta thấy triết lý dân gian thể hiện qua những câu ca dao trên, ngoài ý nghĩa và tính chất như đã bàn, còn mang tính thời sự, chính trị nữa.

 

 

(*) Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(1) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, t.IV, q.1. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr.109.

(2) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr. 420.

(3) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.2, tr.98, 187.

(4) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd, t.IV, q.1, tr.715.

(5) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.703.

(6) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd, tr.141.

(7) Tuyển tập văn  học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.309.

(8) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.252.

(9) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.524.

(10) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.705.

(11) Xem: Mai Thục, Đỗ Đức Hiểu. Điển tích văn học.  Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001.

(12) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.2, tr.140.

(13) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd, tr.672.

(14) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd, t.IV, q.1, tr.728.

(15) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.263.

(16) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.590.

(17) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.2, tr.387.

(18) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.1, tr.309.

(19) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.2, tr.654.

(20) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.1, tr.401.

(21) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.2, tr.585.

(22) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., t.IV, q.1, tr.158.

(23) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd., tr.45.

(24) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd.,  t.IV, q.2, tr.833.

(25) Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam. Sđd.,  t.IV, q.1,  tr.329.

Đã xem: 1243
Thời gian đăng: Thứ ba - 02/06/2015 23:18
Người đăng: Phạm Quang Duy


Từ khóa:

tục ngữ

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất