QC Shop

Tư tưởng yêu nước trên lập trường canh tân của Đặng Huy Trứ

Ths. Nguyễn Nam Thắng(*)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 5 (156), tháng 5 - 2004

Đặng Huy Trứ sinh năm 1825, mất năm 1874, tự Hoàng Trung, hiệu Vọng Tân, Tỉnh Trai, là người làng Thanh Hương, xã Hương Xuân, huyện Hưng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông là một nhà Nho, một người yêu nước chống Pháp trên lập trường canh tân của dân tộc ở nửa cuối thế kỷ XIX. 

Đặng Huy Trứ (Nguồn: Internet)

Đặng Huy Trứ (Nguồn: Internet)


Kỷ niệm 130 năm Ngày mất của ông, trong bài viết này, chúng tôi muốn nói về tư tưởng yêu nước trên lập trường canh tân của ông. So với đương thời, Đặng Huy Trứ là người có nhiều tư tưởng đặc sắc. Từ khi còn là thiếu niên, ông đã có nhiều bài thơ nói lên tình cảm của mình với quê hương, chòm xóm, thể hiện ý chí, hoài bão vì dân, vì nước của ông. Với bản chất trung thực, khảng khái, yêu chuộng lẽ phải nên ông thường bị kẻ xấu lợi dụng, dèm pha, cản trở. Cuộc đời làm quan của ông gặp nhiều gian truân, trắc trở. Từ khi ra làm quan (1856) và cho đến cuối đời, công việc của ông luôn phải thay đổi, ở nhiều nơi, trải qua nhiều chức vụ. Nhưng ở bất cứ cương vị nào, ông cũng đều thể hiện bản chất là người yêu nước, thương dân sâu sắc, cố gắng làm nhiều việc trong chức trách của mình để người dân đỡ khổ, để đất nước thêm giàu mạnh. Do hay bị cất nhắc, thưởng phạt, công việc hay thay đổi từ nơi này sang nơi khác, nên ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân,  mở rộng tầm nhìn, tạo cho mình một tư duy mới khi làm việc. Trên thực tế, ông đã làm được một số việc có lợi cho dân, cho nước trên lập trường đổi mới, canh tân của mình. Phan Bội Châu đã đánh giá ông là một trong “những người trồng mầm khai hoá đầu tiên ở Việt Nam”(1). Ông là người đi đầu tiêu biểu cho xu hướng đổi mới ở nước ta vào nửa cuối thế kỷ XIX, người có tư tưởng canh tân lỗi lạc đương thời mà giới nghiên cứu về giai đoạn lịch sử này không thể bỏ qua.

Đặng Huy Trứ làm quan được 2 năm thì thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Trước sức mạnh vật chất của phương Tây và thực trạng kinh tế – xã hội đang ngày một túng thiếu, khủng hoảng, ông đã quan sát và từng bước hình thành nên trong mình một tâm nguyện canh tân đất nước, nhằm đem lại sức mạnh cho dân tộc. Ông cho rằng, con đường đánh giặc chỉ có thể là “dùng kế tự cường, tự trị, dần dần khôi phục, đó là thượng sách”. Đối với ông, việc chống Pháp lúc này không thể chỉ dùng con đường đối đáp, thương thuyết. Bởi vì, theo ông, sức mạnh của thực dân phương Tây nói chung và của Pháp nói riêng là ở chỗ “tầu đồng súng mạnh”, ở sức mạnh kỹ thuật vật chất. Để chống lại sức mạnh đó của giặc thì mình cũng phải có sức mạnh tương đương. Tức là, chúng ta cũng phải dùng sức mạnh vật chất thì mới chế ngự, chiến thắng được giặc.

Sau khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), cắt 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp, triều đình có ý muốn chuộc lại đất đã mất. Tháng 6 năm 1863, triều đình cử sứ bộ do Phan Thanh Giản làm chánh sứ sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh đó. Trước khi đi, Tự Đức dặn rằng: “Phải nói thế nào cho bằng được, nếu họ không nghe thì lưu lại nói cho kỳ chuyển động được lòng họ”(2). Đặng Huy Trứ khi ấy là Ngự sử đã nói lên suy nghĩ của mình qua một bài thơ, cho rằng: “Chỉ dựa vào đối đáp thì ai là người có thể làm nguội lạnh được tim gan giặc”(3). Ý tưởng này đã được ông lưu giữ. Năm 1867, đi công cán sang Quảng Châu, ông đã mua 239 khẩu “quá sơn pháo” gửi về nước và viết bài “Trong khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo”, trình bày tư tưởng canh tân cứu nước mà bấy lâu ông thường ấp ủ. Trong đó, ông đưa ra các đề nghị để đất nước được tự cường, tự trị. Đó là  “Lập cục dạy nghề, tuyển thiếu niên thông minh, rước mời người phương Tây đến dạy ngôn ngữ, toán pháp, đồ hoạ để làm cơ sở cho việc chế tạo cơ khí đóng tàu thuyền”(4). Ông còn đề nghị cử thanh niên ra nước ngoài du học, đào tạo thợ giỏi, mua máy móc của nước ngoài về nghiên cứu, học tập, tìm cách chế tạo,… coi trọng khoa học kỹ thuật, gắn việc học với việc hành, những quan điểm này của ông có nhiều điều mới mẻ so với đương thời. Được Tự Đức cho phép và giao cho trực tiếp thành lập và quản lý Ty Bình Chuẩn, một cơ quan chuyên chăm lo việc kinh doanh của triều đình ở Hà Nội, Đặng Huy Trứ đã trở thành nhà Nho đầu tiên ở nước ta đi làm “cái việc buôn bán”, một công việc mà xã hội đương thời cho là mạt hạng theo thứ bậc sĩ, nông, công, thương. Trong hơn một năm cai quản Ty Bình Chuẩn, ông làm lợi cho triều đình hàng ngàn lạng bạc. Công việc của ông đang rất thuận lợi, vậy mà tư tưởng bảo thủ, ganh ghét của đình thần lại cho rằng, việc làm của ông đem lại nhiều rắc rối, “nhiều việc quá đáng, gần như tranh lợi với dân…”(5) để cản trở. Ty Bình Chuẩn bị bãi bỏ và Đặng Huy Trứ bị điều sang làm việc khác.

Quan điểm đổi mới và cách thức làm giàu của ông là điểm mới, đặc sắc so với các đình thần bảo thủ của triều đình Nguyễn. Bởi lẽ, thời bấy giờ, ngay cả Nguyễn Văn Siêu, một cựu thần nhà Nguyễn, trong “Luận Ngữ trích giảng” đã dạy học trò rằng: “trong việc vi chính, binh và lương chỉ cần làm thế nào cho đủ là được, chứ không cần phải làm cho giàu mạnh”(6). Hầu hết các đình thần triều Nguyễn mà Nguyễn Xuân Ôn là đại diện, đều cho rằng, “nếu nói dùng tàu thuỷ để buôn bán, làm giàu cho nước thì đời xưa chăm nghề nông, trọng lúa gạo đều có thể làm cho nước giàu, chưa từng nghe lấy việc buôn bán làm giàu bao giờ…”(7). Gần như ngược lại, Đặng Huy Trứ khẳng định sự cần thiết phải tìm cách làm giàu cho nước, phải coi trọng kinh tế tài chính để có cơ sở cứu nước, để phát triển. Ông quan niệm “làm cho dân giàu, nước mạnh đâu phải là một việc chẳng cần phải lo toan nhiều”(8). Theo ông, đây là một công việc cần kíp, cần phải đầu tư thời gian, suy nghĩ lo lắng và khó nhọc, đáng trân trọng. Đó là công việc tạo nên sự giàu có, là cơ sở để bảo vệ và xây dựng đất nước. Bởi lẽ, chỉ có thể dựa trên sự tăng cường phát triển kinh tế mới có điều kiện để xây dựng quân đội vững mạnh, có khả năng giải quyết những vấn đề trọng yếu khác của đất nước đang đặt ra. Chính vì vậy,  Đặng Huy Trứ cho rằng, xây dựng và phát triển kinh tế, làm giàu cho dân, cho nước là một đạo lý lớn, “làm ra của cải, đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được”(9). Làm giàu là một việc chính đáng, cần phải khuyến khích để cho nhiều người cùng làm, vì đó là công việc đem lại lợi ích cho cả triều đình và nhân dân, làm cho việc công, việc tư đều được thoả đáng, “công tư lưỡng lợi, nước thêm bền”, “cái lợi chung cho cả công và tư là như nhau”(10). Tự mình trở thành gương sáng, ngoài việc lập Ty Bình Chuẩn, ông còn là người đầu tiên đem ngành nhiếp ảnh vào nước ta. Năm 1869, ông khai trương hiệu chụp ảnh “Cảm hiếu đường”, mở hiệu sách và nhà in “Trí trung đường” ở Hà Nội.

Nhưng tư tưởng tiên tiến của ông không được triều đình Tự Đức chấp nhận là bao, có chăng cũng chỉ nửa vời như việc thành lập rồi lại bãi bỏ Ty bình chuẩn vì sợ trái với tư tưởng và việc làm truyền thống. Chứng kiến cảnh đất nước suy yếu mà không có cách gì thay đổi được tư tưởng bảo thủ của vua và những đình thần giữ các cương vị quyết định trong triều, ông cay đắng nói: “Trong thiên hạ, không có cái nhục nào bằng cái nhục không được như người”(11). Thời bấy giờ không phải chỉ có một mình Đặng Huy Trứ, mà còn có Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,… và nhiều người khác có tư tưởng canh tân cũng đau xót nhận ra như thế, cùng chung số phận như ông.

Đứng về phía những người chủ chiến, ông quyết tâm chống giặc đến cùng. Là một nhà Nho có tư tưởng canh tân, lại có điều kiện thấu hiểu được tình hình đất nước, Đặng Huy Trứ thấy được sức mạnh của nhân dân trong chiến tranh bảo vệ đất nước. Ông cho rằng: “Quân đội là nanh vuốt có quan hệ đến sự thắng bại, nhưng nhân dân mới là huyết mạch quyết định sự an nguy của đất nước”(12). Ông đưa ra quan điểm lấy dân làm nền tảng cho mọi vấn đề chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật khác. Quân đội là từ dân mà có, muốn quân đội vững mạnh và đủ sức chiến đấu thì phải dựa vào dân. Đặng Huy Trứ cho rằng, “nhân hoà là điều quan trọng bậc nhất, thiên thời địa lợi cũng từ đó mà sinh ra”(13). Thấm nhuần mệnh đề  “dân là gốc nước”(14), và không dừng lại ở đó, ông còn cho rằng: “Dân là gốc của nước, là chủ của thần”. Đây là tư tưởng cơ bản quán triệt các suy nghĩ và hành động của ông. Đối với ông, người dân có vai trò rất quan trọng, không được lòng dân, không được dân ủng hộ thì các công việc sẽ trở nên khó khăn. Bên cạnh đó, ông còn đề cao sự đoàn kết, nhất trí trong sự nghiệp chống giặc, giữ nước, “Trên dưới đồng lòng mong cùng nhau cứu nước, thì dám nói rằng một chân một tay cũng đủ giúp rập cho công việc”(15). Cùng thời với ông cũng có nhiều người mong muốn canh tân, nhưng họ thường đứng về phía chủ hoà để thực hiện canh tân. Đặng Huy Trứ là một trong hai người (người kia là Nguyễn Lộ Trạch) đã thống nhất được quan điểm canh tân với chủ chiến. Đường lối cứu nước của ông, do vậy, gần chân lý hơn so với đường lối “chủ chiến” mà không quan tâm đến “canh tân”, hoặc “canh tân” nhưng lại “chủ hoà” phổ biến lúc đương thời. Dân là gốc nước, “dân ta đủ sức xoay trời lại”. Ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò, sức mạnh của dân và không tin vào thiên mệnh. Do vâỵ, theo ông, người làm quan là phải chăm lo cho dân, phải chuyên cần, thức khuya dậy sớm để lo cho dân. “Khí mạch của nước là lấy dân làm gốc. Bồi bổ cái gốc đó mới là thầy thuốc giỏi”(16). “Không giúp được gì cho dân thì đừng làm quan”(17). Bản thân ông là người luôn tận tụy với dân. Đời sống của người dân ở những nơi ông đến nhậm chức luôn được cải thiện kịp thời, thiên tai được khắc phục sớm, giặc cướp phải thôi hoành hành. Nhưng chú ý nhấn mạnh vai trò dân trong xây dựng đất nước, ông không quên nói đến vai trò của người lãnh đạo. Sức mạnh của nhân dân thật vĩ đại, nhưng sức mạnh đó phải được tập hợp dưới sự lãnh đạo sáng suốt của người đứng đầu thì mới phát huy được hiệu quả: “Giữ cho ngôi nhà không sợ tai họa gió mưa, thảy đều trông vào việc sớm lo toan của người gia trưởng”(18). Hiểu theo nghĩa rộng thì, đất nước có tránh được tai họa và có thể phát triển được hay không là phụ thuộc vào sự thống nhất  trong suy nghĩ và hành động của nhân dân và người lãnh đạo. Vì thế, ông luôn nhắc nhở mình phải thức khuya dậy sớm mà chuyên cần việc dân. Ông cảm thông với đời sống lao động vất vả của người dân: “Đến canh khuya ta mới đi nằm và dậy trước nha lại. Ăn thì qua quýt cho xong, chia sẻ gian khổ với dân”(19). Lời thú nhận này là một minh chứng cho tấm lòng vì dân, vì nước của ông. Là người làm quan, Đặng Huy Trứ tự xác định cho mình phương châm làm việc: Việc gì có lợi cho dân thì phải gắng sức làm, đừng vì sợ bị liên lụy tội mà không làm, làm quan là để lo cho dân cho nước, lo cho nước mạnh, dân giàu chứ không phải để hưởng lương cao bổng hậu, để vinh thân phì gia, “quân tử là người làm việc trước đã, rồi sau mới ăn”(20). “Nếu có lợi cho dân thì phải quyền biến mà làm, dù có đưa đến tội vạ thì một mình ta chịu có khó gì”(21). Đặng Huy Trứ đòi hỏi người làm quan phải có đầu óc sáng tạo, có khí phách anh hùng, không nên nệ cổ, chỉ biết xưa mà không biết nay. “Khí phách anh hùng phải lớn lao, đừng có học thầy lang vườn khư khư bám lấy phương thuốc cũ”(22).

Nếu đem so sánh những đề nghị canh tân của ông với người đương thời thì tầm bao quát của ông chưa bằng Nguyễn Trường Tộ, nhưng tư tưởng và việc làm của ông cho chúng ta ngày nay một sự khâm phục và kính trọng. Là một trí thức Nho học, Đặng Huy Trứ đã vượt qua được sự lạc hậu, bảo thủ đương thời. Ông là nhà Nho duy nhất ở nước ta dám “đi buôn”, là người đầu tiên đem  nghệ thuật nhiếp ảnh vào nước ta. Không bảo thủ chủ chiến một cách mù quáng, không sợ hãi trước văn minh phương Tây, không ngây thơ trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, ông là người đã thống nhất được quan điểm quyết chiến đấu chống Pháp và tư tưởng cải cách tự cường đất nước một cách sáng suốt.r

 


(*) Thạc sĩ triết học, Phân viện Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

(1) Xem: Nhóm Trà Lĩnh. Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, tr. 543.

(2) Đại Nam thực lục, t. 30. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974, tr. 22.

(3) Sđd., tr. 251.

(4) Sđd., tr. 436.

(5) Đại Nam thực lục, t. 31. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,1974, tr.150.

(6) Viện Triết học. Tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX,  t.1. Tài liệu in rônêô, Hà Nội, 1978, tr. 51.

(7) Viện Triết học. Tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX, t.2. Tài liệu in rônêô, Hà Nội, 1978, tr. 334.

(8) Sđd., tr. 370.

(9) Sđd., tr. 374.

(10) Sđd., tr. 378.

(11) Sđd., tr. 438.

(12) Sđd., tr. 510.

(13) Sđd., tr. 190.

(14) Sđd., tr. 224.

(15) Sđd., tr.510.

(16) Sđd., tr. 284.

(17) Sđd., tr. 262.

(18) Sđd., tr. 84.

(19) Sđd, tr. 272.

(20) Sđd., tr. 168.

(21) Sđd., tr. 296.

(22) Sđd., tr. 290.

Đã xem: 534
Thời gian đăng: Thứ ba - 16/06/2015 22:22
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất