QC Shop

Quan điểm phát triển khoa học mang đầy đủ thành quả lý luận của tiêu chí thời đại(*)

Triệu Phong Kỳ(**)

Nguồn: Tạp chí Triết học, số 3 (202), tháng 3 - 2008

Trong khi kiên trì con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sáng tạo nên quan điểm phát triển mới – quan điểm phát triển khoa học. Quan điểm phát triển khoa học chứa đựng nội hàm phong phú và sâu sắc: lấy dân làm gốc, phát triển toàn diện, hài hoà và lâu dài. Nó xoay quanh chủ đề cơ bản – phát triển, trả lời cho những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng: tại sao phải phát triển và phát triển như thế nào. Theo đó, quan điểm phát triển khoa học lấy dân làm gốc là bước tiến trọng đại của lý luận phát triển, là thành quả lý luận mang tính đặc trưng của thời đại.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đang tự suy xét lại hành trình trước đây và hoạch định chiến lược phát triển cho mình; nhưng đằng sau mỗi một chiến lược phát triển, luôn có những lý luận khác nhau về phát triển để làm điểm tựa.

Hiện nay, khi nhân dân Trung Quốc đang trên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc để đưa ra một mốc phát triển lịch sử nhanh hơn và tốt hơn, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra chủ trương phải kiên trì việc lấy dân làm gốc; xây dựng quan điểm phát triển toàn diện, hài hoà, liên tục; xúc tiến việc phát triển toàn diện kinh tế, xã hội và con người. Đồng thời, nhấn mạnh việc quy hoạch phát triển thành thị và nông thôn, quy hoạch phát triển vùng, phát triển kinh tế và xã hội, phát triển hài hoà giữa con người với thiên nhiên, giữa nhu cầu phát triển trong nước với mở cửa; từ đó, thúc đẩy tiến trình cải cách và phát triển đất nước. Quan điểm phát triển khoa học này là sự tổng kết sâu sắc kinh nghiệm thực tiễn qua công cuộc cải cách mở cửa và hiện đại hoá đất nước của Trung Quốc trong 25 năm qua, là hiện thực minh chứng sự tồn tại vững chắc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là sản phẩm của tinh thần hiện thực, học hỏi thế giới, quan sát thế giới đương đại và những vấn đề phát triển của Trung Quốc bằng tầm nhìn thời đại và góc nhìn rộng mở, là thành quả lý luận quan trọng phản ánh và đáp ứng những yêu cầu thực sự phát triển thực tiễn hiện thực của Trung Quốc. Quan điểm phát triển khoa học này có nội hàm phong phú và sâu sắc, vừa có tính hướng ra hiện thực mạnh mẽ, vừa có tính khái quát cao, độ bao trùm rộng, thích ứng cao độ trong mọi lĩnh vực, mọi phương diện của đời sống xã hội Trung Quốc. Xây dựng và thực hiện quan điểm phát triển khoa học này có ý nghĩa lớn lao và sâu sắc đối với việc thực hiện mục tiêu chiến lược đã đặt ra và đối với tương lai phát triển của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc.

1. Sự phản tư lại chặng đường phát triển xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc và sự tổng kết kinh nghiệm mới, kể từ khi thực hiện cải cách mở cửa đến nay, chính là cơ sở hiện thực lý giải đúng đắn cho quan điểm phát triển khoa học  của Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phát triển của Trung Quốc đương đại không thể tách rời sự phát triển của thế giới. Vì vậy, xem xét thêm mối liên hệ giữa sự phát triển của thế giới với tiến trình lịch sử của lý luận phát triển đương đại là một công việc có ý nghĩa.

Nhìn chung, các nước trên thế giới sau Đại chiến thế giới II đều có một con đường phát triển riêng của mình. Các nước tư bản phương Tây mong muốn phát triển, các quốc gia giành được độc lập sau thế chiến chưa phát triển đang mưu cầu phát triển, các quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa cũng không ngừng tìm tòi con đường phát triển cho chính mình. Cho dù chế độ xã hội không giống nhau, tình hình của mỗi nước cũng khác nhau, nhưng vấn đề phát triển và làm thế nào để phát triển dường như đã trở thành vấn đề chung đặt ra trước tất cả các nước.

Sau khi Đại chiến thế giới II kết thúc, để thích ứng với đòi hỏi xây dựng lại, phục hồi và phát triển sau chiến tranh của các quốc gia và khu vực trên thế giới, các lý luận nghiên cứu phát triển cũng từ đó ra đời. Thuật ngữ “phát triển” trở thành chủ đề nóng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học. Chỉ xét riêng về trường phái lý luận, đã có các trường phái phát triển thuần lý tính, trường phái tâm lý học, trường phái truyền thống, trường phái xã hội học, v.v.. Các ngành mới phát triển lại càng tầng tầng lớp lớp, ví dụ kinh tế học phát triển, chính trị học phát triển, xã hội học phát triển, chiến lược học phát triển, đạo đức học phát triển, mỹ học phát triển và lý luận phát triển tương lai học, v.v.. Các môn học khác nhau này, mặc dù có chuyên ngành nghiên cứu và điểm chú trọng không giống nhau, nhưng góc nhìn của chúng thì lại là một - đều tập trung ở “phát triển”. Trong các môn học phát triển và lý luận phát triển này, tiêu biểu là Lý luận giai đoạn phát triển kinh tế của Rostovian, Lý luận thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng bình quân của Barry Rosenstein và Lý luận nhu cầu cơ bản, Lý luận tăng trưởng công bằng. Trong lý luận phát triển của tương lai học và kinh tế học có Lý luận tăng trưởng kinh tế ở giai đoạn đầu sau chiến tranh, Lý luận tăng trưởng có giới hạn của Câu lạc bộ Roma, Lý luận quá độ của Oliver và Lý luận chuyển đổi quyền lực của Alvin Toffler,… Nói tóm lại, nghiên cứu về lý luận phát triển đã thể hiện rất nhiều mặt phức tạp. Nhưng, chúng ta vẫn có thể dựa vào quỹ đạo phát triển của lịch sử để từ đó, nhận ra bối cảnh phát triển chung của lý luận phát triển đương đại.

Nói một cách khái quát, nếu xét từ những dấu hiệu cơ bản của lý luận phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh thì về tổng thể, nó trải qua các quá trình tiến hoá của lịch sử, như đi từ “lý luận tăng trưởng kinh tế” đến “lý luận tăng trưởng có giới hạn”, rồi lần lượt đến “quan điểm phát triển tổng hợp”, “lý luận phát triển liên tục” và tồn tại song song với “quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm”.

Trước tiên, ta hãy bàn về “lý luận tăng trưởng kinh tế”. Quan điểm này xuất hiện sớm nhất trong lý luận phát triển, ngay từ giai đoạn khởi đầu của sự phát triển kinh tế, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến rất nhiều quốc gia. Phát triển học bắt đầu từ sự phát triển kinh tế; tuy nhiên, khởi đầu của sự phát triển kinh tế thực chất là “kinh tế học tăng trưởng”. Sau chiến tranh, các nhà kinh tế học phương Tây coi trọng lý luận tăng trưởng kinh tế, hòng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đã đưa ra một số mô hình tăng trưởng kinh tế. Nhưng lúc đó giới học thuật nói chung vẫn chưa phân biệt rạch ròi hai khái niệm “phát triển” và “tăng trưởng”. Trên thực tế, đa số các học giả cho rằng, phát triển = tăng trưởng. Chiến lược phát triển dưới sự chỉ đạo của lý luận phát triển này là lấy sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội làm mục tiêu. Quan điểm này đã đưa tiêu chuẩn tăng trưởng kinh tế thành tiêu chuẩn tuyệt đối duy nhất của phát triển, đơn giản coi phát triển kinh tế giống như tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế được coi là một từ đồng nghĩa với phát triển. Biểu hiện cụ thể của nó là việc chỉ hoàn toàn chạy theo tổng sản phẩm quốc dân. Quan điểm “phát triển = tăng trưởng” này tuy có thể thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, nhưng lại đưa đến nhiều vấn đề trên các mặt kinh tế và xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng về “tăng trưởng không có phát triển” hoặc “chỉ có tăng trưởng không có phát triển”. Điều này khiến người ta nghi ngờ về lý luận và chiến lược phát triển.

Cùng với sự xoay chuyển của thời gian, nhận thức về mối quan hệ lẫn nhau giữa tăng trưởng và phát triển cũng ngày một sâu sắc hơn. Sau thập niên 60 của thế kỷ XX, sự kiến giải về phát triển không thể tách rời tăng trưởng, nhưng “tăng trưởng không tương đương với phát triển” đã đạt được nhận thức chung ở phạm vi ngày một rộng hơn. Giới học thuật quốc tế dường như đều thống nhất cho rằng, không thể đơn giản quy kết phát triển thành tăng trưởng kinh tế, mà cần phân biệt rõ hơn hai khái niệm tăng trưởng và phát triển. Thực tế cho thấy, hàm ý của tăng trưởng kinh tế rất hẹp, thường chỉ sự tăng trưởng sản xuất với ý nghĩa thuần tuý. Còn hàm ý của phát triển tương đối rộng, ngoài sự tăng trưởng về số lượng sản xuất, còn bao gồm sự biến đổi của cơ cấu kinh tế và một số chế độ khác; không chỉ là sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm sự cải thiện về tình hình xã hội và sự tiến bộ về thể chế… Hơn nữa, nếu như chỉ đơn thuần chạy theo sự tăng trưởng mà không chú ý tới các nhân tố liên quan kìm hãm sự tăng trưởng, thì chắc chắn đến một lúc nào đó, bản thân sự tăng trưởng sẽ khó có thể được duy trì liên tục.

Một quan niệm khác về lý luận phát triển nữa là Lý luận tăng trưởng có giới hạn của Câu lạc bộ Roma. Năm 1972, được sự uỷ thác của Câu lạc bộ Roma, Học viện kỹ thuật Massachusetts của Mỹ đã trình bày bản báo cáo về “có giới hạn của tăng trưởng”. Luận điểm trung tâm của lý luận tăng trưởng có giới hạn là: sự tăng trưởng về dân số, sự gia tăng về đầu tư, sự ô nhiễm của môi trường, sự cạn kiệt về tài nguyên… đều có tính chất của chỉ số tăng trưởng, nghĩa là, trải qua một thời gian, chỉ số này sẽ gia tăng gấp đôi. Nếu cứ tiếp tục duy trì xu hướng này, sự tăng trưởng kinh tế trên hành tinh của chúng ta sẽ đạt tới cực đại tại một thời kỳ nào đó trong vòng 100 năm nữa. Nguyên nhân nằm ở một thực tế đơn giản - Trái đất là có hạn, không gian có hạn, tài nguyên có hạn, khả năng chịu ô nhiễm của Trái đất cũng rất có hạn. Tác giả vẽ ra một tình cảnh tương lai đáng sợ: do thiếu lương thực gây ra nạn đói và chết chóc, nguồn tài nguyên thiên nhiên không thể tái sinh ngày một cạn kiệt, môi trường nhanh chóng bị biến đổi xấu đi. Do đó, vấn đề sinh tồn của toàn nhân loại bị đe doạ, ngày tận thế của thế giới sẽ đến. Tác phẩm Giới hạn của tăng trưởng vừa mới xuất bản đã ngay lập tức tạo lên một trào lưu mạnh mẽ trong giới tư tưởng trên toàn thế giới. Rất nhiều người đã coi tác phẩm này là đại diện cho chủ nghĩa bi quan, thậm chí có người còn cho rằng quyển sách này đã phản ánh tâm trạng tuyệt vọng về tương lai của giai cấp tư sản; cũng có một số người chỉ ra điểm chưa đầy đủ về mặt kỹ thuật tồn tại trong quyển sách này, như khuyết điểm của mô thức sử dụng, coi nhẹ vai trò của tiến bộ khoa học kỹ thuật… Nhưng mấy năm gần đây, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng, ngày nay với sự bùng nổ dân số, nguồn tài nguyên đang nhanh chóng bị cạn kiệt, môi trường sinh thái bị phá vỡ nghiêm trọng. Nhóm nghiên cứu của Meadows Earle đã góp phần làm thay đổi nhận thức cũ của con người, đưa ra vấn đề từng bị coi nhẹ trong suốt một thời gian dài để mổ xẻ nó, gióng lên hồi chuông thức tỉnh thế giới và con người.

Một nguyên nhân quan trọng khiến Câu lạc bộ Roma có thái độ bi quan trước sự phát triển của thế giới là họ đã xem nhẹ vai trò năng động, tự quyết định vận mệnh chính bản thân mình của nhân loại và những ảnh hưởng tích cực tiềm tàng của tiến bộ khoa học - kỹ thuật. Một học giả Pháp đã từng chỉ ra rằng, một loạt “mô thức toàn thế giới” do Câu lạc bộ Roma chế định hạn chế bởi điểm xuất phát ở mối quan hệ tương hỗ giữa “tăng trưởng - tài nguyên - môi trường”, coi nhân tố và mối quan hệ quan trọng của các kết cấu con người - xã hội, con người - văn hoá, giá trị, thể chế nằm ngoài phạm vi nghiên cứu. Như vậy, lập luận của họ không làm cho con người thoả mãn. Cách phê phán này, có thể nói, ít nhiều chứa đựng sự đánh giá đúng đắn.

Phát triển ngày càng trở thành một vấn đề nổi bật, thúc đẩy con người thực hiện những nghiên cứu khoa học có liên quan. Nhiều nhà khoa học đã không ngừng làm phong phú thêm quan niệm về phát triển; kết quả là, một quan niệm mới về phát triển ra đời và được ứng dụng - quan điểm phát triển tổng hợp. Quan điểm phát triển mới của F.Perroux được coi là tác phẩm đại diện cho quan điểm phát triển tổng hợp. Quan điểm phát triển này cho rằng, phát triển phải là sự phát triển mang tính chỉnh thể và tổng hợp. Perroux chú trọng mối quan hệ giữa con người với con người, con người với môi trường, con người với tổ chức; nhấn mạnh sự phát triển tổng hợp bao gồm các phương diện tăng trưởng kinh tế, dân chủ chính trị, chuyển đổi mô hình xã hội, thay đổi văn hoá, điều hoà tự nhiên, cân bằng sinh thái.

Trong lời tựa cuốn Quan điểm phát triển mới, F.Perroux viết: “Từ thời đại Plato đến nay, con người đã ý thức được rằng, tư tưởng được nảy sinh từ mâu thuẫn, mà quan niệm phát triển này lại hoàn toàn tạo nên một sự thực tự mâu thuẫn quan trọng của thời đại chúng ta: hướng tới sự tiến bộ nhưng cần phải suy nghĩ về hậu quả của nó… Đó là cách nhìn nhận đối với vấn đề phát triển, đồng thời là chìa khoá lý giải hiện thực và thời đại hiện thực”(1). Quan điểm về nhân tố ảnh hưởng phát triển các mặt cần phải được tập trung khảo sát và điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của hiện thực. Quan điểm phát triển mới của F.Perroux là một tác phẩm quan trọng, đặt vấn đề phát triển dựa trên lý luận triết học sâu sắc. Ông cho rằng, “phát triển mới” chính là sự phát triển phục vụ lợi ích của toàn thể nhân loại và tất cả mọi người, cũng chính là để thúc đẩy sự phát triển của toàn nhân loại và tự thân của tất cả mọi người. Giá trị văn hoá đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển. Trong chiến lược phát triển, quan điểm phát triển mới nhấn mạnh chiến lược phát triển chỉnh thể, tổng hợp và phát huy sức mạnh nội lực: cái gọi là chỉnh thể chỉ mô thức phát triển nhất thiết phải dựa trên một quan niệm hoàn chỉnh, vừa phải xét tới các phương diện tạo thành xã hội - con người chỉnh thể, vừa phải nhìn nhận tính đa dạng xuất hiện trong mối quan hệ tồn tại phụ thuộc lẫn nhau của con người; tổng hợp chỉ sự điều hoà thống nhất của các ngành, lĩnh vực; phát huy nội lực chỉ việc sử dụng đầy đủ và chính xác lực lượng và nguồn tài nguyên của quốc gia mình để thúc đẩy phát triển(2). Perroux còn cho rằng, “phát triển mới” không phải và cũng không thể là mô hình các nước phát triển phương Tây đã đưa ra; rằng, để thực hiện phát triển mới, cần phải thay đổi trật tự kinh tế quốc tế bất bình đẳng, không hợp lý hiện đang tồn tại. Chiến lược phát triển mới nhằm thay đổi tình trạng liên hệ không mật thiết giữa các hệ thống, nhấn mạnh các mặt phụ của phát triển luôn tồn tại và liên hệ chặt chẽ với nhau.

Dễ dàng nhận thấy rằng, điểm cơ bản nhất trong quan điểm phát triển của F.Perroux là coi trọng tính đa tầng bậc và tính toàn diện của mối liên hệ.

Có thể nói, tìm câu trả lời cho vấn đề làm thế nào để phát triển cũng không ngừng phát triển. “Có thể phát triển liên tục” là một bước tiến quan trọng trong quan niệm về phát triển, đồng thời là một trong những tiêu chí quan trọng của văn minh nhân loại khi bước vào thời kỳ lịch sử mới. Khái niệm “có thể phát triển liên tục” được đưa ra vào thập niên 80 của thế kỷ XX và người ta đã tập trung thảo luận nội dung và ý nghĩa của quan niệm “có thể phát triển liên tục”. Các nước đang phát triển và những nước phát triển đã thực hiện một loạt đối thoại và biện luận; cuối cùng, vào tháng 5 năm 1989, trong kỳ họp thứ 15 của Uỷ ban Môi trường Liên hợp quốc đã đạt được sự đồng thuận. Khái niệm “có thể phát triển liên tục” chỉ sự phát triển vừa có thể thoả mãn nhu cầu đương đại, vừa không làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Một đặc điểm quan trọng của quan niệm phát triển này là rất quan tâm và luôn tính đến mối quan hệ giữa các thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai, điều này rất ít hoặc chưa từng được đề cập một cách có hệ thống trong lý luận về phát triển trước đây.

Vấn đề quan trọng khác cần bàn là quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm. Vấn đề vị trí của con người trong phát triển đã được rất nhiều nhà nghiên cứu về lý luận phát triển đề cập đến. Tuy nhiên, chỉ trong nghiên cứu phát triển đương đại, quan niệm coi con người là trung tâm mới thực sự được quan tâm với mức độ cao hơn, bắt đầu từ tháng 3 năm 1995 tại Hội nghị cấp cao về phát triển thế giới được tổ chức tại Copenhagen. Trong “Tuyên ngôn” và “Cương lĩnh hành động” được Hội nghị này thông qua đã khẳng định: “Phát triển xã hội là nhu cầu và nguyện vọng cơ bản của nhân dân các nước trên toàn thế giới, cũng là nhiệm vụ trung tâm của chính phủ các nước, các ban ngành xã hội”. Phát triển xã hội “lấy con người làm trung tâm”, “mục tiêu cuối cùng của phát triển xã hội là cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống”, “sự phát triển xã hội không thể tách rời các nhân tố văn hoá, sinh thái, kinh tế, chính trị và môi trường tinh thần nảy sinh theo nó”. Dễ nhận thấy rằng, trong các quan điểm lấy con người làm trung tâm phát triển, cho dù có rất nhiều ý kiến trái ngược, lý giải về “con người” không hoàn toàn thống nhất, nhưng điểm tương đồng ở đây là nêu bật vị trí chủ thể của con người.

Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy, các lý luận và quan niệm về phát triển đều không chỉ liên hệ với điều kiện lịch sử ở mỗi giai đoạn riêng, mà còn có liên hệ với bối cảnh đặc biệt của mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau. Từ Lý luận tăng trưởng kinh tế đến Lý luận tăng trưởng có giới hạn, từ Lý luận phát triển tổng hợp đến Lý luận có thể phát triển liên tụcQuan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm, về tổng thể đã phản ánh tiến trình phát triển lịch sử đã qua của nhân loại, phản ánh trình độ nhận thức của con người đối với các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển và mối quan hệ tương hỗ của nó trong các điều kiện không giống nhau. Nhưng, lý luận phát triển không giống nhau trong mối quan hệ của tiến trình lịch sử, đồng thời cũng không phải là mối quan hệ một sai một đúng, mà là đồng thời tồn tại tính liên tục, tính hỗ trợ bổ sung trong tính tiến bộ và tính gián đoạn của lịch sử. Tiếp thu lẫn nhau và tác động biện chứng là một đặc trưng quan trọng của lý luận phát triển trong quá trình phát triển.

Mặt khác, một lý luận phát triển được xác lập, mở rộng và vận dụng cần phải chuyển biến theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia cụ thể. Đặc điểm cơ bản này là chân lý không thể thay đổi của quan điểm phát triển triết học theo phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Không nắm được thành quả tích cực của con người đã đạt được trong tiến trình sáng tạo văn minh thế giới, đó là tự mình chui vào vỏ ốc, không nghe không thấy những gì đã, đang diễn ra; không biết được tiến trình cụ thể trong quá trình phát triển đất nước của quốc gia mình, thì sẽ không thực sự nắm được các vấn đề căn bản, như làm thế nào để phát triển, làm thế nào để phát triển như vậy.

2. Việc lý giải chặng đường phát triển của Trung Quốc và nhu cầu phát triển thực tiễn là cơ sở quan trọng, vững chắc để thiết lập quan điểm phát triển khoa học.

Trên con đường xã hội chủ nghĩa, nhân dân Trung Quốc từng có những năm tháng ca khúc khải hoàn, cũng từng có giai đoạn chao đảo, thậm chí chịu sức ép nặng nề. Thành công và thất bại, phát triển và trì trệ, kinh nghiệm chính diện và kinh nghiệm phản diện… đều xảy ra trong một quá trình lịch sử, đều là hiện tượng phát sinh cùng với hành trình lịch sử của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Lịch sử phát triển thăng trầm của quốc gia xã hội chủ nghĩa cho thấy, mỗi quốc gia hoặc mỗi dân tộc sau khi đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đều phải đối mặt với vấn đề lựa chọn mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa, đối mặt với nhiệm vụ nặng nề là kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tế cụ thể của nước mình cũng như đối mặt với vấn đề mở ra con đường hiện thực xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước mình dựa trên sự tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo trong sự “kết hợp” này. Trong thập niên đầu tiên của nhà nước cộng hoà nhân dân, Trung Quốc đã đạt được những thành tựu huy hoàng trên các mặt phục hồi và phát triển sản xuất, cải cách xã hội và quản lý xã hội, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề và kinh tế quốc dân; nhân dân vô cùng phấn khởi, vui mừng trước những thành tựu đã đạt được và Trung Quốc tiếp tục phấn đấu trên con đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, làm thế nào để một quốc gia rộng lớn và đông dân ở phương Đông vốn có trình độ kinh tế thấp kém, văn hoá lạc hậu,… xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và tiếp tục phát triển,… vẫn là một vấn đề hoàn toàn mới. Do mức độ khó khăn, phức tạp của vấn đề này cũng như chưa từng có tiền lệ để học hỏi, do quá trình tìm tòi nghiên cứu ban đầu gặp nhiều gian khổ, việc xây dựng xã hội mới vẫn chưa thành công và thậm chí, có lúc còn nhận thức sai về chủ nghĩa xã hội, chưa “tỉnh táo” để nhận thức được chủ nghĩa xã hội là gì. Việc theo đuổi “nhất đại nhị công”(một là phát triển quy mô lớn, hai là công hữu hoá cao độ – ND) khiến xã hội mất đi cơ sở sức sản xuất mà nó vốn có thể nắm bắt được, cũng như việc lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh đã gây sai lầm mang tính toàn diện. Như vậy, vấn đề phát triển liên tục trong tiến trình lịch sử của Trung Quốc không những chưa được giải quyết, mà còn phải trả giá đắt bằng sự ngưng trệ không có tiến triển của đất nước trong suốt hơn 20 năm. Đồng chí Đặng Tiểu Bình nói: “Kinh nghiệm 20 năm, kể từ năm 1958 đến 1978, đã cho chúng ta thấy: nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội phải xoá bỏ được đói nghèo. Không phát triển năng lực sản xuất, không nâng cao đời sống cho nhân dân, thì không thể nói là phù hợp với yêu cầu của chủ nghĩa xã hội”(3).

Tiêu chuẩn thực tiễn, tiêu chuẩn sức sản xuất, ba điều có lợi cho tiêu chuẩn đều hội tụ trong tư duy sâu sắc của đồng chí Đặng Tiểu Bình về vấn đề phát triển, xuyên suốt sự quan tâm sâu sắc đối với phát triển sức sản xuất và cải thiện đời sống cho nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Đặng Tiểu Bình, toàn Đảng và toàn thể nhân dân Trung Quốc đã thoát khỏi những khó khăn do 10 năm bạo động gây ra. Bước sang thời kỳ mới của phát triển xã hội, vấn đề phát triển luôn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Ông nói, phát triển mới là chủ đạo, nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội, phát triển quá chậm cũng không phải là chủ nghĩa xã hội, phát triển là cơ sở để giải quyết tất cả các vấn đề; trước hết, phải phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế. Nếu không cải cách, không phát triển lực lượng sản xuất, không cải thiện đời sống cho nhân dân thì chủ nghĩa xã hội không có lối thoát, đó chỉ là con đường chết mà thôi. Con đường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc mà Đặng Tiểu Bình đã tìm ra, lý luận Đặng Tiểu Bình mà ông đưa ra đã cơ bản giải quyết được vấn đề phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc. Trong điều kiện hiện nay, Trung Quốc phải làm thế nào để xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội; động lực, con đường và điều kiện phát triển như thế nào?… Đó là những nội dung quan trọng cấu thành lý luận Đặng Tiểu Bình. Chiến lược phát triển chia thành “ba bước đi” không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của chiến lược phát triển, mà còn đề cập tới khả năng có thể phát triển liên tục. Năm 1985, sau khi nghe báo cáo, ông đã chỉ ra rằng, “ý nghĩa của cải cách chính là đặt nền móng phát triển tốt đẹp liên tục cho 10 năm sau và 50 năm của thế kỷ tiếp theo. Không có cải cách thì sẽ không có sự phát triển liên tục ngày nay và mai sau. Cho nên, cải cách không phải là nhìn vào 3 hoặc 5 năm sau, mà phải nhìn vào 20 năm sau, phải nhìn vào 50 năm đầu của thế kỷ sau. Điều này phải được tiếp tục duy trì”(4). Năm 1989, Đặng Tiểu Bình “kiến nghị tổ chức một lớp nghiên cứu chiến lược phát triển và quy hoạch cho 50 năm đầu của thế kỷ sau”(5).

Không phải ngẫu nhiên mà đồng chí Đặng Tiểu Bình đã nhấn mạnh việc nghiên cứu “chiến lược phát triển” đó, nhấn mạnh việc xây dựng cơ sở “phát triển liên tục” tốt đẹp cho 50 năm đầu của thế kỷ sau, nhấn mạnh ý nghĩa của cải cách đối với “phát triển liên tục”. Điều này hội tụ khả năng tư duy và suy nghĩ sâu xa về những kinh nghiệm của ông đối với lịch sử phát triển chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc, đối với việc quan sát và vận dụng kinh nghiệm của các nước, nắm vững quan điểm thời đại và dự kiến khoa học đối với xu thế phát triển, tương lai phát triển.

“Phát triển mới là chủ đạo!” không phải là khẩu hiệu đơn giản, cũng không phải là từ ngữ thông dụng trong đời sống hàng ngày. Điều mà Đặng Tiểu Bình muốn biểu đạt là tư tưởng chiến lược quan trọng vừa hội tụ những kinh nghiệm lịch sử, vừa liên quan tới sự phát triển lâu dài và toàn diện. Từ nhiệm vụ quan trọng hàng đầu: phát triển là chủ đạo đến nắm chính quyền và xây dựng đất nước, đến sự ra đời của quan điểm phát triển khoa học đã thể hiện bước đi vững chắc, nỗ lực không ngừng trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc của nhân dân Trung Quốc, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và nhất quán của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với vấn đề phát triển. Nhờ đó, Trung Quốc đã đạt được sự phát triển to lớn chưa từng có trước đây. Trong 25 năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc liên tục được duy trì ở mức 9,3%; năm 2003, bình quân đầu người đã tăng lên ngưỡng quan trọng là 1000 USD, Trung Quốc đã thực hiện được mục tiêu chiến lược dự tính bước 2. Sản xuất phát triển, tiềm lực tổng hợp của đất nước tăng lên, về tổng thể đời sống của nhân dân đã đạt mức trung bình.

Để phát triển nhanh hơn nữa, cần phải giải quyết các vấn đề cản trở sự phát triển. Trong Báo cáo công tác của chính phủ, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã liệt kê những khó khăn do sự tích tụ những mâu thuẫn của nhiều năm qua, bao gồm vấn đề tăng thu nhập cho nông dân còn chậm chạp, nhiệm vụ bảo đảm xã hội và vấn đề việc làm còn nặng nề, sự phát triển giữa các vùng không đồng đều, thu nhập của một bộ phận người dân còn chênh lệch quá lớn, áp lực nguồn tài nguyên và môi trường không ngừng tăng… cộng với một số mâu thuẫn mới do sự phát triển quá nhanh của nền kinh tế đem lại, bao gồm đầu tư mù quáng, xây dựng mới ở trình độ thấp, mối quan hệ cung cầu giữa nguồn năng lượng, giao thông và một phần nguyên vật liệu căng thẳng, chiếm dụng đất canh tác bất hợp pháp, sự phát triển của sự nghiệp xã hội còn chậm chạp, đời sống của cư dân vùng nông thôn có thu nhập thấp còn nhiều khó khăn…

Trong thực tiễn hoá giải các vấn đề khó khăn, có cái dựa vào sự điều chỉnh bố cục chiến lược, vào sự quán triệt và thực tế của một loạt phương châm, chính sách tương ứng. Nhưng việc đề xuất quan điểm phát triển khoa học lấy con người làm gốc trong Hội nghị toàn thể lần thứ 3 kỳ họp 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc lại đưa ra cơ sở lý luận quan trọng xuất phát từ quan điểm lý luận cơ bản của phát triển. Quan điểm phát triển khoa học lấy dân làm gốc, toàn diện, hài hoà, lâu dài này lấy “phát triển” làm chủ đề, trả lời cho một loạt vấn đề cơ bản: tại sao phải phát triển và phát triển như thế nào. “Lấy dân làm gốc” chính là phải lấy việc thực hiện phát triển toàn diện con người làm mục tiêu; phải xuất phát từ lợi ích căn bản của quần chúng nhân dân để mưu cầu phát triển, thúc đẩy phát triển; không ngừng thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày một cao của quần chúng nhân dân; thực sự bảo đảm quyền lợi kinh tế, chính trị, và văn hoá cho quần chúng nhân dân, đưa những thành quả phát triển đến với toàn thể người dân. “Phát triển toàn diện” phải lấy việc xây dựng kinh tế làm trung tâm, thúc đẩy việc xây dựng kinh tế, chính trị, văn hoá một cách toàn diện, thực hiện phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. “Phát triển hài hoà” chính là phải thống nhất trù hoạch sự phát triển của thành thị và nông thôn, phát triển của khu vực, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển hài hoà giữa con người và thiên nhiên, phát triển trong nước và mở cửa đối ngoại, tăng cường sự phù hợp trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, sự phối hợp nhịp nhàng giữa cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc, thúc đẩy sự phối hợp nhịp nhàng giữa các mặt, các khâu của việc xây dựng kinh tế, chính trị và văn hoá. “Có thể phát triển lâu dài” chính là phải thúc đẩy sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, phối hợp nhịp nhàng giữa sự phát triển kinh tế với vấn đề dân số, tài nguyên và môi trường, kiên trì đi theo con đường phát triển văn minh với sự phát triển của lực lượng sản xuất, cuộc sống giàu có và môi trường sinh thái trong lành, bảo đảm liên tục phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Có thể thấy rằng, quan điểm phát triển khoa học này chứa đựng nội hàm phong phú và sâu sắc. Những vấn đề được đề cập trong đó cũng không phải là chưa từng được đề cập trước đây, ví dụ mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn, mối quan hệ giữa các vùng khác nhau, mối quan hệ giữa phát triển sản xuất và cải thiện đời sống cho người dân, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên… Nhưng, thứ nhất, những vấn đề này trước đây khi đề cập, đa phần được nói trên chính sách cụ thể; thứ hai, khái niệm “quan hệ” giống như trong thực tiễn phát triển, nhưng nội hàm của nó không hoàn toàn giống với trước đây. Nội hàm của các mối quan hệ được đề cập trong quan niệm phát triển khoa học là mối quan hệ mật thiết trong thực tiễn phát triển của Trung Quốc khoảng 12 năm trở lại đây, là lấy vấn đề hiện thực được đề cập trong thực tiễn phát triển làm cơ sở. Thực tiễn của hiện thực cải cách mà nhân dân Trung Quốc đang theo đuổi là quan điểm phát triển khoa học này, với cơ sở hiện thực nhất, trực tiếp nhất của sản xuất. Vì vậy, chúng ta càng nắm bắt nó dưới góc độ thống nhất nội tại quan niệm lý luận phát triển và thực tiễn hiện thực, thì lại càng giúp ta hiểu chính xác về nội hàm và nhu cầu quan điểm phát triển này, càng làm tăng thêm tính tự giác để thiết lập và quán triệt thực hiện quan điểm phát triển khoa học. Đồng thời, nội dung được đề cập trong quan điểm phát triển khoa học không đơn giản là chính sách cụ thể trên một phương diện nào đó, mà là căn cứ lý luận cơ bản của mỗi phương châm chính sách. Nội dung quan điểm phát triển khoa học này phong phú, các tầng bậc một “gốc”, ba “phát triển”, năm “tính toán chung” rất rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, khả năng khái quát cao và rộng. Có thể nói, đây là một hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh thống nhất với cơ sở là sự phát triển điều hoà toàn diện và với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, đồng thời là một quan điểm lý luận căn bản về sự phát triển mang tính phù hợp và phổ biến. Tác giả cho rằng, tính quan hệ mật thiết với thực tiễn và tính nghiêm túc chỉnh thể của lý luận là một đặc điểm quan trọng của quan điểm phát triển khoa học.

Quan điểm phát triển khoa học lấy con người làm gốc được xây dựng trên thực tiễn của Trung Quốc đương đại, đồng thời so sánh với thành quả tích cực của sự phát triển văn minh thế giới, lựa chọn thái độ tiếp thu có phân tích đối với nhiều tư tưởng có giá trị trong lý luận phát triển đã từng có. Về điểm này, có thể dễ dàng nhận thấy trong lược thuật diễn biến lịch sử về quan điểm phát triển đã được đề cập ở phần trên của bài viết này. Không chỉ nhận thấy tính liên tục của diễn biến lịch sử này trong nội dung của Quan điểm phát triển tổng hợp, Quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm, Quan điểm phát triển liên tục; hơn nữa, trong Lý luận tăng trưởng kinh tế thời kỳ đầu sau thế chiến thứ 2 cũng không phải hoàn toàn sai, lý luận tăng trưởng kinh tế đơn thuần đương nhiên là không đúng, nhưng cũng không thể nói trong đó không có bất kỳ thành phần hợp lý nào. Ví dụ nói “tăng trưởng”, đơn giản là quy kết sự phát triển của xã hội thành tăng trưởng kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nên đánh một cái dấu, điều này đương nhiên không thể thực hiện; bởi nó đã coi nhẹ các nhân tố khác mang lại sự phát triển, quên mất sự phát triển toàn diện của xã hội và kết quả là dẫn tới chỗ “có tăng trưởng nhưng không phát triển”. Nhưng điều này cũng không có nghĩa rằng, dường như phải xa rời sự tăng trưởng kinh tế thì mới là nói tới sự phát triển; nếu đúng như vậy, thì nhất định đó là nói suông với phát triển. Trong lời nói đầu cuốn Quan điểm phát triển mới của F.Perroux giải thích “Phát triển là vừa chỉ hoạt động phát triển, vừa có ý nghĩa trạng thái của kết quả”(6). Quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển như thế nào? “Tăng trưởng là một chỉ tiêu của quy mô, nó có ý nghĩa tự thân từ trong sự phát triển, sự phát triển này tuy có sự khác biệt với tăng trưởng, nhưng vẫn xoay quanh nó, đồng thời khi đạt được tiến triển trong sự tăng trưởng sẽ thể hiện rõ hiệu quả và lợi ích của bản thân”(7). Điều này có nghĩa là hoạt động “phát triển” không có kết quả, không có ý nghĩa. Tuy nhiên, phát triển không tương đồng với tăng trưởng, hai khái niệm này có sự khác biệt, nhưng có điều phát triển phải xoay quanh tăng trưởng, chứ không phải là trốn tránh hoặc đào thải tăng trưởng; đồng thời, chỉ khi có tiến triển trong tăng trưởng thì mới có thể thể hiện rõ hiệu quả và lợi ích, đó chính là đạt đến sự phát triển có kết quả.

Từ đó, có thể thấy rằng, một mặt, tính khác biệt giữa tăng trưởng và phát triển khiến chúng ta không thể làm lẫn lộn hai khái niệm này; mặt khác, tính thống nhất của hai khái niệm cũng khiến chúng ta không thể tách rời chúng một cách tuyệt đối. Ngày nay, chúng ta nói về một khái niệm tương tự như vậy - phát triển toàn diện không có nghĩa là không cần đến tăng trưởng, bởi tăng trưởng kinh tế là cơ sở để phát triển cái khác. Nói phát triển hài hoà không có nghĩa là tăng trưởng bình quân, mà coi xây dựng kinh tế vẫn là nội dung quan trọng của quan điểm phát triển khoa học. Vì thế dễ dàng nhận thấy rằng, so sánh và tiếp thu thành quả tích cực trong lý luận phát triển đã có là một đặc trưng của quan điểm phát triển khoa học lấy con người làm gốc.

Một đặc điểm quan trọng của quan điểm phát triển khoa học là đưa khái niệm “lấy con người làm gốc” vào trong phạm trù của quan điểm phát triển, đồng thời đặt nó ở vị trí đặc biệt quan trọng.

“Lấy con người làm gốc” là bản chất và trung tâm, đồng thời cũng là một nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển khoa học. Kiên trì quan niệm lấy con người làm gốc thể hiện việc coi lợi ích của nhân dân là điểm xuất phát và mục đích cuối cùng. Đó là bản chất và nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển. Tương tự như vậy, “toàn diện”, “hài hoà”, “có thể lâu dài”, “thống nhất trù hoạch” mang ý nghĩa quản lý, thể hiện đặc trưng mới của quan điểm phát triển khoa học này.

Nhiều năm qua, người ta đã không ngừng thảo luận về vấn đề phát triển và cuối cùng đã đạt đến nhận thức chung: “Phát triển ngày càng được coi là một sự giác ngộ của tư tưởng xã hội.”

Con người ý thức được rằng, địa vị chủ thể trong dòng phát triển lịch sử của chính mình đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Ở đây, chúng ta chỉ muốn nhấn mạnh, trong cách nhìn nhận của quan điểm duy vật lịch sử, tính quy luật khách quan của lịch sử phát triển không bị chi phối bởi ý chí của con người, nó thống nhất với vai trò và địa vị của con người trong lịch sử phát triển.

Không có hoạt động sáng tạo lịch sử của con người, thì sẽ không có lịch sử. “Lịch sử chẳng qua là hoạt động theo đuổi mục đích của chính con người mà thôi”(8). Nhưng hoạt động của con người lại chịu sự chi phối của điều kiện khách quan, điều kiện lịch sử khách quan xác định mà mỗi thế hệ con người gặp phải, bất kỳ người nào cũng đều không thể tuỳ tiện sáng tạo lịch sử theo ý muốn của mình. Quy luật khách quan của lịch sử phát triển không nằm ngoài hoạt động của con người, mà thể hiện thông qua hoạt động của con người. Tính quy luật khách quan của lịch sử phát triển và tính mục tiêu của sự theo đuổi trong hoạt động lịch sử của con người là sự thống nhất nội tại. Lịch sử đã chỉ ra rằng, bất luận là giới tự nhiên hay điều kiện lịch sử đã định trước mà hạn chế hoạt động và khả năng của con người đều có ý nghĩa song trùng. Một mặt, nó hạn chế khả năng phát huy đặc tính tự do và khả năng thể hiện lực lượng bản chất của nhân loại, làm cho con người cảm nhận được tính hữu hạn của mình với tính cách chủ thể, đó là tính hữu hạn của khả năng nhận thức và cải tạo thế giới vốn có của con người; mặt khác, hạn chế này lại là bước ngoặt chuyển hoá và là con đường phát huy, phát triển năng lực bản chất nhân loại. Không có hạn chế này, năng lực bản chất nhân loại không thể được phát huy, sự phát triển tự do và toàn diện của con người cũng mất đi gốc rễ. Dễ dàng thấy rằng, tính mục đích hợp lý, tính quy luật hợp lý của con người trong hoạt động lịch sử là thống nhất nội tại, cơ sở thống nhất là thực tiễn. Bởi thực tiễn là phương thức tồn tại của con người, là cơ sở để con người có thể phát huy và phát triển năng lực bản chất của mình. Vì vậy, con người được nói tới trong quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử là con người thực hiện hoạt động thực tiễn, chứ không phải là con người trừu tượng.

Xác định lấy con người làm nguyên tắc quan trọng và yêu cầu cơ bản của quan điểm phát triển khoa học, dù trong cách đặt vấn đề hay trong hàm ý cũng đều mang một ý nghĩa mới. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh rằng, chủ nghĩa cộng sản là “liên minh của những người tự do”, “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(9); đồng thời chỉ rõ xã hội tương lai sẽ là “hình thức xã hội với sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người là nguyên tắc cơ bản”(10). Quan điểm phát triển khoa học đưa nguyên tắc quan trọng lấy con người làm gốc vào trong quan điểm phát triển, xác định việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người là mục tiêu, đưa thực tiễn hiện thực của việc không ngừng tạo điều kiện cho lý tưởng cao đẹp trong tương lai vào nội dung của quan điểm phát triển. Điều này đã làm cho mục tiêu của quan điểm phát triển trở nên rất rõ ràng và con đường, quá trình cũng như điều kiện thực hiện mục tiêu cũng rất hiện thực, cụ thể. Cái mà quan điểm phát triển này cần không phải là phát triển để phát triển, mà là thực hiện sự phát triển toàn diện của con người để tìm tòi và thúc đẩy sự phát triển. Thực sự bảo đảm quyền lợi kinh tế, chính trị và văn hoá của quần chúng nhân dân, đưa các thành quả của sự phát triển đến với toàn thể nhân dân - đó vừa là việc lựa chọn chính sách thực hiện, vừa là sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc lấy con người làm gốc.

Ngày nay, trong tiến trình toàn cầu hoá diễn ra không ngừng cũng như khoa học - kỹ thuật thay đổi và phát triển nhanh chóng, những vấn đề mà nhân loại cùng phải đối mặt cũng ngày càng nhiều, sự giao lưu qua lại giữa các quốc gia, giữa các vùng lãnh thổ diễn ra sôi động chưa từng thấy. Với những điều kiện trên, nguyên tắc “lấy con người làm gốc” và trào lưu phát triển thời đại thống nhất là một. Xác định “lấy con người làm gốc” sẽ giúp cho chúng ta thu được nhiều lợi ích trong giao lưu quốc tế và có vị trí chủ động. Mặt khác, sự xuất hiện của xã hội thông tin, các hình thức kinh tế mới, điều kiện lịch sử mới đã làm hiện rõ địa vị chủ thể của con người, thể hiện tinh thần, trí tuệ, tố chất của con người ngày càng có ý nghĩa động lực to lớn và trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong tình hình đó, đưa khái niệm “lấy con người làm gốc” vào trong phạm trù quan điểm phát triển khoa học có ý nghĩa quan trọng và sâu sắc. Quan điểm phát triển khoa học lấy con người làm gốc là bước tiến triển trọng đại của lý luận phát triển, là thành quả lý luận mang tính đặc trưng của thời đại.

Người dịch: ThS. TRẦN THUÝ NGỌC

(Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)

         

 


(*) Bài đăng trên Nhân dân nhật báo, số ra ngày 10 - 8 - 2004.

(1) F.Perroux. Quan điểm phát triển mới. Nxb Hoa Hạ, 1987, tr.1 (tiếng Trung).

(2) F.Perroux. Sđd., tr.2-3.

(3) Đặng Tiểu Bình tuyển tập, q.3, Nxb Nhân dân, 1993, tr.116.

(4)  Đặng Tiểu Bình tuyển tập. Sđd., q.3, tr.131.

(5) Đặng Tiểu Bình tuyển tập. Sđd., q.3, tr.131.

(6) F.Perroux. Quan điểm phát triển mới. Nxb Hoa Hạ, 1987, tr.10.

(7) F.Perroux. Sđd.,  tr. 3.

(8) Tổ chức giáo dục khoa học văn hoá của Liên hợp quốc: Quy hoạch giữa kỳ giai đoạn 1977 - 1982, Trích từ: F.Perroux. Quan điểm phát triển mới, Nxb Hoa Hạ, 1987, tr.112. 

(9) Friedrich Engels – Chủ nghĩa Mác - Lênin tuyển tập, q.1. Nxb Nhân dân, 1995, tr. 294 (tiếng Trung).

(10) Friedrich Engels – Chủ nghĩa Mác - Lênin tuyển tập,  q.23. Nxb Nhân dân, 1995,  tr. 649 (tiếng Trung).

Đã xem: 553
Thời gian đăng: Thứ ba - 24/11/2015 23:10
Người đăng: Phạm Quang Duy


Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Bài mới nhất