“Đầu tiên là công việc đối với con người”: Vì dân - một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
(06/12/2018)
"Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một di sản, một giá trị vô giá với rất nhiều tư tưởng lớn, trong đó tư tưởng vì dân, vì con người là một tư tưởng mà từ khi khởi đầu sự nghiệp cách mạng cho đến tận những ngày cuối đời, Người đã luôn trung thành và ra sức thực hiện. Coi đây là công việc đầu tiên, vì nước cũng chính là vì dân, trong "Di chúc", Người yêu cầu chúng ta phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân, phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân và phải có "kế hoạch thật tốt" để không ngừng nâng cao đời sống cho mọi tầng lớp nhân dân. Người không chỉ yêu cầu phải chăm lo cho tất cả "những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình", mà còn lo cho cả những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Vì dân, Người còn căn dặn chúng ta phải hết sức coi trọng việc "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau", "phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ" phụ nữ nhằm thực hiện cho được "cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ". Vì dân, Người còn yêu cầu chúng ta "sửa đổi chế độ giáo dục", "phát triển công tác vệ sinh, y tế".
Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
(17/09/2018)
Thực tiễn của 20 năm đổi mới ở nước ta cho thấy, việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này, chúng ta cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; cần phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước, từng bước xác định rõ nội dung, phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; đồng thời, tiếp tục đổi mới quá trình thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành hoạt động của Nhà nước và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.
Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tập thể Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tập thể
(10/09/2018)
Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra và phân tích quan điểm của Đảng ta về vị trí và vai trò của kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tập thể mà nòng cốt là kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương tiếp tục đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế này mà Đảng ta đã đưa ra tại Đại hội X vừa qua.
Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*) Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*)
(17/09/2018)
Những năm gần đây, trong phong trào đổi mới triết học mácxít ở Trung Quốc, giới nghiên cứu triết học Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm cơ bản trong nghiên cứu triết học mácxít. Đó là, "Tâm thế phê phán sách giáo khoa" với một thái độ phi lịch sử; "Đòi hỏi tính học thuật" kiểu hình thức chủ nghĩa mà về thực chất là biến triết học mácxít thành lối học vấn mang tính hình thức suy diễn lôgíc thuần tuý, thành thứ "trò chơi trí tuệ" không có liên quan gì đến đời sống hiện thực; và "Mê tín giáo điều phương Tây" mà về thực chất là sử dụng các khái niệm hoặc lý luận triết học phương Tây để hoặc là lý giải, biện minh cho triết học mácxít, hoặc phê phán nó, hoặc là lấy những điểm giống nhau giữa triết học mácxít và triết học phương Tây để nói về tính hiện đại của triết học mácxít.
Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ
(28/07/2018)
Chính trị hoá tôn giáo gồm rất nhiều vấn đề và là một quá trình phức tạp. Ở Ấn Độ, xu thế này nổi trội ở hai vấn đề: Thứ nhất, Ấn Độ hiện đang bước vào giai đoạn hậu thế tục hoá về chính trị và quyền lực các bang. Sức mạnh hùng hậu của BJP là một nhân tố lớn trong sự phát triển của Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái thế tục của những người theo bước chân của J.Nehru cũng đang lớn mạnh và chính họ đã tạo ra cảm hứng và hy vọng không chỉ cho cộng đồng Hinđu giáo chiếm đa số mà cả những cộng đồng thiểu số như Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Thứ hai, đó là quá trình toàn cầu hoá với sự mở cửa và ảnh hưởng của nó tới Ấn Độ. Trong bài viết này, chúng tôi cũng đề cập tới một số nguyên nhân cơ bản khiến cho hiện tượng chính trị hoá tôn giáo tại Ấn Độ là không thể tránh khỏi và ngày càng phát triển mạnh mẽ với những thách thức không dễ gì có thể giải quyết.
Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi
(28/07/2018)
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật... Với những tư tưởng đó, học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.
Mấy ý kiến về cuốn Mấy ý kiến về cuốn "Đại cương lịch sử triết học phương Tây"(*)
(11/10/2018)
“Đại cương lịch sử triết học phương Tây”, về cơ bản, có thể coi là một cuốn sách tham khảo bổ ích cho sinh viên các trường đại học không chuyên triết. Nhóm tác giả của cuốn sách này đã trình bày một quan niệm khác về triết học, về lịch sử triết học so với các quan niệm được đưa ra trong các cuốn giáo trình về lịch sử triết học đã được xuất bản ở nước ta. Tuy nhiên, quan niệm của nhóm tác giả về đối tượng, nội dung và phương pháp của triết học còn có những vấn đề cần phải được thảo luận. Vấn đề chức năng của triết học cũng đã được nhóm tác giả luận giải một cách khá lý thú, song các tác giả đã bỏ qua một chức năng mà theo chúng tôi, hết sức quan trọng của triết học – chức năng giúp con người tìm kiếm tự do trong đời sống tinh thần của họ. Quan niệm của nhóm tác giả về mối quan hệ giữa “triết học và hệ tư tưởng”, “triết học và tôn giáo”, “triết học và cá nhân” cũng có những vấn đề cần phải được thảo luận.
"Cuộc cách mạng nhân học" trong triết học tôn giáo phương Tây hiện đại
(11/10/2018)
“Cuộc cách mạng nhân học” đang diễn ra trong triết học tôn giáo phương Tây hiện đại là cuộc cách mạng nhằm mục đích xây dựng hệ ý thức tôn giáo mới trên cơ sở giải quyết antinomia giữa “cái siêu việt” và “cái nội tại” với khát vọng tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức về con người trên bình diện triết học. Luận giải quan niệm của một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại trong việc giải quyết antinomia này, tác giả bài viết đã làm rõ thực chất của “cuộc cách mạng nhân học” này là ở chỗ, nó đã làm thay đổi một cách khá căn bản mối quan hệ chủ đạo Thiên Chúa – con người, đặc biệt là trong thần học Tin lành và do vậy, dẫn đến sự hình thành ý thức tôn giáo mới – khắc phục chủ nghĩa Thiên Chúa là trung tâm, khi con người nâng cao các giá trị tự thân đồng thời vẫn giữ lại trong mình hình ảnh Thiên Chúa.
Biện chứng trong Biện chứng trong "Tuyên ngôn độc lập"
(11/10/2018)
Bài viết này chỉ đề cập tới một vài nét trong cái biện chứng được hiện hình ở Tuyên ngôn độc lập, chỉ ra các mặt đối lập mà sự thống nhất và đấu tranh của chúng làm nên hạt nhân phép biện chứng của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Đó là sự đối lập giữa một bên là những kẻ ngoại bang xâm lược, thống trị và một bên là cộng đồng dân tộc Việt Nam với một bề dày truyền thống. Bài viết cũng chỉ ra biện chứng sáng ngời bản sắc Việt Nam thể hiện ở chỗ, chúng ta là đại diện cho cái nhân nghĩa đối mặt với cái phi nhân, phi nghĩa; biện chứng của tiến trình đấu tranh và sản phẩm của tiến trình ấy;… Biện chứng khách quan này đã dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, tới việc hình thành nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và định hướng cho sự phát triển của Việt Nam trong hơn 60 năm qua. Nhiệm vụ của chúng ta là khai thác và phát huy sức mạnh biện chứng ấy trong giai đoạn hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
(10/10/2018)
Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm tòi con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của nhà nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội. Người chủ trương sau khi Việt Nam giành được độc lập, chúng ta phải xây dựng một nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thể hiện ở cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn phương thức hoạt động của nhà nước. Nhà nước đó phải được tổ chức một cách hợp hiến, hợp pháp; hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phải thực sự là công cụ quyền lực của nhân dân lao động; phản ánh, thực hiện và bảo vệ lợi ích của nhân dân.
Chủ nghĩa toàn thế giới và chủ nghĩa Mác Chủ nghĩa toàn thế giới và chủ nghĩa Mác
(10/10/2018)
I.Cantơ cho rằng, con người toàn thế giới là “kết cuộc của tự nhiên”; rằng, phải coi những nỗ lực triết học nhằm phát triển một lịch sử thống nhất tuyệt đối về mặt hiến pháp của con người theo kế hoạch của tự nhiên không chỉ là khả dĩ, mà còn là hữu ích cho nhân loại. Đến “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” của C.Mác và Ph.Ăngghen, tư tưởng về chủ nghĩa toàn thế giới đã có sự thay đổi triệt để: nó không còn là một tư tưởng yếu đuối về quyền thăm thú như Cantơ đã quan niệm, mà là quyền và ý chí đoạt lấy sự sở hữu đối với tư liệu sản xuất, là sự xoá bỏ sở hữu tư bản chủ nghĩa. Từ đó, tác giả bài viết cho rằng, nhiệm vụ của triết học hiện nay là giải thích việc chúng ta có thể phát triển và hiện thực hoá chủ nghĩa toàn thế giới như thế nào để giải quyết được những vấn đề lớn của toàn cầu.
Triết học Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế Triết học Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế
(11/10/2018)
Trong bài viết này, tác giả khẳng định rằng, trong lịch sử, Việt Nam đã có triết học của mình, thể hiện tập trung ở hai vấn đề: tư tưởng triết học về số phận của cá nhân con người và tư tưởng triết học về số phận của đất nước. Đó cũng là sắc thái tư duy triết học đặc thù của Việt Nam. Mặt khác, tác giả cũng luận chứng để cho thấy rằng, trước đây, triết học Việt Nam ít nhiều đã có sự giao lưu với bên ngoài; ngày nay, mở cửa và hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, vừa là thách thức mới đối với sự phát triển của triết học Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc nhận thức lại tư duy truyền thống và lựa chọn, kế thừa những giá trị trong tư duy triết học của thế giới là điều kiện để có sự hội nhập tích cực.
Một số suy nghĩ về nghiên cứu triết học ở Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay Một số suy nghĩ về nghiên cứu triết học ở Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay
(11/10/2018)
Trên cơ sở trình bày những thành tựu chủ yếu và vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu triết học ở Việt Nam, tác giả tập trung phân tích vai trò và những định hướng nghiên cứu lớn của nghiên cứu triết học ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá. Ba định hướng lớn được tác giả tập trung phân tích là: thứ nhất, nếu như các nhà triết học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu những vấn đề do toàn cầu hoá đặt ra, tức là phản tư những vấn đề thế giới hay vấn đề toàn cầu, thì triết học Việt Nam phải tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thứ hai, nghiên cứu những tư tưởng triết học Việt Nam; thứ ba, nghiên cứu những trào lưu và những tư tưởng, những quan điểm triết học của các nhà triết học tiêu biểu trên thế giới cả phương Đông lẫn phương Tây; trước hết là những trào lưu, những tư tuởng và quan điểm triết học có ảnh hưởng nhiều hơn đến Việt Nam.
Tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
(10/10/2018)
Trên cơ sở phân tích sự phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX, tác giả đưa ra một số nhận xét cơ bản sau: thứ nhất, tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX chịu sự quy định của những điều kiện vật chất xã hội mang tính lịch sử – cụ thể; thứ hai, sự tiếp nhận triết học Mác - Lênin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; thứ ba, sự phát triển tư tưởng triết học dân tộc giai đoạn này là một quá trình tiếp biến biện chứng; thứ tư, nội dung chủ đạo của tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX là vấn đề độc lập dân tộc và dân chủ xã hội; thứ năm, hình thái biểu hiện của nó mang tính tổng hợp.
Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu Ý thức toàn cầu và vai trò của triết học trong việc xây dựng ý thức toàn cầu
(03/07/2018)
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, khách quan; nó vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực và đặt ra cho tất cả các quốc gia, dân tộc cả những vận hội lẫn những thách thức. Việc nhận thức những vấn đề toàn cầu đòi hỏi phải có ý thức toàn cầu. Ý thức toàn cầu, theo tác giả, có các đặc trưng: 1/ Phản ánh uy thế của các giá trị toàn nhân loại; 2/ Nó phải được chỉnh lý một cách căn bản trong sự tự ý thức của từng dân tộc cũng như của từng cá nhân; 3/ Có tính khoa học cao. Để xây dựng ý thức toàn cầu, triết học đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò này thể hiện ở hai chức năng cơ bản của nó: chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận.
Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay
(03/07/2018)
Chủ động xây dựng nền đạo đức mới là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay. Trong bài viết này, trên cơ sở phân tích một cách khách quan sự biến động của đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường, tác giả đã luận chứng một số giải pháp căn bản để tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong việc xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta. Những giải pháp đó là: 1/ Xác lập nhanh và vững chắc thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; 2/ Xây dựng hệ giá trị và chuẩn mực xã hội mới làm cơ sở đánh giá và điều chỉnh đạo đức; 3/ Chuyển hoá lý tưởng đạo đức thành thực tiễn đạo đức và 4/ Tăng cường nêu gương hình tượng nhân cách đạo đức.
Mấy suy nghĩ về việc đổi mới ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay Mấy suy nghĩ về việc đổi mới ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay
(03/07/2018)
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, vấn đề đổi mới và nâng cao ý thức pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra những thay đổi tích cực trong đời sống pháp luật. Để đổi mới ý thức pháp luật đó, cần phải có sự nghiên cứu chuyên sâu về phương diện lý luận, nhìn nhận ý thức pháp luật và vấn đề đổi mới nó từ góc độ triết học. Trong bài viết này, tác giả đã cố gắng luận giải tính tất yếu phải đổi mới ý thức pháp luật, những nội dung cần đổi mới và một số xu hướng đổi mới ý thức pháp luật ở nước ta hiện nay.
Giao tiếp liên văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa: Một số vấn đề triết học Giao tiếp liên văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa: Một số vấn đề triết học
(11/10/2018)
Trong bài viết này, tác giả tập trung làm sáng tỏ một số khía cạnh triết học của giao tiếp liên văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá trên cơ sở nhìn nhận những đóng góp và hạn chế của Wittgenstein đối với sự ra đời của triết học văn hoá. Những vấn đề triết học đó là: sự tương đồng trong tư duy và hành động của con người ở các nền văn hoá; tính đa dạng của các nền văn hoá, các thế giới quan và phương thức sống. Trên quan điểm mácxít, tác giả đã chỉ ra và phê phán những hạn chế trong quan niệm triết học của Wittgenstein; đồng thời đưa ra và luận giải những giải pháp để thực hiện giao tiếp liên văn hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
Bước ngoặt tinh thần trong triết học Bước ngoặt tinh thần trong triết học
(11/10/2018)
Trong bài viết này, tác giả cho rằng, chủ nghĩa nhân văn mới bắt nguồn từ sự tự nhận thức, vượt qua chủ nghĩa nhân văn thế tục của trí lực thời kỳ Khai sáng; rằng, chủ nghĩa nhân văn mới thể hiện tư tưởng về đạo đức phổ quát trong bối cảnh đa dạng văn hoá. Chân dung của đạo đức phổ quát chỉ có thể được phác hoạ thông qua sự đối thoại giữa các nền văn minh. Đối thoại là cách thức mang lại sự hiểu biết lẫn nhau và tạo nên cái mới của sự cùng chung sống. Tác giả khẳng định rằng, yếu tố quan trọng nhất của đối thoại văn minh là giao lưu tích hợp văn hoá. Theo đó, tầm nhìn con người vũ trụ hợp nhất được khơi nguồn từ chủ nghĩa nhân văn mới là một lối sống, một thế giới quan trong kỷ nguyên đầy hứa hẹn nhưng cũng không ít thách thức này.
Quan điểm của L.Phoiơbắc về văn hóa và con người Quan điểm của L.Phoiơbắc về văn hóa và con người
(17/09/2018)
L.Phoiơbắc đã xây dựng quan điểm về con người trong trường văn hoá trên cơ sở suy ngẫm và phê phán các di sản tư tưởng trước đó. Theo ông, ý chí, tư duy và cảm xúc là những năng lực cơ bản được chế định bởi chính bản chất của con người. Nguyên lý nhân bản được L.Phoiơbắc vận dụng vào học thuyết luân lý của mình. L.Phoiơbắc đã mở cửa cho tình yêu, cho cái thiện đi vào suy tư của ông về văn hoá và con người. Mặc dù còn có một số hạn chế, song khi xem xét con người và văn hoá dưới góc độ của nguyên lý nhân bản, L.Phoiơbắc đã có những đóng góp thực sự cho việc phát triển triết học văn hoá.
Cơ sở triết học phương Đông trong lý luận y học cổ truyền phương Đông về sức khỏe và bệnh tật Cơ sở triết học phương Đông trong lý luận y học cổ truyền phương Đông về sức khỏe và bệnh tật
(11/10/2018)
Dựa trên cơ sở của triết học phương Đông, đặc biệt là triết học Trung Quốc cổ đại, người phương Đông cổ xưa quan niệm về sức khoẻ và bệnh tật tương đối toàn diện. Họ coi sức khoẻ của con người không chỉ đơn thuần là sự cường tráng về thể chất mà còn là sự thoải mái cả về đời sống tinh thần. Từ việc chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới sức khoẻ và bệnh tật của con người như di truyền, môi trường tự nhiên, xã hội, các nhà lý luận y học cổ truyền phương Đông đã đưa ra những phương pháp chẩn đoán, điều trị, dự phòng bệnh tật và nâng cao sức khoẻ cho con người hết sức độc đáo và hữu hiệu mà cho đến nay vẫn còn giá trị. Vì vậy, việc nghiên cứu và kế thừa các tinh hoa của y học cổ truyền phương Đông trong quá trình phát triển nền y học nước nhà hiện này là điều cần thiết.
Một số nguyên tắc phương pháp luận căn bản của việc giải quyết mối quan hệ giữa hiện đại hóa xã hội và môi trường sinh thái
(10/10/2018)
Giải quyết mối quan hệ giữa hiện đại hoá xã hội và môi trường sinh thái hiện là một yêu cầu bức xúc trong quá trình phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Trong bài viết này, tác giả đã luận chứng một số nguyên tắc phương pháp luận căn bản để giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa hiện đại hoá xã hội và môi trường sinh thái. Các nguyên tắc đó là: thứ nhất, nguyên tắc thay đổi nhận thức; thứ hai, nguyên tắc lợi ích; thứ ba, nguyên tắc tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái; thứ tư, nguyên tắc công nghệ tiên tiến.
Phác thảo về kinh tế học sinh thái mácxít(*) Phác thảo về kinh tế học sinh thái mácxít(*)
(28/07/2018)
C.Mác là nhà lý luận tiên phong khẳng định rằng, con người nên tuân theo cách phát triển bền vững. Học thuyết của ông là học thuyết giải phóng con người và tự nhiên, làm thành giá trị và nguyên tắc cao nhất của kinh tế học sinh thái mácxít. Tác giả bài viết cho rằng, theo nghĩa rộng, kinh tế học sinh thái mácxít là khoa học vạch ra quy luật, cơ chế tổ chức thống nhất, sự vận động và phát triển của nó. Kinh tế học mácxít không có sự kết nối giữa lý luận kinh tế học và tư tưởng sinh thái của C.Mác, không làm rõ ý nghĩa của môi trường sinh thái tự nhiên đối với nền văn minh hiện đại, với sự phát triển kinh tế – xã hội của con người. Do vậy, xây dựng kinh tế học sinh thái mácxít mang đặc sắc Trung Quốc là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà nghiên cứu kinh tế mácxít Trung Quốc.
Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng Vai trò của các nguyên tắc, phạm trù lôgíc biện chứng đối với việc rèn luyện năng lực tư duy biện chứng
(11/09/2018)
Cùng với phép biện chứng và nhận thức luận mácxít, lôgíc biện chứng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc xây dựng, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng. Với tính cách một khoa học, lôgíc biện chứng có những nguyên tắc và phạm trù xác định. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích và góp phần làm rõ vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc, như nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử – cụ thể, nguyên tắc thực tiễn, cùng với các phạm trù lịch sử và lôgíc, cụ thể và trừu tượng của lôgíc biện chứng trong quá trình nhận thức; coi việc nắm vững và vận dụng thành thạo những nguyên tắc, phạm trù đó là điều kiện để rèn luyện, phát triển năng lực tư duy biện chứng.
Tư duy lôgíc - Bộ phận hợp thành của tư duy khoa học Tư duy lôgíc - Bộ phận hợp thành của tư duy khoa học
(28/07/2018)
Trong bài viết này, tác giả đã luận giải để làm rõ tư duy lôgíc là một bộ phận hợp thành của tư duy khoa học. Nói cách khác, về thực chất, tư duy khoa học chính là sự thống nhất giữa tư duy biện chứng và tư duy lôgíc; trong đó, tư duy biện chứng là phương pháp luận chỉ đạo, còn tư duy lôgíc là tổng hợp các thao tác lôgíc. Trên cơ sở luận chứng vai trò to lớn của tư duy lôgíc trong tư duy khoa học, tác giả khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc học tập lôgíc học – giúp con người không những nắm vững, mà còn rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo tư duy, nâng cao khả năng vận dụng các quy luật, quy tắc của lôgíc học vào hoạt động nhận thức cũng như vận dụng các tri thức vào hoạt động thực tiễn.

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007