Từ sự xướng hoạ giữa Lê Quý Đôn với sứ giả Triều Tiên, suy ngẫm về văn học đi sứ Đông Á Từ sự xướng hoạ giữa Lê Quý Đôn với sứ giả Triều Tiên, suy ngẫm về văn học đi sứ Đông Á
(18/11/2021)
Sau khi trình bày một cách vắn tắt nội dung xướng hoạ văn thơ giữa Lê Quý Đôn với đoàn sứ giả Triều Tiên - Hồng Khải Hy tại kinh đô nhà Thanh (Bắc Kinh) đời Càn Long năm thứ 26 (1760), tác giả đã trình bày những suy tư của mình về văn học đi sứ, về khả năng và triển vọng của việc nghiên cứu văn học đi sứ Đông Á, về vai trò của văn thơ chữ Hán với quan hệ ngoại giao giữa các nước trong khu vực này.
So sánh “tự giác văn học” của thi tăng Đinh, Lê, Lý với thi tăng Đường, Tống (phần hai). So sánh “tự giác văn học” của thi tăng Đinh, Lê, Lý với thi tăng Đường, Tống (phần hai).
(17/08/2021)
Trong phần thứ hai này, bài viết trình bày và phân tích “Tự giác văn học của thi tăng Đường, Tống Trung Quốc”. Theo tác giả, văn học của thi tăng Đường, Tống có sự tự giác cao độ. Trong đó, bài viết đi sâu vào hai vấn đề: 1) Bát nhã li văn tự tướng, văn tự vi ma sự (Trí tuệ Bát nhã tách rời khỏi chữ nghĩa, văn tự là việc ma chướng); 2) Không từ bỏ câu chữ, chữ nghĩa với Đạo không phải là hai thứ khác biệt. Theo tác giả, nếu đặc điểm của thi tăng Đinh, Lê, Lý là gắn liền với văn trị, thì đặc điểm của thi tăng Đường, Tống là phát triển độc lập với việc đế vương thiên hạ.
So sánh “tự giác văn học” của thi tăng Đinh, Lê, Lý với thi tăng Đường, Tống (phần một) So sánh “tự giác văn học” của thi tăng Đinh, Lê, Lý với thi tăng Đường, Tống (phần một)
(09/07/2021)
So sánh “tự giác văn học” của thi tăng Đinh, Lê, Lý với thi tăng Đường, Tống, trong phần thứ nhất này, trước hết bài viết đề cập tới “Nhân duyên văn học Phật giáo Việt Nam – Trung Quốc”. Theo tác giả, từ giữa thế kỷ VII, quan hệ giữa giới Phật giáo Trung Quốc và An Nam ngày càng mật thiết. Sự giao lưu văn hóa Phật giáo này không chỉ có ích cho việc học tập thơ Đường và thúc đẩy sự phát triển văn học cổ điền Việt Nam, mà còn góp phần làm nên công lao “văn trị” (dùng văn để giữ nước) và địa vị trọng yếu của thi tăng ba triều Đinh, Lê, Lý.
Thành tựu 60 năm nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc và triển vọng phát triển Thành tựu 60 năm nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc và triển vọng phát triển
(16/06/2021)
Trên cơ sở định nghĩa lại chủ nghĩa Mác, trong bài này, các tác giả đã trình bày một cách khái quát về những thành tựu mà giới nghiên cứu lý luận Trung Quốc đã đạt được trong việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác trên bốn phương diện: nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác; nghiên cứu lịch sử phát triển của chủ nghĩa Mác; nghiên cứu việc Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác và nghiên cứu chủ nghĩa Mác trên thế giới. Trong bài viết này, các tác giả còn đưa ra một số nhận định về triển vọng và tương lai phát triển của việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác tại Trung Quốc.
Vì sao Vì sao "cái khiến cho" và "cái phải là" thống nhất với nhau? (Từ cách Chu Hy giải quyết vấn đề tồn tại và giá trị xem xét sự giao nhau và khác nhau của triết học Đông - Tây) (tiếp theo)
(07/05/2021)
Trong phần thứ hai của bài viết, tác giả đã tập trung lý giải nhằm làm rõ vì sao "cái khiến cho" và "cái phải là" thống nhất với nhau. Theo tác giả, trong triết học của mình, Chu Hy không trộn lẫn "cái khiến cho" và "cái phải là" làm một, mà có phân tích hàm nghĩa không đồng nhất giữa chúng; đồng thời, ông cũng không đặt chúng đối lập với nhau, mà sử dụng phương thức độc đáo để chứng minh, làm rõ sự thống nhất của chúng.
Vì sao Vì sao "cái khiến cho" và "cái phải là" thống nhất với nhau (Từ cách Chu Hy giải quyết vấn đề tồn tại và giá trị xem sự giao nhau và khác nhau của triết học Đông - Tây).
(31/03/2021)
Trong triết học Chu Hy, các khái niệm “cái khiến cho” và “cái phải là” vừa có sự khác biệt, vừa có sự thống nhất với nhau. Để luận chứng sự thống nhất giữa “cái khiến cho” và “cái phải là”, một mặt tác giả đã trình bày các cách giải thích khác nhau hiện nay về khái niệm “Lý” trong triết học Chu Hy cũng như cách sử dụng nó. Mặt khác, tác giả phân tích cách giải thích và sử dụng Lý của Chu Hy. Cụ thể, Lý của Chu Tử có một số cách giải thích và hàm nghĩa sau: 1/ Là "cái khiến cho"; 2/ Là "cái phải là"; 3/ Là "lý tự nhiên"; 4/ Là "lý của sinh" hoặc "sinh sinh chi lý"; 5/ Là "tính lý"; 6/ Là cái "khiến cho nó như thế"; 7/ Là "đạo lý".
Giai cấp công nhân Trung Quốc –  một số vấn đề lý luận và thực tiễn Giai cấp công nhân Trung Quốc – một số vấn đề lý luận và thực tiễn
(16/02/2021)
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày sự phát triển về mặt nội hàm của khái niệm giai cấp công nhân, luận chứng tính tiên phong, sứ mệnh lịch sử và vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân Trung Quốc. Đồng thời, tác giả còn phân tích cấu trúc của giai cấp công nhân Trung Quốc hiện đại cũng như những biến động của nó trong thời gian qua trên các khía cạnh, như sự đa dạng trong phân bố, lợi ích, việc làm, giai tầng, thụ hưởng lợi nhuận và địa vị kinh tế, trình độ văn hóa và khoa học - kỹ thuật,…
Vận mệnh và tương lai của Nho giáo truyền thống ở Đông Á hiện nay Vận mệnh và tương lai của Nho giáo truyền thống ở Đông Á hiện nay
(18/01/2021)
Trong thế giới Đông Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam đều cùng một nền văn hoá Nho giáo. Ngoài ra, do sự di dân của người Trung Quốc, văn hoá Nho giáo cũng trở thành một thành phần chủ yếu trong văn hoá của Singapo và Malaixia. Bất kể vận mệnh của Nho giáo truyền thống đương đại tại các nước có sự khác biệt, giữa chúng có không ít điểm tương đồng, như đối mặt với sự xâm nhập của nền văn hoá phương Tây, đối mặt với sự hiện đại hoá, truyền thống bị thay đổi...
Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*) Ba sai lầm trong nghiên cứu triết học mácxít ở Trung Quốc hiện nay(*)
(17/09/2018)
Những năm gần đây, trong phong trào đổi mới triết học mácxít ở Trung Quốc, giới nghiên cứu triết học Trung Quốc đã phạm phải ba sai lầm cơ bản trong nghiên cứu triết học mácxít. Đó là, "Tâm thế phê phán sách giáo khoa" với một thái độ phi lịch sử; "Đòi hỏi tính học thuật" kiểu hình thức chủ nghĩa mà về thực chất là biến triết học mácxít thành lối học vấn mang tính hình thức suy diễn lôgíc thuần tuý, thành thứ "trò chơi trí tuệ" không có liên quan gì đến đời sống hiện thực; và "Mê tín giáo điều phương Tây" mà về thực chất là sử dụng các khái niệm hoặc lý luận triết học phương Tây để hoặc là lý giải, biện minh cho triết học mácxít, hoặc phê phán nó, hoặc là lấy những điểm giống nhau giữa triết học mácxít và triết học phương Tây để nói về tính hiện đại của triết học mácxít.
Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ Về xu thế chính trị hóa tôn giáo trong quá trình toàn cầu hóa tại Ấn Độ
(28/07/2018)
Chính trị hoá tôn giáo gồm rất nhiều vấn đề và là một quá trình phức tạp. Ở Ấn Độ, xu thế này nổi trội ở hai vấn đề: Thứ nhất, Ấn Độ hiện đang bước vào giai đoạn hậu thế tục hoá về chính trị và quyền lực các bang. Sức mạnh hùng hậu của BJP là một nhân tố lớn trong sự phát triển của Ấn Độ. Bên cạnh đó, trường phái thế tục của những người theo bước chân của J.Nehru cũng đang lớn mạnh và chính họ đã tạo ra cảm hứng và hy vọng không chỉ cho cộng đồng Hinđu giáo chiếm đa số mà cả những cộng đồng thiểu số như Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Thứ hai, đó là quá trình toàn cầu hoá với sự mở cửa và ảnh hưởng của nó tới Ấn Độ. Trong bài viết này, chúng tôi cũng đề cập tới một số nguyên nhân cơ bản khiến cho hiện tượng chính trị hoá tôn giáo tại Ấn Độ là không thể tránh khỏi và ngày càng phát triển mạnh mẽ với những thách thức không dễ gì có thể giải quyết.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007