Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi
(28/07/2018)
Hàn Phi (khoảng 280 – 233 TCN) là người tập đại thành tư tưởng Pháp gia. Ông đã tiếp thu điểm ưu trội của ba trường pháp “pháp”, “thuật”, “thế” để xây dựng và phát triển một hệ thống lý luận pháp trị tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ so với đương thời. Coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để đem lại hoà bình, ổn định và công bằng, Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng dùng luật pháp để trị nước. Ông đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng và thực thi pháp luật, như pháp luật phải nghiêm minh, không phân biệt sang hèn, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật... Với những tư tưởng đó, học thuyết của Hàn Phi được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương”.
Mấy ý kiến trao đổi về bài Mấy ý kiến trao đổi về bài "Mẫu người quân tử - Con người toàn thiện trong "Luận ngữ" của Khổng Tử"
(03/07/2018)
Mẫu người quân tử là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều. Tuy nhiên, sau khi đọc kỹ bài viết “Mẫu người quân tử – con người toàn thiện trong “Luận ngữ” của Khổng Tử” của tác giả Nguyễn Thị Kim Chung đăng trên Tạp chí Triết học, số 9, năm 2003, chúng tôi thấy cần thiết phải trao đổi với tác giả về một số vấn đề. Đó là, thứ nhất, về khái niệm mẫu người quân tử; thứ hai, về bản tính con người và đạo của người quân tử; thứ ba, nhận định của tác giả về tư tưởng Khổng Tử.
Bàn thêm về Bàn thêm về "Vô" và mối quan hệ giữa "Hữu" và "Vô" trong "Đạo đức kinh"
(09/05/2018)
Từ trước tới nay, Vô trong Đạo đức kinh của Lão Tử thường được hiểu theo hai cách khác nhau. Có quan niệm coi Vô là “hư vô”, là hoàn toàn không có gì và do đó, Vô, Hữu là hai yếu tố đối lập tuyệt đối với nhau; quan niệm khác, ngược lại, cho rằng, Vô không phải là hư vô như nhiều người hiểu. Trong bài viết này, tôi đồng ý với quan niệm của tác giả Hoàng Ngọc Hiến khi coi Vô là thực tại. Cái Vô - thực tại đó cũng là Đạo tự nhiên, là cội nguồn của vạn vật. Tuy nhiên, theo tôi, Vô còn có thể được hiểu theo nghĩa là một trong hai mặt đối lập của Đạo, là bộ phận cấu thành vạn vật, là cái làm cho sự là nó.
Tư tưởng biện chứng trong Chu dịch Tư tưởng biện chứng trong Chu dịch
(24/04/2018)
Chu Dịch là cuốn sách của người Trung Quốc ra đời cách đây 2500 năm, có ý nghĩa triết học sâu sắc. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập tới tư tưởng biện chứng của tác phẩm, thông qua quan niệm của người xưa về sự vận động và phát triển; về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng; về mâu thuẫn; về sự phủ định… Những quan niệm này đã thể hiện trình độ tư duy biện chứng của người Trung Quốc cổ đại. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử – xã hội và cả phương thức tư duy nên tư tưởng biện chứng được thể hiện trong Chu dịch vẫn còn có những hạn chế nhất định.
Về việc nghiên cứu và ứng dụng Nho giáo, Đạo giáo ở Trung Quốc hiện nay Về việc nghiên cứu và ứng dụng Nho giáo, Đạo giáo ở Trung Quốc hiện nay
(04/04/2018)
Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay, việc kế thừa văn hoá truyền thống, đặc biệt là văn hoá Nho - Đạo có một giá trị xã hội vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước và xây dựng nền văn minh tinh thần đương đại. Với quan niệm đó, họ đã khai thác các giá trị của Nho - Đạo ở nhiều lĩnh vực mà trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến một số lĩnh vực, như Trí tuệ sinh thái của Đạo gia và bảo vệ môi trường, văn hoá Đạo gia và sự phát triển khoa học hiện đại; Ý nghĩa hiện đại của Triết học nhân sinh của Đạo gia; trí tuệ Nho gia và công tác đào tạo “Nho thương hiện đại”; tính hai mặt của chữ “Hiếu” và giá trị xã hội của nó. Những nghiên cứu này đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội và trở thành xu thế phát triển của học thuật Trung Quốc thời nay.
Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo Về khái niệm Niết bàn trong Phật giáo
(23/03/2018)
Niết bàn là khái niệm thể hiện triết lý độc đáo về giải thoát của Phật giáo. Đây là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, giải thoát khỏi mọi đau khổ của cuộc đời. Trạng thái này có thể đạt được khi còn đang sống (Hữu dư Niết bàn) hoặc khi đã chết (Vô dư Niết bàn). Phật giáo Tiểu thừa hướng tới Vô dư Niết bàn - một Niết bàn tịch diệt, cô đơn, từ bỏ mọi thú vui trần thế. Phật giáo Đại thừa lại hướng tới Hữu dư Niết bàn - một Niết bàn nhân bản, nhập thế và hoạt động cùng những buồn vui nhân thế. Quan niệm này đã mang lại một sức hấp dẫn, sức sống mới cho Phật giáo, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.
Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử Tư tưởng dân bản trong học thuyết nhân chính của Mạnh Tử
(02/02/2018)
Nội dung xuyên suốt học thuyết Nhân chính của Mạnh Tử là tư tưởng Dân bản - tư tưởng lấy dân làm gốc. Đối với Mạnh Tử, nhân nghĩa là cơ sở để trị nước, bình thiên hạ và điều chỉnh quan hệ xã hội; đồng thời, là điểm xuất phát để xây dựng tư tưởng Dân bản. Ông luôn nhấn mạnh, đề cao vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định của dân đối với sự thịnh suy của đất nước; đòi hỏi nhà cầm quyền phải thi hành nền chính trị nhân nghĩa nhằm thu phục nhân tâm. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra những tư tưởng có giá trị nhân văn sâu sắc về khoan dân, bảo dân,…; đồng thời, nhấn mạnh sự cần thiết phải tu thân, dưỡng tính của con người. Có thể nói, cho đến nay, tư tưởng dân bản của Mạnh Tử vẫn còn ý nghĩa và giá trị thiết thực.
Quan niệm về tính người của Nho giáo nhìn từ góc độ triết học Quan niệm về tính người của Nho giáo nhìn từ góc độ triết học
(22/01/2018)
Vấn đề tính người thiện hay ác trong Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo thời Tiên Tần, được xem xét, bàn luận rất khác nhau. Luận điểm “tính tương cận dã, tập tương viễn dã” của Khổng Tử gây nhiều tranh luận hơn cả. Song, có thể thấy rằng, mệnh đề này mang tính mở, làm tiền đề cho các quan điểm khác về cùng vấn đề. Mạnh Tử và Tuân Tử lại có những thuyết cơ hồ trái ngược nhau về tính người nhưng nhìn chung, tư tưởng của các ông cũng có ảnh hưởng nhất định tới các Nho gia sau này.
Vấn đề bản thể luận trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn Vấn đề bản thể luận trong Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn
(16/01/2018)
Lê Quý Đôn (1726 - 1783) là nhà tư tưởng lớn của nước ta ở thế kỷ XVIII. Trong sự nghiệp nghiên cứu và sáng tạo của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm quý giá, trong đó có Vân đài loại ngữ. Vấn đề bản thể luận trong tác phẩm này được ông trình bày qua phạm trù Lý - Khí, những phạm trù chủ yếu của Tống Nho. Song, do ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa, lại được thôi thúc bởi khuynh hướng “tam giáo đồng nguyên” đương thời, nên tư tưởng của ông cũng có nhiều điểm khác biệt so với Tống Nho.
Về con đường hội nhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản Về con đường hội nhập và phát triển của Phật giáo ở Nhật Bản
(10/01/2018)
Phật giáo khi du nhập vào Nhật Bản đã trở thành một trong những yếu tố tạo nên nét đẹp trong văn hoá Nhật Bản. Tư tưởng cơ bản nhất của nó là nguyên tắc siêu nghiệm và phủ nhận thế giới hiện thực khách quan, mục tiêu chủ đạo là “cứu nhân độ thế”. Cùng với thời gian, Phật giáo Nhật Bản có những thay đổi lớn lao. Nhờ sự mở rộng phạm vi hoạt động của các tín đồ, Phật giáo có điều kiện thuận lợi để thẩm thấu, hoà trộn vào đời sống của nhân dân và có khả năng thích ứng với những biến đổi của thời đại. Trong quá trình hội nhập và phát triển, Phật giáo ở Nhật Bản đã thiết lập được mối quan hệ thân thiện với các tôn giáo khác, và do vậy, nó dễ được người dân nơi đây chấp nhận.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007