Về lý luận và thực tiễn xây dựng xã hội Về lý luận và thực tiễn xây dựng xã hội
(25/01/2016)
Đưa ra khái niệm “xây dựng xã hội” là một trong hai cống hiến lý luận to lớn và quan trọng của Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 4 Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVI năm 2004. Bài viết này bước đầu phân tích khái niệm xây dựng xã hội và chủ thể, nguyên tắc, mục tiêu, điều kiện, cơ chế thực hiện… của xây dựng xã hội, đồng thời làm rõ một số nội dung chủ yếu trong xây dựng xã hội: sự hình thành và điều chỉnh kết cấu xã hội, xây dựng cơ chế chuyển dịch xã hội, xây dựng tổ chức xã hội, xây dựng cơ chế điều hòa quan hệ lợi ích giữa các giai cấp xã hội, xây dựng lĩnh vực sự nghiệp xã hội, xây dựng thể chế an sinh xã hội, cơ chế quản lý xã hội… Theo tác giả, muốn thay đổi tình trạng xây dựng và phát triển xã hội đi sau xây dựng và phát triển kinh tế, làm cho kinh tế và xã hội phát triển hài hòa, cần phải nắm chắc sự nghiệp xây dựng xã hội, giống như nắm chắc sự nghiệp xây dựng kinh tế.
Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng dân sinh của Tôn Trung Sơn Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng dân sinh của Tôn Trung Sơn
(25/01/2016)
Dân sinh là một trong những tư tưởng nổi bật trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Để làm rõ những giá trị trong tư tưởng dân sinh, tác giả bài viết đã tập trung phân tích một số nội dung cơ bản nhất - đó là: 1/ Mưu cầu dân sinh là nguồn gốc của tiến hoá lịch sử; 2/ Các nhu cầu sống của con người (ăn, mặc, ở và đi lại) là vấn đề cơ bản của dân sinh; 3/ Giảm bớt sự bất công và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn sự bất công là hai cấp độ trong việc giải quyết vấn đề dân sinh; 4/ Thế giới đại đồng - lý tưởng của chủ nghĩa dân sinh. Theo tác giả, tuy còn có những hạn chế nhất định, song chủ nghĩa dân sinh của Tôn Trung Sơn chứa đựng nhiều yếu tố có giá trị cần được trân trọng, khai thác và phát huy.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử và vấn đề Trung Quốc đương đại Chủ nghĩa duy vật lịch sử và vấn đề Trung Quốc đương đại
(25/01/2016)
Trong bài viết này, tác giả đã luận giải mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật lịch sử với thực tiễn cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, nhằm thúc đẩy quá trình Trung Quốc hoá chủ nghĩa Mác. Trong đó, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: thứ nhất, vấn đề là cách ngôn và tiếng gọi của thời đại; hai là, Trung Quốc hoá chủ nghĩa Mác thông qua việc giải quyết các vấn đề bức thiết hiện nay của Trung Quốc; thứ ba, làm rõ tính chất song trùng của vấn đề thực tế mà Trung Quốc hiện đang gặp phải.
Chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hóa chú giải học(*) (Tiếp theo) Chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hóa chú giải học(*) (Tiếp theo)
(11/01/2016)
Tiếp tục mạch vấn đề đã được trình bày trong bài đăng kỳ trước, trong bài viết này, tác giả đã phân tích vấn đề tính hợp lý của chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hoá chú giải học. Theo tác giả, việc có hay không tồn tại “chú giải học Trung Quốc” trong lịch sử là vấn đề còn được tranh luận sôi nổi. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, như tác giả khẳng định, là làm thế nào để “chú giải học Trung Quốc” được hiện đại hoá để có thể giao lưu và đối thoại với chú giải học phương Tây.
Chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hóa chú giải học(*) (Kỳ 1) Chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hóa chú giải học(*) (Kỳ 1)
(09/01/2016)
Chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hoá chú giải học là những vấn đề lý luận hiện đang được giới nghiên cứu triết học Trung Quốc quan tâm. Để bày tỏ quan điểm của mình, tác giả bài viết đã phân tích một số vấn đề đặt ra xoay quanh chú giải học Trung Quốc và Trung Quốc hoá chú giải học, phân tích đề án nghiên cứu Trung Quốc hoá chú giải học và những tâm lý văn hoá sau đề án đó. Đặc biệt, tác giả đã luận giải về tính khả thi của việc sáng tạo “chú giải học Trung Quốc”, trong đó khẳng định việc sáng tạo “chú giải học Trung Quốc” là cần thiết, nhưng nếu coi “kinh học” là chú giải học Trung Quốc hay hình thái nguyên sơ của nó lại là không hiện thực, khiên cưỡng và gò ép.
Triết học hướng vào các vấn đề Trung Quốc Triết học hướng vào các vấn đề Trung Quốc
(25/11/2015)
Bài viết đã luận chứng để làm rõ rằng, đòi hỏi cơ bản nhất của triết học Mác là hướng tới đời sống hiện thực cụ thể, phát hiện trong đó những vấn đề khó khăn cần giải quyết. Theo tác giả, để cung cấp cho các hoạt động thực tiễn của con người sự suy tư về các lý tưởng và mục tiêu, triết học cần nghiên cứu hiện thực, đứng vững trên hiện thực và vượt lên trên hiện thực, phải trình bày về lý tưởng và “giá trị/tốt”. Những nghiên cứu triết học của Trung Quốc phải hướng vào các vấn đề của Trung Quốc. Triết học sẽ không có sức sống nếu nó không hướng tới nghiên cứu các vấn đề hiện thực. Theo đó, có hai yêu cầu quan trọng trong sáng tạo triết học, đó là cảm thụ sâu sắc hiện thực và nắm sâu sắc hiện thực.
Thiền trong kinh văn nguyên thủy của Phật giáo Thiền trong kinh văn nguyên thủy của Phật giáo
(25/11/2015)
Trong bài viết này, tác giả trình bày nội dung và ý nghĩa của Thiền Phật giáo trong một số tác phẩm tiêu biểu của Phật giáo. Qua đó, một mặt, tác giả khẳng định sự hiện diện của Thiền trong kinh điển Phật giáo; mặt khác, tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa Thiền Phật giáo và Thiền trong Yoga của Bàlamôn giáo. Cuối cùng, tác giả khẳng định giá trị lịch sử cũng như giá trị hiện đại của Thiền.
Từ tư tưởng Từ tư tưởng "nhân nghĩa" đến đường lối "nhân chính" trong học thuyết chính trị - xã hội của Mạnh Tử
(24/11/2015)
Dựa trên nền tảng đức “nhân” của Khổng Tử, Mạnh Tử đã chủ trương hiện thực hoá đức “nhân” trong xã hội, xây dựng nên tư tưởng “nhân nghĩa” và vận dụng tư tưởng đó vào hiện thực xã hội. Theo Mạnh Tử, “nhân nghĩa” là phẩm chất cần thiết cho tất cả mọi người và khi nó được ứng dụng vào việc trị nước sẽ trở thành “nhân chính”. Có thể nói, khi đi từ tư tưởng “nhân nghĩa” đến đường lối “nhân chính”, Mạnh Tử đã làm cho đạo đức hoá thân vào chính trị, làm cho tư tưởng đức trị trở nên sâu sắc hơn, có ý nghĩa hơn đối với xã hội Trung Quốc đương thời.
Phản biện tính hiệu quả từ luận đề "Những hình ảnh của nước" (Hay là yêu cầu cần phân biệt đặc điểm và giá trị của minh triết phương Đông)
(24/11/2015)
Thông qua những so sánh đối chiếu của F.Jullien trong tác phẩm Bàn về tính hiệu quả, tác giả đã đi đến phân tích luận đề “những hình ảnh của nước” với tư cách hình ảnh đặc sắc phản ánh tư tưởng của Lão Tử. Lão Tử đã xem xét một phẩm chất của nước – “bất tranh” và từ đó khái quát thành quan điểm nhân sinh, thành phẩm chất ứng xử được coi là đặc trưng của tâm thức phương Đông – “vi vô vi”. Theo tác giả, quan điểm nhân sinh này thiên về khái quát đặc điểm kinh nghiệm, ứng xử hơn là định hướng tiến bộ xã hội, nên khó có thể coi là giá trị.
Về quan điểm và tiêu chuẩn thực tiễn(*) Về quan điểm và tiêu chuẩn thực tiễn(*)
(23/11/2015)
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích và luận chứng để làm rõ rằng, quan điểm thực tiễn là quan điểm cơ bản và quan trọng nhất trong triết học Mác. Nêu ra quan điểm thực tiễn cũng chính là nêu ra nhận thức luận, giá trị luận và phương pháp luận đúng đắn. Trên cơ sở khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn và là con đường duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, tác giả nhấn mạnh rằng, trong quá trình kiên trì và vận dụng lý luận, cần thường xuyên nghiên cứu tình hình mới, vấn đề mới, thông qua sự tổng kết, khái quát thực tiễn mới để bổ sung, làm phong phú và phát triển thêm lý luận, thúc đẩy sự phát triển của lý luận.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007