Một số suy nghĩ về nghiên cứu triết học ở Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay Một số suy nghĩ về nghiên cứu triết học ở Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay
(11/10/2018)
Trên cơ sở trình bày những thành tựu chủ yếu và vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu triết học ở Việt Nam, tác giả tập trung phân tích vai trò và những định hướng nghiên cứu lớn của nghiên cứu triết học ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá. Ba định hướng lớn được tác giả tập trung phân tích là: thứ nhất, nếu như các nhà triết học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu những vấn đề do toàn cầu hoá đặt ra, tức là phản tư những vấn đề thế giới hay vấn đề toàn cầu, thì triết học Việt Nam phải tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thứ hai, nghiên cứu những tư tưởng triết học Việt Nam; thứ ba, nghiên cứu những trào lưu và những tư tưởng, những quan điểm triết học của các nhà triết học tiêu biểu trên thế giới cả phương Đông lẫn phương Tây; trước hết là những trào lưu, những tư tuởng và quan điểm triết học có ảnh hưởng nhiều hơn đến Việt Nam.
Triết học Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế Triết học Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế
(11/10/2018)
Trong bài viết này, tác giả khẳng định rằng, trong lịch sử, Việt Nam đã có triết học của mình, thể hiện tập trung ở hai vấn đề: tư tưởng triết học về số phận của cá nhân con người và tư tưởng triết học về số phận của đất nước. Đó cũng là sắc thái tư duy triết học đặc thù của Việt Nam. Mặt khác, tác giả cũng luận chứng để cho thấy rằng, trước đây, triết học Việt Nam ít nhiều đã có sự giao lưu với bên ngoài; ngày nay, mở cửa và hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, vừa là thách thức mới đối với sự phát triển của triết học Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, việc nhận thức lại tư duy truyền thống và lựa chọn, kế thừa những giá trị trong tư duy triết học của thế giới là điều kiện để có sự hội nhập tích cực.
Tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
(10/10/2018)
Trên cơ sở phân tích sự phát triển của tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX, tác giả đưa ra một số nhận xét cơ bản sau: thứ nhất, tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX chịu sự quy định của những điều kiện vật chất xã hội mang tính lịch sử – cụ thể; thứ hai, sự tiếp nhận triết học Mác - Lênin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; thứ ba, sự phát triển tư tưởng triết học dân tộc giai đoạn này là một quá trình tiếp biến biện chứng; thứ tư, nội dung chủ đạo của tư tưởng triết học Việt Nam đầu thế kỷ XX là vấn đề độc lập dân tộc và dân chủ xã hội; thứ năm, hình thái biểu hiện của nó mang tính tổng hợp.
Triết học, đạo đức và tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa Triết học, đạo đức và tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
(17/09/2018)
Triết học Việt Nam tồn tại và phát triển trên cơ sở vừa khẳng định bản sắc dân tộc của mình, vừa tiếp thu mọi giá trị tích cực của các dân tộc khác. Theo tác giả, ở Việt Nam, yêu thương không những là một tình cảm tự nhiên, mà còn là một điều kiện để tồn tại, là lẽ sống bền vững và là hạnh phúc lớn nhất của con người. Chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện rõ rệt nhất của tính cộng đồng Việt Nam; đồng thời, là cốt lõi của mọi tư duy triết học, là tiêu chuẩn cao nhất trong đạo đức, là điều thiêng liêng nhất trong mọi tôn giáo ở Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá cũng như sự mở rộng quan hệ giao lưu, đối thoại giữa các nền văn minh và trào lưu triết học trên toàn thế giới, việc phấn đấu cho thế giới được sống trong hoà bình, hữu nghị, cho các dân tộc được phồn vinh và hạnh phúc là mục tiêu cao nhất, có ý nghĩa sâu sắc của triết học.
Triết học có thể đóng vai trò gì trong cuộc sống? Triết học có thể đóng vai trò gì trong cuộc sống?
(12/09/2018)
Trong bài này, tác giả đề cập đến hai thái cực trái ngược nhau khi đánh giá vai trò của triết học trong cuộc sống. Thái cực thứ nhất coi thường vai trò của triết học vì cho rằng: 1) Triết học nghiên cứu và giải quyết những vấn đề quá chung nên những kết quả nghiên cứu của nó không có tác dụng thiết thực gì hết; 2) Triết học không có phương pháp và trang thiết bị nghiên cứu riêng của mình như của khoa học tự nhiên nên tính chân lý của các kết quả nghiên cứu triết học không được bảo đảm. Thái cực thứ hai, ngược lại, lại tuyệt đối hoá vai trò của triết học, cho rằng chỉ cần nắm được triết học thì sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề cụ thể của cuộc sống. Tác giả đã luận chứng cho quan điểm, theo đó, cả hai thái cực trên đều sai lầm vì để giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cụ thể của cuộc sống, cần kết hợp chặt chẽ cả hai loại tri thức: 1/ Tri thức chung (trong đó có tri thức triết học và tri thức khoa học chuyên ngành) và tri thức thực tiễn (trong đó có sự hiểu biết tình hình thực tiễn và trình độ tay nghề được biểu hiện qua sự nhạy cảm thực tiễn).
Sự phát triển của Nho giáo thời kỳ Lý - Trần Sự phát triển của Nho giáo thời kỳ Lý - Trần
(28/07/2018)
Để làm rõ quá trình phát triển của Nho giáo với tư cách học thuyết chính trị – đạo đức trong thời kỳ Lý – Trần, trong bài viết này, các tác giả đã đưa ra và luận giải: 1. Những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá, giáo dục ở thời kỳ Lý – Trần; 2. Quan niệm của vua, quan thời Lý – Trần về đạo trị nước, yên dân của Nho giáo; 3. Tư tưởng về “Trời” và “mệnh Trời” của Hán Nho và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội Việt Nam thời Lý – Trần; 4. Các Nho sĩ Việt Nam thời Lý – Trần vận dụng các phạm trù đạo đức Nho giáo trong lĩnh vực chính trị và xây dựng các chuẩn mực đạo đức; 5. Quá trình hình thành, phát triển và vị trí chủ đạo của giáo dục Nho học trong nền giáo dục đất nước thời Lý – Trần.
Quá trình chuyển biến tư tưởng ở Huỳnh Thúc Kháng Quá trình chuyển biến tư tưởng ở Huỳnh Thúc Kháng
(03/07/2018)
Xuất thân khoa bảng, đỗ đạt cao, nhưng Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) có một cái nhìn khá mới mẻ với thời cuộc. Ông tiếp thu tư tưởng yêu nước của các nhà Nho trong lịch sử, song cũng đi tìm cái mới, cái tiến bộ trong các học giả yêu nước của Trung Quốc, trong lịch sử duy tân tự cường của Nhật Bản, trong văn hoá tư sản phương Tây. Quá trình thành lập và hoạt động trong phong trào Duy Tân, làm Viện trưởng Viện Nhân dân đại biểu, chủ bút báo Tiếng Dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó chủ tịch liên hiệp kháng chiến, Chủ tịch Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam là quá trình Huỳnh Thúc Kháng luôn đi tìm cái mới, những giá trị mới để mang lại độc lập, tự do, dân chủ cho dân. Mặc dù sự phát triển tư tưởng ở Huỳnh Thúc Kháng cũng chứa đựng những mâu thuẫn, nhưng ông đã vượt lên những mâu thuẫn đó để có thể tiến kịp tư tưởng thời đại. Đó là điểm khá nổi bật và khác biệt trong tư tưởng của ông.
Mấy vấn đề Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XVI và XVII Mấy vấn đề Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XVI và XVII
(09/05/2018)
Thế kỷ XVI và XVII là thời đầy biến động của xã hội Việt Nam. Chiến tranh xảy ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến, từ cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc cho đến Trịnh – Nguyễn, làm đảo lộn đời sống xã hội. Nho giáo, mặc dù trước đó có ảnh hưởng rất lớn ở Việt Nam nhưng lúc này, đã bộc lộ những hạn chế, dần mất vị trí của mình, tạo điều kiện cho sự phát triển Phật giáo, Đạo giáo… Tuy nhiên, suốt từ thời Mạc cho đến Lê trung hưng, Phật giáo, Đạo giáo hay bất cứ một tôn giáo nào khác cũng vẫn không thay thế được Nho giáo ở cương vị của một đạo trị nước, một học thuyết về quản lý xã hội. Điều đó lý giải cho sự tồn tại của Nho giáo trong xã hội phong kiến ở nước ta.
Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục con người Tư tưởng của Ngô Thì Nhậm về con người và giáo dục con người
(04/04/2018)
Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) là nhà tư tưởng tiêu biểu của lịch sử dân tộc, với những đóng góp về mặt triết học, chính trị học, quân sự học,  văn học, giáo dục… Trong đó, vấn đề con người được ông quan tâm trước hết. Ông tiếp cận vấn đề con người và bản tính con người vừa trên cơ sở “thiên tính tự nhiên” vừa trong những mối quan hệ xã hội phức tạp. Đặc biệt, ông chỉ ra vai trò to lớn của điều kiện kinh tế và giáo dục đối với sự hình thành và thay đổi bản tính con người. Nhận thức được tính quy luật của sự phát triển xã hội, Ngô Thì Nhậm có những tư tưởng mang tính chất chiến lược về giáo dục và trọng dụng hiền tài. Với những đóng góp của mình, ông “mãi mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam, làm vẻ vang cho giống nòi”.
Biện chứng của tư duy dung hòa trong văn hóa - tôn giáo Việt Nam: Lịch sử và hiện tại Biện chứng của tư duy dung hòa trong văn hóa - tôn giáo Việt Nam: Lịch sử và hiện tại
(23/03/2018)
Tư tưởng dung hoà như một nguyên tắc tồn tại của người Việt Nam được hình thành từ rất sớm trong lịch sử và ngày càng được bổ sung thêm nhiều nội dung mới theo tiến trình phát triển của dân tộc. Tư tưởng này bao gồm các nội dung: hoà hợp với tự nhiên; dung hoà với xã hội; dung hoà với con người. Tư tưởng dung hoà vận động trong suốt lịch sử cổ-trung đại Việt Nam đã tạo ra một diện mạo văn hoá Việt, làm nên một tổng thể các yếu tố văn hoá - tôn giáo (Nho - Đạo – Phật và các yếu tố bản địa) khi được bổ sung thêm những giá trị nhân văn mới mẻ, tiến bộ của phương Tây thời cận, hiện đại. Tuy có giai đoạn tư tưởng dung hoà bị lãng quên hay bỏ qua, gây nên những hệ quả tiêu cực về văn hoá- xã hội, nhưng sự tự nhận thức, điều chỉnh và ứng dụng nguyên tắc này trên tinh thần thời đại, phù hợp với thực thể văn hoá - xã hội của người Việt vẫn luôn được giới tinh hoa coi như  chiếc chìa khoá vàng cho sự phát triển văn hoá của dân tộc.
Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007