Tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm về tự nhiên và cách ứng xử của con người với tự nhiên

29/04/2022

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tư tưởng lớn trong lịch sử Việt Nam thời trung đại. Tư tưởng của ông phản ánh sâu sắc nhiều phương diện của đời sống xã hội. Bài viết phân tích nội dung tư tưởng triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm về tự nhiên, trong đó tập trung vào vấn đề nhận thức tự nhiên trong mối quan hệ với con người và phương cách ứng xử của con người đối với tự nhiên. Chúng tôi hy vọng bài viết góp phần bổ sung nội dung nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm từ bình diện triết học mà lâu nay còn ít được quan tâm.

 

1. Nhận thức về tự nhiên trong mối quan hệ với con người

Trong tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, “tự nhiên” thường được gọi là trời (thiên), trời đất (thiên địa), hoặc có khi là toàn bộ các sự vật, hiện tượng thuộc về trời đất, sông núi, cây cỏ, muông thú,... nói chung là tất cả những gì tồn tại xung quanh con người mà không mang tính xã hội. Nói cách khác, ở ông, tự nhiên được hiểu theo theo hai nghĩa: (1) Những lực lượng tự nhiên mà từ đó con người được sinh ra, nên con người cần nhận thức và tuân theo những “phép tắc” (quy luật) của nó, được phản ánh thông qua các khái niệm: Thiên địa, càn khôn, thiên nhân, thiên đạo, thiên cơ, thiên công, tạo hóa, lý, khí, âm dương,..; (2) Những lực lượng siêu nhiên, thần bí, quy định số phận của con người, được phản ánh thông qua các khái niệm: Mệnh trời (thiên mệnh), ý trời (thiên ý), mệnh, số, số mệnh,...

1.1. Tự nhiên có tính quy luật (đạo trời)

Với quan niệm về tự nhiên theo nghĩa thứ nhất, Nguyễn Bỉnh Khiêm coi trời là có tính quy luật (còn gọi là đạo trời). Theo đó, đạo trời biểu hiện sự vận động, biến đổi, sinh sôi nảy nở một cách khách quan của muôn vật và con người trong trời đất. Điều này được ông lý giải như sau: “Còn sống ở đời muốn biết cơ mầu của trời, hãy xem cây mai lạnh nở, để nghiệm thấy khí dương lại sinh ra” (Sinh sinh dục thức thiên cơ diệu/ Nhận đắc hàn mai nghiệm nhất dương)(1); “Ai biết sau cảnh tiêu sơ như mùa thu mùa đông, lại là ánh dương xuân, một trời thái hòa” (Thùy tri túc sái thu đông hậu/ Hựu thị dương xuân nhất thái hòa); “Vận chuyển đất trời tự có công lao thần kỳ ở trong đó, đã rải khí dương hòa khắp nơi nơi” (Toàn càn tự hữu thần công tại/ Dĩ bố dương hòa mãn tế bàn)(2)...

Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong tự nhiên, con người cũng như muôn vật, luôn vận động, chuyển hóa theo quy luật. Với ông, “muôn vật trong trời đất đều thống nhất về một nguyên lý sinh trưởng tự nhiên, trong mưa nắng, vạn vật đều đua nhau tươi đẹp” (Vật vật vô quy, trưởng dưỡng thiên/ Vũ dương vạn vật đấu tiên nghiên)(3). Ông quan niệm trong mỗi sự vật đều có các mặt đối lập tác động biện chứng với nhau theo cách: Chẵn có lẻ; dương có âm; đầy có vơi; lúc sinh sôi, lúc tiêu tan; khi tăng lên, khi giảm đi; lúc yên tĩnh, khi vận động,... và coi đó như luật thừa trừ (Cơ ngẫu tòng lai doanh hựu hư/ Âm dương tiêu tức nghiệm thừa trừ)(4). Sự chuyển hóa qua các mặt đối lập như giữa đầy (“doanh mãn”) và vơi (“tổn”) được thể hiện liên tục trong sự vật, hiện tượng. Ông viết: “Thửa nay doanh mãn là nơi tổn” (Thơ Nôm, bài 9) hay “Trời đất vốn là đầy, lại là vơi/ Bỗng vào mà lại bỗng ra” (Thiên địa bản doanh hư/ Bộ nhập diệc bội xuất)(5). Sự vận động, chuyển hóa đó được ông ví như “khí số và vận hội có lúc lên lúc xuống, có lúc trị lúc loạn, lúc thịnh lúc suy” (Khí vận hữu thăng giáng, lý loạn thị tiêu tức)(6). Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thừa nhận sự chuyển hóa thông qua các mặt đối lập là một hình thức của sự phát triển, là điều kiện để sự vật này chuyển thành sự vật khác. ở đó có những yếu tố biện chứng hợp lý, nhưng hạn chế của ông là không thấy được điều kiện của sự chuyển hóa và còn coi sự phát triển theo lẽ tuần hoàn (“Thế sự tuần hoàn hay đắp đổi” – Thơ Nôm, bài 44). Nhận xét về vấn đề này, tác giả Nguyễn Tài Thư cho rằng, “quan niệm phát triển của ông còn đơn giản, còn gói gọn trong “một lý” của Kinh Dịch, còn quy lại trong hình vẽ của thái cự đồ”(7). Mặc dù vậy, lý giải về sự vận động, phát triển của tự nhiên cũng đã chứng tỏ ông có tư duy triết học sâu sắc so với người đương thời trên cơ sở chứng nghiệm tự nhiên từ kinh điển Nho gia và Dịch học. Điều này cũng góp phần vào việc khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà Lý học(8).

Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, để có thể nhận thức được tự nhiên sâu sắc, đòi hỏi con người phải đạt tới sự khôn ngoan và nhất định phải thông qua sự chiêm nghiệm về các mặt đối lập. Ông nói: “Khôn ngoan mới biết thăng thì giáng/ Dại dột nào hay tiểu có dài/ Đã khuất bao nhiêu thì lại duỗi/ Đạo trời lồng lộng chẳng nào sai” (Thơ Nôm, bài 2). Để hiểu được một mặt nào đó của tự nhiên, con người cần thiết phải lấy mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề: “Lấy thuở dương mà biết thuở âm” (Thơ Nôm, bài 119). Còn nữa, để nhận thức tự nhiên với tư cách điều kiện sống của con người, theo Nguyễn Bỉnh Khiêm, điều đó không phải dễ dàng. Bởi vì, “đạo lớn cao siêu cũng như lẽ tạo hóa, khó mà nói ra được” (Chí đạo nan ngôn đồng tạo hóa)(9).

Nguồn: Internet

Từ quan niệm tự nhiên có tính quy luật, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói về sự sinh thành con người trong mối quan hệ khăng khít với tự nhiên. ảnh hưởng sâu sắc của Kinh Dịch và Tống Nho, ông coi con người được sinh ra là do sự kết tập tinh khí giữa trời và đất ngay từ khi Thái cực mới được tạo lập. Ông viết: “Thái cực từ lúc mới tạo lập đã phân chia, thiên địa nhân đã ổn định vị trí của chúng. Nhẹ và trong bốc lên là trời, nặng và đục lắng xuống là đất. ở giữa kết tập lại thành người, bẩm thụ cùng một khí chất” (Thái cực sơ triệu phân/ Tam tài định quyết vị/ Khinh thanh thượng vi thiên/ Trọng trọc hạ vi địa/ Trung tập nhi vi nhân/ Bẩm thụ thị nhất khí)(10). ở đây, có thể thấy giá trị tư tưởng mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nêu lên chính là sự khẳng định con người là tinh hoa của trời đất, ở trong vị trí trung tâm của vũ trụ và khí chất mà con người có được là kết quả của một quá trình “bẩm thụ” lâu dài của tạo hóa. Quan niệm này cũng cho thấy, “xét về nguồn gốc khởi thủy, con người có chung yếu tố với các bộ phận cấu thành vũ trụ là khí. Mọi hoạt động của con người đều chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, tức là sự vận động, biến đổi không ngừng của âm dương – ngũ hành”(11).

Không chỉ quan niệm con người sinh ra từ tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nêu lên sự thống nhất giữa con người và tự nhiên. Theo ông, “muôn loài được sinh ra đều như nhau cả” (“sinh ý vô tư vạn vật đồng”), “trời và người cùng quan hệ với nhau lại cùng hợp với nhau” (Thiên nhân tương dữ hựu tương phù)(12). Cũng với mạch nguồn tư tưởng đó, con người cụ thể được ông nhắc tới khi nói đến vai trò sinh thành của trời chính là dân chúng. Ông viết: “Trời sinh ra dân chúng” (Duy thiên sinh chưng dân)(13). Mặt khác, ông còn khẳng định vai trò sinh dưỡng của tự nhiên đối với con người. Đó là: “Trời nẻo có sinh thì có dưỡng” (Thơ Nôm, bài 143); “Mọi vật có lớn có nhỏ, có loài nào không do trời sinh dưỡng” (Quần vật hữu hồng tiêm, Mạc phi thiên sinh dục)(14). Bên cạnh việc đặt ra trách nhiệm cần phải nuôi dưỡng, giáo dục con người, ông cũng dựa vào Kinh Dịch để nêu lên quan niệm về sự tất yếu “có sinh ra thì có mất đi”. Theo ông, “sự sinh sôi – tiêu biến, lên – xuống, hết rồi trở lại từ đầu” (Sinh tiêu thăng giáng chung nhi thuỷ)(15). Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm coi sự sống – chết của con người theo vòng tuần hoàn vô thủy vô chung. Điều này phản ánh giới hạn hiểu biết của ông theo cách nhìn của Nho giáo truyền thống cũng như quan niệm của Phật giáo đương thời.

Như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định tự nhiên có tính quy luật, vận động, biến hóa không ngừng, trong đó con người được sinh thành từ tự nhiên và tất yếu tuân theo sự vận động của tự nhiên.

1.2. Tự nhiên có ý chí (mệnh trời)

Trong quan niệm về tự nhiên, bên cạnh những tư tưởng có tính biện chứng và duy vật như sự phân tích trên đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không thoát khỏi ảnh hưởng triết học duy tâm của Tống Nho. Vì thế, với quan niệm theo nghĩa thứ hai, ông coi trời là biểu hiện của lực lượng thần bí (mệnh trời) và chủ yếu đề cập tới sự chi phối của mệnh trời đối với con người và xã hội.

Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng, vạn vật và con người do trời sinh ra vốn có “phận”, “số”, “mệnh”, được quy định bởi trời. Ông viết: “Vốn trời phận đà có tính”, “Trời sinh trời ắt đã dành phần” (Thơ Nôm, bài 62, bài 86). Theo ông, vì con người do trời sinh ra nên trời ắt phải quy định số phận và tính tình của mỗi người. Do đó, ông kêu gọi mọi người cần phải giữ gìn tấm lòng mình hiền lành, nhân đức (như vốn tính trời phú cho), dù nghèo hèn cũng không nên oán thán thân phận.

Khi quan niệm trời là lực lượng có cảm giác, có ý chí, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định trời có vai trò quyết định sự loạn lạc, bình trị của xã hội, trách phạt kẻ ác, khuyến khích người hiền lành. Ông viết: “Chán ghét loạn lạc, trời sẽ mở ra cảnh bình trị” (Yếm loạn thiên tương khải trị bình); “Lòng trời như có ý không dung bọn người gian ngụy” (Thiên tâm như bất dung gian ngụy)(16),... ảnh hưởng quan điểm “thiên nhân cảm ứng” của Hán Nho, ông cho rằng trời có thể biết được sự lành dữ, họa phúc của con người. Vì thế, một trong những yêu cầu mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa ra là làm người nên sợ “tứ tri” (làm bất cứ việc gì thì trời biết, đất biết, mình biết, người biết). Do đó, việc con người làm chỉ có thể giấu được người nhưng không thể giấu được trời hay thần linh. Ông nhấn mạnh vai trò phán quyết của trời đối với việc làm của con người: Con người làm việc ác thì ắt sẽ có gươm sắc trừng trị, còn nếu làm những việc phúc đức thì sẽ được may mắn, tốt đẹp. ở đây, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên còn thể hiện sự tương tác hai chiều. Theo đó, “trời cũng biết nơi lành dữ” và nếu con người trong lòng không có cơ mưu thì tự nhiên được vô sự (Thơ Nôm, bài 12).

Với việc “nhân cách hóa tự nhiên” như vậy, trời trong quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn có lòng hiếu sinh, sẵn sàng che chở, không nỡ bỏ rơi những người gặp cảnh khó khăn. Từ đó, ông khuyên con người cần tôn trọng sự sống và biết yêu thương nhau, chớ nên hại nhau (“Đức của trời vốn hiếu sinh/ Nên thận trọng chớ giết nhau bừa bãi” – Đế đức bản hiếu sinh, Thân vật manh sát lục)(17).

Nếu như việc quan sát các sự vật, hiện tượng tự nhiên “dài ống, tròn bầu” khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận thấy tính quy luật của nó thì trong quan niệm về đời sống con người, ông lại quy về số phận, mệnh trời và phó mặc cho số mệnh quyết định trong xã hội đầy rẫy rối ren. Ông viết: “Chữ rằng phú quý giai do mệnh/ Được bao nhiêu hay bấy nhiêu” (Thơ Nôm, bài 102). Từ đó, ông quan niệm sự được mất, giàu sang của con người đều do thiên mệnh quyết định, con người không nên tranh giành, bon chen với nhau: “Được thua phú quý dầu thiên mệnh/ Chen lấn làm chi cho nhọc nhằn” (Thơ Nôm, bài 94); “Cùng hay thông đều đã có mệnh, cho nên chớ lạ rằng trong đời nhiều việc trái ngang” (Cùng thông giai hữu mệnh/ Hưu quái sự đa vi); “Cùng và đạt, sống và chết đều có số mệnh cả/ Chớ ôm mãi sự lãnh lẽo giá băng ở trong lòng” (Cùng đạt tử sinh giai hữu mệnh/ Mạc tương băng thán trí hung trung)(18). ở đây, có thể thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn tự nhắc nhở bản thân phải giữ vững cái thú dưỡng thân, không để cho khí chất thay đổi theo ngoại cảnh mà sinh ra dục vọng. Điều này thể hiện quan điểm tránh đời, an phận, chấp nhận hiện thực mà không chủ trương cải tạo bằng quyết tâm và hành động hiện thực của con người. Do đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không thoát ra khỏi quyết định luận “mệnh trời”.

Có thể nói, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đề cập đến vấn đề nhận thức tự nhiên trong mối quan hệ với con người. Tuy quan niệm của ông chưa bao quát được tất cả các phương diện của tự nhiên, nhưng ý nghĩa giáo dục sự hiểu biết về tự nhiên là rất cần thiết. Nó không chỉ giúp con người lý giải về các hiện tượng tự nhiên mà còn giúp con người nhận thức, vận dụng trong đời sống. Qua các tác phẩm còn lại của ông chúng ta thấy, tự nhiên còn là chủ đề để con người sáng tạo các sản phẩm văn hóa tinh thần. Từ nhận thức về tự nhiên và từ cuộc sống gần gũi với tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn nêu lên sự cần thiết phải giáo dục ý thức, phương cách ứng xử của con người với tự nhiên.

2. Phương cách ứng xử của con người trong mối quan hệ với tự nhiên

Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm đạo trời biểu hiện sự vận động của muôn vật trong tự nhiên cũng như ở con người và xã hội. Vì thế, đòi hỏi con người phải biết nhận thức chúng để vận dụng trong cuộc sống. Ông cho rằng, “cái biết của ta là nguyên lý sự vật để hiểu biết được lẽ thịnh hay suy của thời, việc cùng quẫn hay thông đạt do có mệnh, là cái lo của ta chăng?” (Tiêu trưởng tùy thời tri vật lý/ Cùng thông hữu mệnh khởi ngô ưu)(19). Từ thực tiễn cuộc sống, Nguyễn Bỉnh Khiêm chiêm nghiệm về tự nhiên và đưa ra nhận định: “Cuộc sống không bao giờ ngừng cho ta hiểu được cái vô cùng” (Sinh sinh hội đắc vô cùng ý) và do đó, “muốn biết rõ chỗ vô cùng của ý sinh sôi, hẵng cứ để cỏ mọc trước sân đừng có cắt” (Dục tri sinh ý vô cùng xứ/ Nhận thủ đình tiền thảo bất trừ)(20).

Từ những quan niệm về tự nhiên như trên, Nguyễn Bỉnh Khiêm nêu lên những tư tưởng về trách nhiệm của con người trong mối quan hệ với tự nhiên. Ông đề cập đến sự vận động không ngừng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trên cơ sở đó, nói đến sự thay đổi của con người trong xã hội luôn biến chuyển từ “bĩ” sang “thái” (từ cơn đen vận túng sang vận may, hanh thông và ngược lại), từ “doanh mãn” (tràn đầy) đến “tổn” (vơi đi), cái gì nhọn tất sau phải cùn, có thịnh tất sau phải suy... Tự nhiên không chỉ tạo nên điều kiện sống cho con người mà còn có sự công bằng với mọi người. Chính vì thế, ông đòi hỏi mỗi người cần nâng cao ý thức bản thân trước tự nhiên, phải coi tự nhiên là “của chung”. Ông viết: “Hễ của tự nhiên có ít nhiều/ Một kho tạo hóa cũng chia đều”; bởi thế, “Lấy chăng ai cấm, mặc ai dùng/ Hễ của tự nhiên ấy của chung” (Thơ Nôm, bài 40, bài 33). Nhận biết được những tính quy luật của tự nhiên, con người có thể đạt đến đạo và chỉ khi đã đạt đến đạo thì mới thanh thản, vui thú và tránh được mọi phiền toái phân biệt giữa các mặt đối lập: Khó (nghèo) – giàu, người – ta, hơn – thiệt, thẳng – chùng, dại – khôn, lành – dữ,... Ông tin tưởng vào tính khách quan của quy luật chuyển hóa, con người dù có bị khốn đốn thì tất sẽ hanh thông, bởi “đạo chẳng bao giờ cùng quẫn mãi” (Đạo bất chung cùng)(21).

Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nhấn mạnh tính khách quan của tự nhiên đòi hỏi con người phải tuân theo. Ông nhận định rằng, “phép tắc của trời thì người làm vua phải thuận theo mà không cần tỏ ra là biết” (Đế tắc thuận bất tri)(22); chỉ rõ sự tác động trực tiếp của tự nhiên (mưa, nắng đúng thời) đến đời sống con người, đem lại điềm lành tốt nhất là được mùa lớn (Vũ dương khoái đổ thời thời nhược/Thượng thùy ứng tri đại hữu niên)(23). Theo ông, con người cần lấy tự nhiên làm thước đo cho sự biến đổi của mình, là chỗ dựa để khẳng định sức mạnh của chính mình (“Trời còn chi, đất còn chi/ Bể biến non dời cạn lại sâu” (Thơ Nôm, bài 109). Từ nhận thức về tự nhiên, ông khuyên con người phải thích ứng với điều kiện tự nhiên, cũng có nghĩa là con người cần biết ứng xử sao cho thích hợp, cân bằng theo cách “lấy khi đầm ấm bù khi lạnh/ Chớ thuở khô khan có thuở dào” (Thơ Nôm, bài 47). Sự thích ứng đó còn thể hiện ở chỗ con người phải biết tùy thời xử thế nhưng phải có định hướng để vượt qua mọi trở ngại từ tự nhiên, cũng như ở dòng sông uốn khúc, thuyền phải theo lái; ở quãng đường khó khăn, ngựa phải theo roi, thì mới qua được. Ông viết: “Sông chảy quanh co, thuyền phải theo mái chèo mà đi/ Đường núi gồ ghề, ngựa phải sợ roi mà chạy”(24). Từ chính sự cảm nhận cuộc sống lúc về già của Nguyễn Bỉnh Khiêm (sống ở am Bạch Vân, làm bạn với tự nhiên, coi hoa lá làm khách, lấy ánh trăng làm đèn) cho thấy, khi con người hòa đồng vào tự nhiên, không thờ ơ với tự nhiên thì sẽ tự nhận biết được tự nhiên một cách rõ ràng. Ông viết: “Chớ chớ thờ ơ nhìn mấy biết: Đỏ thì son đỏ, mực thì đen” (Thơ Nôm, bài 13). Theo đó, khi con người xem xét kỹ quy luật biến hóa của tự nhiên, nhìn thấu vào mọi sự vật mới để nhận rõ quy luật biến đổi (cái gì nhọn tất sau phải cùn, có thịnh tất sau phải suy,...) thì sẽ “đạt đến đạo”, mới thấy được sự thú vị của nó (“Nẻo nhọn bao nhiêu lại có đùi/ Dòm cơ tạo hóa lại càng soi... Được đạo thời hay đạo có mùi” (Thơ Nôm, bài 20). Như thế, việc con người hiểu đạo trời để hành động theo quy luật là có ý nghĩa tích cực. Chỉ khi đó, con người mới có thể khẳng định vai trò của mình trong cải tạo tự nhiên với “sức mạnh như đá vá trời” (Thạch hữu bổ thiên lực)(25).

ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, muôn vật và con người trong trời đất có sự vận động, sinh hóa không ngừng nhưng sự biến chuyển đó được ông quan niệm chỉ trong vòng tuần hoàn sinh diệt, lặp lại, tăng giảm, lên xuống đơn thuần. Ông viết: “Thảm khốc rồi đến thư thái, âm rồi lại đến dương/ Sinh ra, diệt đi, hết rồi lại bắt đầu,... Đó là đạo thường của trời đất,... Chẳng mất được ấy là lẽ trời”(26). Cũng từ sự biến đổi có tính chất đối lập của các hiện tượng tự nhiên, ông ứng vận vào sự tiến triển, thay đổi của con người theo lẽ sinh – diệt, tròn – khuyết, được – thua, thăng – giáng, giàu – nghèo, khôn – dại, phúc – họa,... Những quan điểm thể hiện sự đúc kết có tính quy luật này của ông tuy không khái quát toàn diện về sự vận động, phát triển của tự nhiên và con người nhưng có ý nghĩa tích cực nhất định lúc đương thời, nhấn mạnh vai trò của con người trong nhận thức tự nhiên để hiểu biết và có thái độ, hành động đúng đắn.

Cũng giống như Nguyễn Trãi và nhiều nhà nho khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm thường suy tư về con người và xã hội dựa trên cách nhìn về tự nhiên. Ông nói đến tự nhiên, miêu tả những đối tượng của tự nhiên, nhưng qua đó là cả sự trăn trở, suy ngẫm về con người. Ông viết: “Hoa mai bạc vì trăng tỏ/ Bóng trúc thưa bởi gió lay... Đã từng trải sơn hà hết/ Đường thế nhiều khi hiểm hóc thay”(Thơ Nôm, bài 76). Theo ông, những hiện tượng tự nhiên vẫn cứ diễn ra một cách khách quan, không phụ thuộc vào việc người ta có biết hay không, cũng như dòng sông nước chảy cuồn cuộn suốt ngày đêm, mực nước thủy triều lúc lên lúc xuống,... còn cuộc sống con người trên thế gian đã để lại biết bao “cảnh bạc đầu”, biết bao số phận khác nhau. Cũng từ một hiện tượng tự nhiên là tiếng chim đỗ quyên kêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm đi tới nhận định đạo trời vận động tuần hoàn đi đi rồi trở lại (vãng phục), chỉ cần nghe (tiếng chim kêu) mà biết được lẽ hưng suy ở đời (Bát quái thố thôi thiên vãng phục/ Sổ thanh quyên nghiệm thế hưng suy)(27). ở đây, phải chăng ông nói đến sự hưng vong ở đời là do con người quyết định, do các điều kiện xã hội tác động mà thành, chứ đâu có phụ thuộc vào “tiếng chim kêu”; hoặc cũng có thể hiểu theo nghĩa việc làm của con người tác động vào tự nhiên mà qua đó, phản ánh được sự tồn tại (hưng thịnh hay suy vong) của xã hội.

Như trên đã nói, con người quan hệ với tự nhiên không chỉ dừng lại ở phương diện nhận thức, coi tự nhiên là phương thức để duy trì sự tồn tại của mình mà còn phải có phương cách đối xử với tự nhiên một cách hài hòa. Để thực hiện điều đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng, không được thái quá cũng như không được bất cập mà cần phải giữ “đạo trung thường” (trung chính, không thiên lệch). Đây chính là phương cách ứng xử của con người trong xã hội được vận dụng để trở thành phương cách đối xử của con người với tự nhiên. Từ sự gắn bó với tự nhiên thông qua lao động, ông đã nêu yêu cầu thực hiện “đạo trung thường” với thái độ hết sức tôn trọng tự nhiên (Thấy cơ doanh mãn cho hay chớ/ Phải đạo trung thường mựa có qua” – Thơ Nôm, bài 19). Như vậy, việc nhận thức tự nhiên để đi đến nhận thức, vận dụng và ứng xử trong quan hệ xã hội và ngược lại được Nguyễn Bỉnh Khiêm nêu lên như là tính nguyên tắc trong tư duy và hành động. Về điểm này, tác giả Trần Nguyên Việt cũng đưa ra nhận xét: “... Thông qua nhận thức các hiện tượng diễn ra trong tự nhiên để đúc kết lại thành các quy luật, tiếp theo là nhận thức được các quy luật đó để vận dụng vào nhận thức các quy luật của đời sống xã hội. Đó cũng là đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm vào lý luận nhận thức, nói theo ngôn ngữ triết học hiện đại”(28).

Cũng từ nguyên tắc xuất phát nhận thức tự nhiên để có phương cách ứng xử và vận dụng vào các quan hệ xã hội, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn đưa ra yêu cầu con người phải hiểu thấu lẽ “nhất trung” – trong một gốc thống nhất. Tư tưởng này của ông chịu ảnh hưởng của Tống Nho. Theo ông, “chỉ khi con người thấu hiểu được lẽ nhất trung thì mới biết rằng đạo là lớn” (Lý hội nhất trung tri đạo đại)(29) và do vậy, “trong tâm thần được an dật, ngoài tứ thể (chân tay) được thư thái” (Tâm dật thân nhàn tứ thể thư), không thấy sự nghèo quẫn mà thấy “nước biếc trúc xanh là cảnh thiên nhiên mà ta chiếm làm của riêng mình” (Thủy trúc chiếm nhiêu vi ngã hữu). Ông miêu tả cảnh xã hội thanh bình đó chẳng khác nào dân thời Đường Nghiêu, vỗ bụng đi hát ở ngoài đường, vui vẻ với ngày tháng nhàn hạ (Cổ phúc, Đường dân lạc nhật dư)(30). ở đây, Nguyễn Bỉnh Khiêm một lần nữa lại rơi vào tư tưởng chủ quan, lấy tinh thần thay cho hiện thực, lấy tiêu chuẩn nhận thức chủ quan về tự nhiên làm cơ sở cho sự thay đổi điều kiện sống của con người. Vì thế, tư tưởng của ông về tự nhiên, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng giống như các nhà nho trước đó. Sự vận dụng tự nhiên (trời) và quy luật tự nhiên (đạo trời) ở Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu được thế sự hóa nhiều hơn nhằm mong muốn thay đổi đạo đức xã hội và phương thức đối xử của con người với tự nhiên, giữa con người với con người trong xã hội đương thời.(30)

Nguồn: Internet

Trong tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm, con người được sinh ra từ tự nhiên (trời) và vận động, biến đổi theo quy luật tự nhiên (đạo trời). Vì thế, ông đặt vấn đề việc con người nhận thức và tuân theo đạo trời cũng có nghĩa là con người thực hiện đạo người, bởi đạo người là sự phản ánh của đạo trời trong con người. ở đây, tuy chịu ảnh hưởng của Tống Nho nhưng ông không cực đoan như các nhà triết học Trung Hoa coi “thiên lý” (đạo trời) và “nhân dục” (lòng người) là không thể cùng đứng chung với nhau (Thiên lý nhân dục, bất dung tính lập – Chu Hy). Nguyễn Bỉnh Khiêm coi con người là do trời sinh ra nên lòng dục của con người cũng là biểu hiện của đạo trời. Bởi thế, không vì “thiên lý” mà gạt bỏ “nhân dục”, trái lại, tuân theo đạo trời là phải làm thỏa mãn lòng dục của người dân. Có như vậy, đời sống con người mới được đảm bảo, đạo lý xã hội (nghĩa vụ làm con, làm chồng, làm cha,...) mới được củng cố. Đây là tư tưởng tiến bộ và nhân văn của ông trong bối cảnh lịch sử khi đó.

Tóm lại, trong tư tưởng về tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, dựa trên hoàn cảnh lịch sử – cụ thể, nhất là do phong cách sống hài hòa với thiên nhiên nên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chú ý đến việc nhận thức tự nhiên, từ đó định hướng cho con người trách nhiệm và phương cách ứng xử thích hợp với tự nhiên. Đây là điểm mới trong tư tưởng của ông so với truyền thống Nho giáo nói chung. Một mặt, ông kêu gọi thực hiện lối sống thuận theo quy luật tự nhiên (tức là nương theo tự nhiên mà hành động); mặt khác, ông cũng tin tưởng vào khả năng và sức mạnh của con người trong việc cải tạo, biến đổi tự nhiên, đồng thời biết tận dụng điều kiện tự nhiên để thực hiện nhiệm vụ dựng nước và giữ nước. ý nghĩa cơ bản trong tư tưởng triết học về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện ở chỗ, từ nhận thức tự nhiên dẫn đến nhận thức và vận dụng giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội. Tuy nhiên, ông cũng không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Đó là việc ông chẳng những không thừa nhận vai trò quyết định của con người đối với tiến trình phát triển xã hội mà còn đồng nhất quyền lực của tự nhiên với quyền lực của xã hội. Ông cũng đánh đồng quy luật hoạt động của con người với quy luật của tự nhiên nên tư tưởng về con người trong mối quan hệ với tự nhiên ít nhiều mang màu sắc duy tâm, số mệnh.

Trong thực tế cuộc sống, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chủ trương và thực hiện giáo dục lối sống hài hòa với tự nhiên, tuân theo quy luật tự nhiên, ứng xử thân thiện với tự nhiên. Mặc dù ông vẫn chưa thực sự coi con người là chủ tự nhiên, chưa đặt vấn đề khai thác tự nhiên trên cơ sở tuân thủ quy luật và bảo vệ tự nhiên nhưng từ tư tưởng của ông đã đặt ra cho chúng ta trách nhiệm tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị lý luận đối với việc giáo dục, phát triển con người Việt Nam hiện nay. Cụ thể là việc cần tăng cường giáo dục vốn kiến thức, hiểu biết về tự nhiên, kỹ năng sống và phương cách ứng xử thân thiện, hài hòa với môi trường tự nhiên, nâng cao ý thức bảo vệ tự nhiên và xây dựng lối sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên. 

 

 

                 

(*) Tiến sĩ, Khoa Triết học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

(1) Nhất dương: Chỉ một hào dương phát sinh, tức tiết Đông chí, khí trời có hơi ấm xuất hiện dần, trong lạnh có ấm, đó là nhất dương sinh, tương ứng với tháng 11 âm lịch, thuộc quẻ Phục trong Kinh Dịch.

(2) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (tổng tập), Bạch Vân am thi tập (Lê Hữu Nhiệm, Phạm Văn ánh phiên âm, dịch, chú), Bạch Vân thi tập (Lê Hiệu phiên Nôm). Nxb Văn học, Hà Nội, 2014, tr.267; 628; 1098. Từ đây trích dẫn Bạch Vân thi tập, gọi là Thơ Nôm theo sách này.

(3) Đinh Gia Khánh chủ biên. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr.284-285.

(4) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.438.

(5) Đinh Gia Khánh chủ biên. Sđd., tr.308.

(6) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.311.

(7) Nguyễn Tài Thư chủ biên. Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.354.

(8) Xem: Nguyễn Tài Thư. “Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà Lý học”, Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Việt Nam từ hướng tiếp cận liên ngành (Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam - Viện Harvard - Yenching Hoa Kỳ). Nxb Thế giới, Hà Nội, 2009, tr.246-265.

(9) Đinh Gia Khánh (chủ biên và giới thiệu). Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II, Văn học thế kỷ X - thế kỷ XVII. Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr.669.

(10) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.1344.

Theo Kinh Dịch, “Thái cực” là khởi nguyên của vũ trụ, là vầng nguyên khí chưa phân khai. Thái cực phân làm lưỡng nghi là âm và dương; lưỡng nghi phân làm tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm, thiếu dương; tứ tượng phân làm bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Bát quái tác động lẫn nhau mà sinh ra muôn loài.

(11) Trần Nguyên Việt. Vấn đề con người trong tư tưởng triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tạp chí Triết học, số 1, 2000, tr.35.

(12) Dẫn theo: Nguyễn Tài Thư chủ biên. Sđd., tr.353.

(13) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.306.

(14) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.302.

(15) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.258.

(16) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.593, 600.

(17) Bùi Duy Tân (chủ biên). Tổng tập văn học Việt Nam, t.6. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.579.

(18) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.150, 198.

(19) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.190.

(20) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.171, 256.

(21) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.612.

(22) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.1345.

(23) Đinh Gia Khánh chủ biên. Sđd., tr.285.

(24) Đinh Gia Khánh (chủ biên và giới thiệu). Sđd., tr.669.

(25) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.622.

(26) Bùi Duy Tân (chủ biên). Sđd., tr.613.

(27) Viện Văn học, Hội đồng Lịch sử Hải Phòng. Sđd., tr.262.

(28) Trần Nguyên Việt. Tư tưởng triết học tự nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tạp chí Triết học, số 1, 2002, tr.41.

(29) Nhất trung có nghĩa là trong một gốc thống nhất. Thơ Thiệu Khang Tiết (Thiệu Ung đời Tống - Trung Quốc) viết: “Thiên hướng nhất trung phân tạo hóa, nhân do tâm thượng khởi kinh luân”, nghĩa là: Trời từ trong một gốc thống nhất chia ra mọi lẽ tạo hóa, người từ trong cõi lòng dựng lên mọi sự kinh luân [Xem: Đinh Gia Khánh (chủ biên và giới thiệu). Sđd., tr.660].

(30) Đinh Gia Khánh (chủ biên và giới thiệu). Sđd., tr.657.


Nguyễn Bá Cường (*)

Tạp chí Triết học, số 3 (298), tháng 3 - 2016


Xem tin phát hành ngày:

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Điện thoại: +84 (024)35140527, +84 (024)35141134, Fax: +84 (024)35141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007