Tìm kiếm

MỘT CÁCH NHÌN TOÀN CẦU HÓA CHO SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

17/02/2023

Tạp chí Triết học, số 3, năm 2013

NGUYỄN TÀI ĐÔNG (*)

Hiện nay, việc phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng cần có cách nhìn dân tộc và toàn cầu. Với cách tiếp cận toàn cầu hóa, văn hóa dân tộc có khả năng bộc lộ rõ hơn đặc trưng văn hóa của mình thông qua quá trình mở rộng hội nhập. Đặc trưng văn hóa được thể hiện qua nhiều hình thức, trong đó có tính sáng tạo và tính nhân văn, và quá trình đi từ kinh nghiệm đến quy luật, từ mảnh đoạn đến chỉnh thể trong quá trình hoàn thiện những đặc trưng này cũng là con đường để tránh tụt hậu trong sự phát triển văn hóa dân tộc.

 

Trong một vài thập niên trở lại đây, quá trình toàn cầu hoá ngày càng tác động một cách rộng lớn và sâu sắc đến mọi quốc gia trên thế giới. Những mối liên hệ chằng chịt, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế, đã buộc chặt các quốc gia với nhau, góp phần tạo nên xu hướng thống nhất thế giới.

Ngay từ sau thế kỷ XV, khi chủ nghĩa tư bản vươn mình đứng dậy, thì các mầm mống cho quá trình quốc tế hoá đã được xác lập thông qua sự mở rộng không ngừng của thị trường. Ở nước Anh vào giữa thế kỷ XIX, thương mại tự do và quốc tế hoá đã thực sự mở màn khi Richard Cobden và John Bright vận động cho việc bãi bỏ đạo luật Corn Laws về mua bán ngũ cốc. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước tư bản luôn tìm cách, một mặt, mở rộng thị trường; mặt khác, liên tục xuất khẩu tư bản để đối phó với hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời vượt qua những hạn chế của chính mình. Việc kết thúc chiến tranh lạnh đồng nghĩa với quá trình tăng tốc của toàn cầu hoá. Các quốc gia ngày càng phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn, nếu trước đây mối quan hệ Bắc – Nam là chủ đạo trong quan hệ kinh tế quốc tế, thì hiện nay mối quan hệ Nam – Nam cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng.(*)Biến động của một quốc gia này rất có thể là cơ hội hay là thảm kịch của hàng loạt quốc gia khác. Những nước đã trải qua khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, đặc biệt là khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong vài năm qua thể nghiệm điều này rõ ràng hơn ai hết. Và theo sau lĩnh vực kinh tế, mọi lĩnh vực khác từ chính trị đến văn hoá cũng đều đang nằm trong cơn lốc toàn cầu hoá. Chính điều này đang tạo ra những nét khác biệt xã hội và khác biệt văn hóa căn bản giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển ở châu Á đang phải chịu một sức ép khổng lồ về tăng trưởng. Nói một cách hoa mỹ thì “tăng trưởng” là chìa khoá vàng để hoà nhập với thế giới hiện đại, còn về thực chất, thì tăng trưởng, thậm chí là tăng trưởng với tốc độ tối đa có khi được hiểu là cách duy nhất để bảo tồn quốc gia dân tộc. Các nước này muốn tăng trưởng đều bắt buộc phải nâng cao khối lượng tư bản bằng cách tăng tỷ lệ tiết kiệm nội địa và nhập khẩu vốn nước ngoài. Các cuộc khủng hoảng kinh tế đã chứng minh một điều là tiềm lực tài chính nội địa của phần lớn các quốc gia châu Á quá mong manh và quá lệ thuộc vào tư bản nước ngoài. Sự lệ thuộc về kinh tế tất yếu dẫn đến sự lệ thuộc về chính trị. Các nước phát triển sau không chỉ phải thay đổi các điều luật, mà còn phải thay đổi nhanh chóng một phần thể chế chính trị lẫn cách thức sinh hoạt chính trị để phù hợp với hệ thống tư bản toàn cầu. Đây cũng là một cánh cửa mà toàn cầu hoá mở ra cho các nước tư bản xen vào nội tình của các nước khác. Và khi nền kinh tế cùng với hệ thống chính trị của nó thay đổi, thì kết cấu văn hoá và thang giá trị của xã hội bị phá vỡ, đảo lộn là điều khó tránh khỏi. Lúc đó, việc nhập khẩu các mô thức văn hoá, giá trị cũng sẽ dễ dàng như việc nhập khẩu tư bản vậy.

Hiện nay, toàn cầu hoá là một quá trình diễn ra không đồng đều cả về cường độ, nhịp điệu và tính chủ động giữa các nước phát triển và các nước đi sau. Một nghịch lý xảy ra là, khi tất cả các chính phủ đều muốn đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá thì một số không nhỏ những người dân của các nước phát triển, đặc biệt là của các nước đang phát triển, lại tìm đủ mọi cách để ngăn chặn quá trình này dưới nhiều hình thức từ tuyên truyền, diễu hành, biểu tình đến đụng độ và thậm chí là cả bạo loạn! Vì sao không ít các tổ chức phi chính phủ, các nghiệp đoàn, các nhà hoạt động xã hội của các nước châu Á, như Hàn Quốc, Thái Lan, Indonesia,... coi Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế như kẻ thù? Mặc dù theo tường trình của Chính phủ Úc, trong 30 năm toàn cầu hoá kinh tế 45% nhân loại bớt đói nghèo, song rất nhiều học giả quốc tế và trong khu vực ngày càng đề cập nhiều hơn đến những mặt trái mà quá trình toàn cầu hoá đang mang lại. Rõ ràng, không phải mọi quốc gia đều được hưởng lợi từ trào lưu này. Sự bất công bằng trong toàn cầu hoá, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch của các nước phát triển cùng với hố sâu ngăn cách dường như không thể xoá nhoà về khoa học kỹ thuật đã làm trầm trọng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia. Người dân của các nước giàu ngày càng giàu hơn, người dân của các nước nghèo ngày càng nghèo hơn. Chính quyền ở một số nước vùng đang phát triển ngày càng suy yếu đi; trong khi đó, các tập đoàn kinh tế toàn cầu có phạm vi ảnh hưởng, thậm chí lũng đoạn ngày càng nhiều hơn. Những người phản đối toàn cầu hoá cũng tuyên bố toàn cầu hoá và mậu dịch tự do hiện đang trực tiếp làm tổn hại đến nhân quyền, luật lao động và môi trường sinh thái, coi nó là nguồn gốc của những thảm cảnh. Nghèo đói, bất bình đẳng, tham nhũng và thoái trào văn hoá. Ngoài ra, cùng với trào lưu toàn cầu hoá, hàng loạt vấn đề xã hội bức xúc đang nổi lên, nhất là các vấn đề khủng bố, tội phạm quốc tế, tình trạng di dân và nạn buôn người xuyên quốc gia.

Đối diện với quá trình toàn cầu hoá, nếu kinh tế học tập trung nghiên cứu các quy luật kinh tế của toàn cầu hoá kinh tế, nhìn nhận toàn cầu hoá như một sự vươn xa của chủ nghĩa tư bản và nếu xã hội học chú trọng phát hiện những biến đổi xã hội trong cơn lốc toàn cầu hoá, thì triết học trước hết nhìn nhận toàn cầu hoá như một chỉnh thể. Dưới góc độ triết học, toàn cầu hoá không đơn thuần chỉ là toàn cầu hoá kinh tế, mà còn là tiến trình phát triển trong tổng thể những sợi dây liên kết chằng chịt giữa các quốc gia về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, giá trị,... trong một thế giới thống nhất. Do đặc trưng của tư duy triết học là nghiên cứu tính toàn diện của sự vật và sự phát triển mà toàn cầu hoá, dưới con mắt triết học, sẽ được xét đến trong tính chỉnh thể của nó cũng như trong toàn bộ mối quan hệ của nó với những lĩnh vực khác của xã hội. Các quốc gia trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng không chỉ cần tăng trưởng, mà hơn nữa, phải là phát triển. Một sự phát triển bền vững trong trật tự hệ thống toàn cầu không thể không tính đến bài toán phát triển toàn diện, đồng bộ về cả kinh tế, chính trị lẫn xã hội, văn hoá, giá trị,... Hàng loạt vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến văn hóa đang đặt ra đòi hỏi các nhà triết học phải giải quyết. Ví dụ, khi các nước đi sau đang phải chạy theo một mô thức kinh tế của các nước đi trước, việc nhập khẩu văn hóa từ nước ngoài can thiệp vào văn hoá bản địa và khiến các tập tục cũ suy yếu thì liệu họ phải duy trì và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc như thế nào? Các nước đi sau làm sao xác định được rõ chủ thể của quá trình toàn cầu hoá, đồng thời chủ động tham dự một cách có ý thức vào quá trình này? Các vấn đề nền tảng trong hệ tư tưởng truyền thống, như vấn đề quốc gia dân tộc, chủ quyền dân tộc, tính tự quyết dân tộc, phân tầng xã hội, khoảng cách giàu nghèo,... cần phải được giải quyết thế nào để thích hợp với xu thế toàn cầu hoá? Đặc biệt, khi không một chính phủ nào kiểm soát được quá trình toàn cầu hoá, thì vấn đề con người, cá nhân con người nổi lên như một vấn đề nóng bỏng nhất. Con người, giá trị con người, đời sống con người sẽ phải như thế nào? Các nhà triết học sẽ phải làm gì để chống lại sự huỷ hoại về mặt giá trị của toàn cầu hoá?

Làn sóng toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh và mạnh trên thế giới, tạo nên một mối liên hệ chằng chịt giữa tất cả các nước và vùng lãnh thổ. Từ toàn cầu hoá kinh tế, các nước ngày càng có quan hệ mật thiết, thậm chí phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn trên các mặt văn hoá, lối sống, tư tưởng và chính trị. Bên cạnh đó, cái được và cái mất do toàn cầu hoá đưa lại cho các vùng lãnh thổ khác nhau, các tầng lớp lao động khác nhau, các ngành kinh tế khác nhau và các nhóm lợi ích khác nhau lại rất khác biệt và vô cùng phức tạp. Khi lợi ích được đưa lại cho các chủ thể khác nhau không dựa chủ yếu trên các thế mạnh truyền thống hay các năng lực được ưu tiên trong quá khứ, thì sự thay đổi mà toàn cầu hoá đưa lại không chỉ sâu sắc về mặt tính chất, mà còn mang tính phổ quát về mặt phạm vi. Chính do sự phức tạp đó mà trong xã hội hiện đại tồn tại song song nhiều hiện tượng mâu thuẫn nhau khá gay gắt, xét dưới góc độ tiếp nhận toàn cầu hoá: GDP đầu người tăng nhanh chóng cùng với sự phá sản của một bộ phận lớn dân cư, điển hình là nông dân; việc mở rộng hết mức công nghệ cao song lại tối đa hoá lượng lao động giản đơn; tăng trưởng kinh tế nhanh đồng thời với việc nới rộng khoảng cách giàu nghèo,v.v.. Thế giới đang thay đổi với những góc độ và chiều quay khác hẳn trước đây, và mọi người, dù bất cứ làm việc gì, đang ở đâu, dù chủ động hay không đều có nhu cầu nắm bắt được sự thay đổi sống động, nhanh chóng đó. Đối diện với thế giới đang thay đổi liên tục, mọi ngành khoa học, xuất phát từ những thế mạnh riêng của mình đều đã tích cực tìm hiểu, trao đổi để đưa ra được bức tranh chung hay nhiều bức tranh liên tiếp về sự biến đổi toàn cầu, từ đó vạch ra những bước đi hợp lý hơn cho quá trình toàn cầu hoá.

Song, trong viễn cảnh toàn cầu, việc xây dựng một mô hình toàn cầu hoá hoàn mỹ cho tương lai hay đưa ra một lời giải đáp chắc chắn cho mọi vấn đề cần giải quyết không phải là nhiệm vụ của triết học. Triết học thực thụ không tiến hành những công việc duy ý chí như vậy. Nếu như các ngành khoa học khác lấy khách thể để làm đối tượng của tư duy, thì triết học lấy chính tư duy làm đối tượng của tư duy, nghĩa là nhận thức lại quá trình nhận thức. Điều này nói lên tính chất đặc biệt của tư duy triết học là chú trọng đến tính sáng tạo của chủ thể. Chủ thể ở đây vừa là chủ thể nhận thức, vừa là chủ thể hành động. Chính điều này cũng nói lên hai vai trò trọng yếu đầu tiên của triết học trong quá trình toàn cầu hoá: Phát huy tính sáng tạo và tính nhân văn.

Chúng ta đều biết, toàn cầu hoá là một quá trình diễn ra tương đối lâu dài và đã được nhiều ngành khoa học phản ánh dưới mọi góc độ khác nhau; song, cho đến nay, vẫn chưa có một cách hiểu chung nhất về toàn cầu hoá cũng như vai trò của nó trong việc phát triển văn hóa, xã hội và con người. Điều này phần nào nói lên tính chất vô cùng phức tạp của bản thân quá trình toàn cầu hoá. Và đã nói đến quá trình, thì sẽ có người trước kẻ sau, có những chủ thể sáng tạo và tham gia trước, có những chủ thể tham gia sau và thậm chí chưa được tham gia. Thêm nữa, nếu coi toàn cầu hoá là một sân chơi vĩ đại thì chỉ những người tích cực, chủ động chơi cũng như có khả năng đưa ra quy tắc chơi mới có cơ may giành phần thắng, hay nói cách khác - có cơ may tối ưu hoá được thành quả trên sức lao động trừu tượng bỏ ra. Triết học đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò sáng tạo của chủ thể trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Với những đặc trưng lợi thế của mình, như tính trừu tượng hoá và khái quát hoá, tính chỉnh thể và đồng bộ, năng lực phản tư và phê phán, năng lực quy nạp và dự đoán... triết học có khả năng cung cấp một bàn đạp và tư thế chủ động để tích cực tiến vào môi trường đầy biến động như ngày nay. Triết học là một công cụ tốt để phê phán (chứ không phải phê bình) – phê phán được hiểu theo nghĩa tích cực nhất của từ này – do vậy, tính chủ động còn được thể hiện ở chỗ mỗi chủ thể có khả năng liên tục đánh giá lại bản thân, đánh giá lại mối tương quan giữa mình và các đối tượng khác cũng như liên tục tự phê phán, làm mới bản thân để thích hợp với những đòi hỏi mới. Cứ nhìn vào thành quả mà các nhà triết học Mỹ, châu Âu, châu Á đóng góp vào việc định hướng phát triển xã hội và phát triển kinh tế thì chúng ta có thể biết được công lao của họ thế nào.

Bên cạnh tính chủ động, trong bối cảnh toàn cầu, triết học còn thể hiện rõ hơn bao giờ hết tính nhân văn của mình. Đồng thời với việc liên tục tái nhận thức cả quá trình toàn cầu hoá để mang lại nhiều hiệu quả hiện thực hơn cho sự phát triển kinh tế và xã hội thì mặt khác, triết học đặc biệt chú trọng đến nhân tố con người đạo đức. Yếu tố con người chính là yếu tố quan trọng nhất. Trong quá trình toàn cầu hoá, con người không thể chỉ tồn tại với tư cách lao động (labor) hay nguồn vốn con người (human capital), mà trước hết con người phải tồn tại với tư cách CON NGƯỜI viết hoa, con người không là công cụ, nhưng là mục đích. Toàn cầu hoá chỉ thực sự là toàn cầu hoá của mọi người khi những cái mà nó mang lại giúp cho con người tránh khỏi sự tha hoá và thể hiện nhiều nhất những giá trị cao đẹp vốn có của con người. Triết học không phải chỉ cung cấp cho người ta thế giới quan và phương pháp luận, ngoài việc mang lại cho con người một bức tranh mang tính chỉnh thể về thế giới sống và những phương pháp tư duy, thì nó còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng nhân cách - cơ sở cho việc xây dựng một nhân sinh quan cho con người nói chung. Dưới góc độ này, triết học đồng nhất với luân lý học, các lý thuyết triết học đồng nhất với quan niệm đạo đức và các nguyên tắc triết học đồng nhất với những quy phạm đạo đức. Các học thuyết triết học lớn, các tôn giáo lớn đều có cứu cánh là chân, thiện, mỹ. Đối diện với những tác động đa chiều, nhiều khi là khốc liệt của toàn cầu hoá, các chủ thể tham gia quá trình này buộc phải tự xây dựng cho mình một nhân sinh quan hướng thiện đủ mạnh để tự bảo vệ và phát triển mình. Xã hội càng nhiều biến đổi, những biến đổi càng có vận tốc và tần suất cao thì triết học càng có khả năng góp phần vào việc định hướng cho hành động cũng như xây dựng cơ sở cho hành động. Và triết học đó phải là triết học lấy con người làm trung tâm, triết học giải phóng con người.

Một trong những đặc trưng của tư duy triết học là tư duy trừu tượng. Xuất phát từ thực tế và thành quả của những khoa học khác, nhà triết học tạm trừu tượng hoá những sự vật, hiện tượng mang tính mảnh đoạn, nhỏ lẻ, không liên tục để giữ lại nhưng điều mang tính quy luật. Việc sử dụng phương pháp tư duy này như thế nào sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với việc tham gia và định hướng quá trình toàn cầu hoá. Chúng ta đều biết, kinh nghiệm có vai trò hết sức quan trọng. Một phần lớn tri thức được chuyển tải là tri thức kinh nghiệm, đa phần tri thức con người tìm được cũng là tri thức kinh nghiệm, kinh nghiệm của những người đi trước giúp chúng ta tránh được những sai lầm để đi nhanh hơn. Đặc biệt, trong quá trình toàn cầu hoá, biết học hỏi và rút kinh nghiệm là một phương cách không thể thiếu để tăng trưởng một cách nhanh nhất. Song, cũng cần phải nhìn nhận một sự thực là hiện nay cũng như trước đây, kinh nghiệm chưa bao giờ đúng 100%. Kinh nghiệm là đáng quý, song sẽ là một sai lầm lớn nếu chỉ học thuộc lòng và áp dụng máy móc kinh nghiệm cũ. Kinh nghiệm chỉ đáng quý, chỉ phát huy hết tác dụng nếu ta biết lấy đó làm bàn đạp để vượt lên trên cái vốn tản mạn, cụ thể và đúc rút từ chúng những bài học mang tính chắc chắn và phổ quát cao. Chủ thể nào (dù chủ thể đó là một quốc gia/vùng lãnh thổ, một tập đoàn kinh tế, một giai tầng xã hội hay một nhóm lợi ích,...) chỉ dừng lại ở kinh nghiệm thì mãi mãi sẽ tụt hậu và thậm chí, tụt hậu ngày càng xa so với các chủ thể khác. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tụt hậu là bài toán khó có lời giải nhất.

Do triết học luôn đi tìm một quan niệm mang tính chỉnh thể nên nó sẽ rất có ích trong việc lý giải lại một loạt các vấn đề gai góc đang nổi lên trong bối cảnh toàn cầu hóa, mà một trong số đó chính là vấn đề quốc gia dân tộc (nation-state). Đây là một vấn đề lâu đời và vô cùng nhạy cảm. Cùng với dòng chảy của lợi ích, cách lý giải của các chủ thể và các nhóm chủ thể về quốc gia dân tộc như thế nào sẽ quyết định thái độ của họ đối với toàn cầu hoá - tích cực hoặc tiêu cực. Khi toàn cầu hoá tạo ra những biến chuyển chưa từng có trong lịch sử về sự thâm nhập lẫn nhau giữa các quốc gia, giữa các dân tộc, giữa các vùng văn hoá thì một loạt các quan niệm cũ về quốc gia dân tộc chịu những sự công kích mạnh mẽ từ thực tiễn. Một loạt các khái niệm cơ bản, như quốc gia, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ, biên giới lãnh thổ, quyền tự quyết dân tộc, vai trò nhà nước,... đòi hỏi cần phải xem xét cả về nội hàm lẫn ngoại diên. Nếu chỉ đứng từ một góc nhìn cô lập hoặc xem xét một nhóm sự vật hiện tượng riêng lẻ thì sẽ rất dễ có phản ứng tiêu cực đối với những thay đổi về một số hiện tượng chưa từng gặp, từ đó có thái độ bi quan, chống đối tương lai. Song, nếu có một cái nhìn tổng quát, thì tính chất thiêng liêng của cái gọi là quốc gia dân tộc không hề mất đi bởi sự thay đổi của nội dung những thành tố bên trong hay thay đổi nhỏ của kết cấu những thành tố đó. Vì vậy, thực tiễn đòi hỏi triết học phải cung cấp một cách nhìn đúng và đủ hiện đại để lý giải các vấn đề đang và sắp xảy ra, từ đó mới có thể ủng hộ đúng những điều cần ủng hộ và phản đối đúng những điều cần phản đối trong toàn cầu hoá.

Một trong những nhóm chủ thể chịu nhiều tác động tiêu cực nhất của quá trình toàn cầu hoá chính là các nước đang phát triển. Đã có rất nhiều nghiên cứu của các học giả và vô số sự lên tiếng cũng như hành động phản đối của xã hội dân sự về việc các nước đang phát triển phải gánh chịu hậu quả của toàn cầu hoá: Khoảng cách tụt hậu giữa các nước phát triển và đang phát triển ngày càng tăng, thảm họa môi trường, can thiệp về mặt chính sách của các nước phát triển đối với các nước đang phát triển, sự cản trở của các chủ tư bản nước ngoài đối với tiến trình dân chủ hoá ở các nước đang phát triển, mức độ lệ thuộc ngày càng lớn dẫn đến một khả năng mất chủ quyền vô hình, v.v.

Bước vào hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thu được những thành quả rất đáng khích lệ về mặt kinh tế. Song, những cái được từ toàn cầu hoá chưa nhiều đến mức có thể đổi bằng những nguy cơ về mặt văn hóa và xã hội đã bộc lộ ra trong quá trình toàn cầu hoá. Bên cạnh đó, giống như đa số các nước đang phát triển khác, Việt Nam mở rộng cửa đón nhận mọi luồng văn hoá trên thế giới. Song, chính điều này cũng đặt ra bài toán về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Xét từ góc độ kinh tế, để có thể phát triển được, các nước thuộc thế giới thứ ba phải tăng cường nhập khẩu vốn từ tư bản nước ngoài, song trên khía cạnh văn hoá, thì không được phép nhập khẩu văn hoá, nhập khẩu tư tưởng. Giao lưu văn hoá quốc tế trong đó các nước, các vùng văn hoá học hỏi lẫn nhau là vô cùng cần thiết. Một nền văn hoá đích thực hay thậm chí chỉ là một nét đẹp văn hoá, càng được cọ xát với bên ngoài thì càng làm nổi bật đặc trưng cũng như tính quốc tế hoá của nó. Song, nếu để những tư tưởng, những phong cách văn hoá được nhập khẩu vào các nước đang phát triển như là những thương phẩm thì đó sẽ là một cách tiêu cực nhất để tiêu diệt văn hoá truyền thống bản địa. Quốc gia nào cũng vậy, toàn cầu hoá văn hoá là để làm phong phú thêm cho nền văn hoá của mình, để nền văn hoá của mình đối thoại với các nền văn hoá khác, chứ không phải là để nhập khẩu những McDonald hay KFC văn hoá - nghĩa là bán những mô thức văn hoá ăn sẵn được sản xuất theo dây chuyền. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết, triết học cần thực sự cống hiến vào việc giữ gìn, phát huy và quốc tế hoá bản sắc văn hoá của dân tộc mình. 

 

 

                 

 


(*) Tiến sĩ, Phó viện trưởng Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Điện thoại: +84 435140527, +84 435141134, Fax: +84 435141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007