Tìm kiếm

NGĂN CHẶN SỰ THA HÓA ĐẠO ĐỨC Ở NGƯỜI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT NƯỚC TA HIỆN NAY - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT

14/04/2023

Tạp chí Triết học, số 6, năm 2013

NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG (*)

Đội ngũ cán bộ chủ chốt là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm đổi mới, đội ngũ này luôn tỏ rõ phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng, song vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, tha hóa về đạo đức, lối sống, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Sau khi làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, từ góc độ pháp luật, tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp để góp phần ngăn chặn sự tha hóa đạo đức ở bộ phận cán bộ, đảng viên này.

1. “Cán bộ chủ chốt” là bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ tham gia công tác lãnh đạo, quản lý ở các ngành, các cấp có thể nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nhu cầu của tổ chức, song cán bộ chủ chốt là bộ phận quan trọng, là hạt nhân trong tập thể cán bộ. Nói cách khác, trong đội ngũ cán bộ nói chung, “cán bộ chủ chốt” là gốc của công việc, là lực lượng nòng cốt, là nhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước. Cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị công tác, sản xuất, kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị ở đó, phân công nhiệm vụ, chỉ đạo cán bộ công chức của mình hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cán bộ chủ chốt bao gồm cán bộ lãnh đạo từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở, từ cấp vĩ mô cho tới vi mô.

Cán bộ chủ chốt, do vậy, có trách nhiệm chính khi quyết định những vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... và được quyền định đoạt, giải quyết các công việc, xử lý các tình huống diễn ra thuộc phạm vi, chức trách, nhiệm vụ của tổ chức, của các cấp, ngành và phù hợp với pháp luật hiện hành.

Trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, đội ngũ cán bộ chủ chốt ở Việt Nam đã thể hiện rõ phẩm chất đạo đức và trí tuệ, góp phần quan trọng làm nên những thành tựu to lớn. Song, một thực tế đáng lo ngại là, từ nhiều năm nay đã diễn ra sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tha hóa về đạo đức, lối sống, xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, thực dụng..., “cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân"([1]). Thực tế đó đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI.

Mặc dù sự tha hóa đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt nước ta chưa dẫn đến khủng hoảng chính trị, chưa làm thay đổi bản chất của chế độ xã hội, nhưng tình trạng đó là nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Sự tha hóa đạo đức của người cán bộ chủ chốt chẳng những làm suy yếu năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, mà còn làm tổn hại đến thanh danh của Đảng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ.

Trong “Lôgíc học”, Hêghen sử dụng thuật ngữ “tha hóa” nhằm biểu thị quá trình vận động của “ý niệm”, sự tự phân đôi (khách quan hóa) của nó thành mặt đối lập, thành “tồn tại khác”, sau đó nhận thức mình trong bản chất, trong khái niệm và trở về với chính mình như chân lý đã hoàn thiện hơn. Cách hiểu của Phoiơbắc thiên về ý nghĩa “đánh mất”, sự tự đánh mất của cá nhân trong sinh hoạt tôn giáo; nói cách khác, ông đã biến khái niệm tha hóa hay tự tha hóa như khách quan hóa ý niệm, thành tha hóa như một hiện tượng xã hội.

C.Mác, trên cơ sở tiếp thu một phần cách đặt vấn đề ấy, đã phân tích tha hóa trong quan hệ nền tảng giữa người với người – sản xuất vật chất, hoạt động kinh tế. Việc chỉ ra tha hóa ở khía cạnh này, khía cạnh đời sống có tính loài của con người cho phép C.Mác làm rõ bản chất của xã hội với hệ thống thiết chế đan xen và tác động lẫn nhau, trong đó có hoạt động chủ đạo, chi phối tất cả những quan hệ khác.

Theo nghĩa đó, tha hóa là việc xuyên tạc bản chất, làm cho "nó không còn là nó”, đánh mất đi giá trị cốt lõi trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng với tư cách là chính nó, làm cho nó thoái triển và có xu hướng chống lại chính nó trước đây, đi ngược lại quy luật vận động, phát triển thông thường. Một cách tổng quát, "tha hóa" thường được dùng để chỉ những gì thuộc về con người và các hoạt động của con người, liên quan đến chủ thể con người, theo hướng tiêu cực. Với cách hiểu này, tha hóa thuộc về nhân tố chủ quan, gắn liền với chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn là con người. Chủ thể con người có thể bị tha hóa hoặc tự tha hóa. Tha hóa là suy thoái, hủ hóa, tội lỗi.

Như vậy, sự tha hóa đạo đức của cán bộ chủ chốt nước ta chính là suy đồi về tư cách, nhân cách, đạo đức của chính bản thân họ.

2. Đứng trên quan điểm lịch sử, chúng ta cần phải khẳng định rằng, tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội, những nhân tố quốc tế và trong nước là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi thang giá trị và phẩm chất đạo đức.

Sự tác động của kinh tế thị trường, của toàn cầu hoá... đều có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực, như một “hiệu ứng âm dương” (theo cách gọi của những nhà nghiên cứu Trung Quốc). Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất phải lấy thị trường làm định hướng, lao động cá biệt phải đối mặt với thị trường chung rộng lớn và dù muốn hay không, đều phải chịu sự chi phối của nó. Để tồn tại và khẳng định vị trí của cá nhân trong xã hội, bất kể ai, thuộc thành phần, giai cấp nào, thái độ chính trị ra sao... đều phải chấp nhận và thích ứng với những quy luật khắc nghiệt của thị trường.

Kinh tế thị trường kích thích mạnh mẽ việc tìm kiếm lợi nhuận; do đó, chủ nghĩa cá nhân có môi trường phát triển. Lối sống "vì mình, quên người", "vì lợi, bỏ nghĩa" có nguy cơ lan rộng và bào mòn nhân tính của con người. Chủ nghĩa thực dụng, tính toán ích kỷ, tệ sùng bái đồng tiền xuất hiện cùng những hành vi phản đạo đức gây tác hại nghiêm trọng đến việc xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh, gây bầu không khí độc hại trong xã hội, kích thích sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân. Tình hình vi phạm các quy tắc, chuẩn mực đạo đức cũng như vi phạm pháp luật, suy thoái về đạo đức, lối sống ở một số cán bộ chủ chốt hiện nay tập trung chủ yếu ở những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thu vén, trục lợi cá nhân, tham nhũng, bòn rút công quỹ, bất chấp thiệt hại của Nhà nước, của nhân dân. Một số cán bộ chủ chốt sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho người dân để nhận hối lộ, quà cáp, biếu xén... Một bộ phận cán bộ chủ chốt sử dụng những đặc quyền, đặc lợi do chức vụ mang lại để trục lợi, làm giàu bất chính, lợi dụng chức quyền để trao đổi quyền lực, mua chức, bán quyền, hình thành tệ chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy lợi, chạy tội... (mua quan, bán chức dưới nhiều hình thức đa dạng). Điều nghiêm trọng nhất là chủ nghĩa cá nhân và lối sống thực dụng phát triển khiến một số cán bộ chủ chốt khi điều hành công việc chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, chạy theo vật chất, đề cao vai trò cá nhân... Sự xuống cấp của đạo đức ở một số cán bộ chủ chốt còn được biểu hiện ra ở lối suy nghĩ và hành động theo chủ nghĩa thực dụng, vị kỷ, chạy theo cuộc sống vật chất bằng mọi giá, sẵn sàng vi phạm pháp luật.

Điều đáng báo động là vấn nạn tham nhũng đang diễn ra ở diện rộng và với mức độ ngày càng nghiêm trọng bởi sự lạm dụng chức quyền ở một bộ phận cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt nói riêng. Những năm gần đây, dư luận xã hội đã bàn nhiều đến sự giầu có, phát tài nhanh chóng của nhiều cán bộ chủ chốt cấp cao. Trong xã hội xuất hiện một hiện tượng được gọi là “quá trình tích lũy tư bản ban đầu bằng tham nhũng”. Hành vi tham nhũng của một số cán bộ chủ chốt các cấp đã và đang gây những tác hại to lớn về nhiều mặt, làm xói mòn “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng. Hiện tượng này là một sự tha hóa mới, đe dọa trực tiếp ổn định xã hội. Báo cáo do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” và tổng kết 5 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng (8-3-2012) cho biết: Từ 2007 – 2011, cả nước có 652 người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, trong đó xử lý hình sự 97 trường hợp, xử lý kỷ luật 555 trường hợp... Và, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã xử lý hoặc kiến nghị xử lý kỷ luật 4 Ủy viên Trung ương Đảng trong nhiệm kỳ, 17 bí thư, phó bí thư, ủy viên ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân các tỉnh thành, các bộ ngành; 2 bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế nhà nước(2).

Một bộ phận cán bộ lãnh đạo chủ chốt thoái hóa biến chất, từ thoái hóa về đạo đức đi tới biến chất về chính trị, làm suy giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, cản trở một số chính sách đổi mới của Đảng. Các thế lực thù địch lợi dụng tình hình đó để đẩy mạnh âm mưu "diễn biến hòa bình", mua chuộc số cán bộ lãnh đạo chủ chốt hư hỏng, tuyên truyền đả kích chế độ, kích động quần chúng chống đối Đảng... Do vậy, có thể nói, cán bộ lãnh đạo chủ chốt bị suy thoái, xuống cấp về đạo đức sẽ gây tác hại không nhỏ cho Đảng, cho nhân dân.

3. Để góp phần ngăn chặn tình trạng tha hóa đạo đức của cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay, phải cần đến rất nhiều biện pháp đồng bộ khác nhau. Song, xuất phát từ góc độ tiếp cận người cán bộ chủ chốt trong hoạt động của mình luôn bị chế định bởi các quy phạm pháp luật và thường xuyên va chạm với pháp luật, thậm chí một bộ phận cán bộ chủ chốt còn đóng vai trò tư vấn cho hoạt động lập pháp, hoặc trực tiếp tham gia lập pháp, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm ngăn chặn tình trạng tha hóa đạo đức của cán bộ chủ chốt liên quan đến pháp luật và hệ thống pháp luật Việt Nam.(2)

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Hệ thống pháp luật nước ta đã phản ánh tương đối sát trình độ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng được nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội; củng cố quốc phòng. Chúng ta ngày càng có nhiều quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhiều lĩnh vực pháp luật trước đây trong cơ chế kinh tế cũ, không có hoặc không có điều kiện phát triển, thì nay đã phát triển một cách mạnh mẽ. Các ngành luật phát triển tương đối đồng bộ, kỹ thuật lập pháp cũng ngày một tiến bộ hơn. Đây là những thành tựu to lớn và chính những thành tựu này trong lĩnh vực lập pháp đã giúp Việt Nam vượt qua những điều kiện về mặt thể chế mà WTO đặt ra đối với việc kết nạp các thành viên và đương nhiên, đã đáp ứng được đa số nhu cầu phát triển nội tại của đất nước.

Tuy chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần quan trọng vào việc quản lý, điều hành xã hội ngày một tốt hơn; củng cố, hình thành nên những giá trị đạo đức tốt đẹp cho con người, xã hội; hình thành nếp sống và ứng xử theo pháp luật cho đông đảo cán bộ, nhân dân. Song, hệ thống pháp luật Việt Nam đến nay còn nhiều điều phải bàn, như: Hệ thống pháp luật rất đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật; hệ thống pháp luật chưa thống nhất, còn có sự mâu thuẫn, chia cắt, chồng chéo giữa các văn bản. Các văn bản luật, các văn bản dưới luật khác nhau chưa thực sự tạo thành một chỉnh thể với những nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt mang tính chuyên ngành hoặc liên ngành; nhiều bộ luật, đạo luật đã ban hành nhưng chưa đi vào cuộc sống, bởi vì luật chung chung, chưa toàn diện, khó thực hiện; bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít các văn bản pháp luật có tính quy phạm thấp, tức là thiếu những quy tắc ứng xử cụ thể mà chủ thể phải thực hiện.

Chính những hạn chế nêu trên của hệ thống pháp luật Việt Nam là điều kiện để một bộ phận cán bộ chủ chốt lợi dụng kẽ hở của luật pháp làm ăn bất chính. Vì thế, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo nên sự điều chỉnh mạnh mẽ, có hiệu quả trong quản lý xã hội hiện nay nhằm ngăn chặn có hiệu quả việc vi phạm pháp luật của cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt nói riêng.

Hai là, nâng cao tính tự giác rèn luyện hành vi pháp luật, rèn luyện đạo đức, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật của người cán bộ chủ chốt.

Hành vi ứng xử tích cực đối với pháp luật của người cán bộ chủ chốt là một dạng của văn hóa ứng xử: ứng xử theo pháp luật, ứng xử bằng pháp luật. Nghĩa là, trong quan hệ pháp luật, văn hóa pháp lý biểu hiện trong hành vi ứng xử là thực hiện pháp luật một cách tự nguyện, nề nếp, tự nhiên, các chuẩn mực pháp luật được đối xử như các giá trị đạo đức, pháp luật hiện ra như là một phương diện của lương tâm thuộc phạm trù đạo đức. Khi đó, người cán bộ chủ chốt thực hiện pháp luật chính là nhằm điều chỉnh hành vi mang tính cưỡng bức một cách tự nguyện. Đó vừa là thành công, vừa là yêu cầu của quá trình tự rèn luyện hành vi pháp luật đúng đắn của người cán bộ chủ chốt.

Ba là, thực hiện đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật trong đấu tranh chống tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân, xử lý kịp thời và nghiêm minh những cán bộ chủ chốt thoái hóa, biến chất.

Đấu tranh chống tham nhũng là cuộc đấu tranh sống còn để bảo vệ và giữ vững chế độ, để làm lành mạnh môi trường xã hội, làm trong sạch thể chế Đảng và Nhà nước, làm cho đạo đức tinh thần và môi trường xã hội - nhân văn không bị ô nhiễm. Đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí là cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn, phức tạp, bởi tham nhũng luôn gắn với quyền lực nhà nước và đảng chính trị cầm quyền.

Tiến hành chống tham nhũng, xây dựng đạo đức cần lưu ý các biện pháp, như cụ thể hoá Luật Phòng, chống tham nhũng và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm; nâng cao tính độc lập cho cơ quan ủy ban kiểm tra Đảng các cấp và các cơ quan bảo vệ pháp luật; xây dựng cơ chế khuyến khích đông đảo quần chúng nhân dân tham gia và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện thông tin đại chúng trong việc phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng.

Vì thế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng và khắc phục những sơ hở trong cơ chế, chính sách và pháp luật, trong hệ thống pháp luật để cán bộ chủ chốt đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, trau dồi đạo đức cách mạng là hết sức cấp thiết.

Bốn là, đổi mới công tác cán bộ theo hướng coi trọng yêu cầu hiểu biết, vận dụng và thực thi nghiêm minh pháp luật nhằm xây dựng cán bộ chủ chốt vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Người cán bộ chủ chốt phải hiểu biết pháp luật, có khả năng vận dụng pháp luật, có trình độ văn hóa pháp lý cao. Bên cạnh đó, đối với cán bộ chủ chốt, trình độ văn hóa pháp lý như một cẩm nang định hướng, quyết định hành động trong thực thi công vụ. Đó vừa là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng đạo đức cho người cán bộ chủ chốt, vừa là hàng rào thép ngăn chặn họ sa ngã, biến chất, không rơi vào các tệ tham nhũng, quan liêu, xa rời nhân dân. Đồng thời, đó cũng một hành trang tin cậy, một “tấm thẻ bảo hiểm” của người cán bộ chủ chốt trong hành trình phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước đầy gian khổ, khó khăn.

Năm là, hoàn thiện nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với đạo đức công vụ người cán bộ chủ chốt theo nguyên tắc vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân.

Luật hóa đạo đức công vụ cần phải dựa trên mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức. Bởi lẽ, giữa pháp luật với đạo đức công vụ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, pháp luật như là phương tiện để thể chế hóa đạo đức công vụ. Đây chính là mối quan hệ giữa phạm trù nội dung và hình thức: Pháp luật là hình thức pháp lý của đạo đức công vụ, pháp luật về công vụ như là “vỏ bọc, áo khoác pháp lý” của đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ thể hiện, xuyên suốt toàn bộ nội dung pháp luật công vụ.

Trong những năm tiếp theo của sự nghiệp đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát huy vai trò pháp luật trong việc ngăn chặn sự tha hóa đạo đức cho cán bộ chủ chốt cần phải được chú trọng hơn nữa, phải tôn trọng quyền lực tối thượng của pháp luật trong xã hội để mỗi cán bộ chủ chốt luôn thấm sâu nguyên tắc sống, hành động tuân theo pháp luật, xây dựng, rèn giũa đạo đức như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(3), đảm trách tốt nhiệm vụ lãnh đạo trong công việc, trong hướng đạo quần chúng cả về lối sống, hành vi và đạo đức, tích cực phấn đấu cho tiến bộ xã hội, dân chủ và phát triển. 

 

        

 

 


(*) Tiến sĩ, Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội.

([1]) Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.21.

(2) Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) về phòng, chống tham nhũng, Vneconomy, 8-3-2012.

(3) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.9. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.293.

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Điện thoại: +84 435140527, +84 435141134, Fax: +84 435141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007