Tìm kiếm

QUAN ĐIỂM CỨU THẾ LUẬN CỦA CÁC TÔN GIÁO

21/04/2023

Tạp chí Triết học, số 6-2020

NGUYỄN PHÚ LỢI (*)

Bài viết trình bày những nội dung cơ bản trong quan niệm của các tôn giáo về cứu thế luận -một trong những vấn đề trọng tâm của các tôn giáo khi bàn về xã hội và con người. Tuy cách giải thích cũng như mục đích của cứu thế luận là khác nhau, song nhìn chung, các tôn giáo truyền thống chủ yếu hướng tới sự cứu rỗi hay giải thoát về mặt đời sống tâm linh, tinh thần mang tính cá nhân của con người ở thế giới bên kia, sau cái chết. Trong khi đó, các tôn giáo hiện đại lại tập chú nhiều hơn vào vấn đề cứu thế luận mang tính xã hội nhằm mưu cầu hạnh phúc cho con người và xã hội không chỉ về đời sống tinh thần, mà còn cả đời sống vật chất nữa, ngay trong đời sống hiện thực, đặng xây dựng một thiên đường hay cõi cực lạc trên thế gian này, chứ không đợi đến thế giới bên kia, sau cái chết. Vì thế, tôn giáo đã và đang có vai trò, tác dụng không nhỏ góp phần vào sự hoàn thiện xã hội và nhân cách con người.

 

1. Quan điểm cứu thế luận của các tôn giáo truyền thống

Các tôn giáo truyền thống, như Phật giáo, Kitô giáo, Hồi giáo đều bàn đến vấn đề cứu thế hay cứu rỗi, hoặc giải thoát. Theo quan niệm của các tôn giáo này, vì thế gian không hoàn thiện, hoàn mỹ nên cần được cứu rỗi hay giải thoát. Tuy nhiên, quan niệm cứu thế luận của mỗi tôn giáo lại có sự khác nhau.

Quan niệm cứu thế của các tôn giáo khải thị (mạc khải), như Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo đều xuất phát từ Địa Đàng với tư cách là vương quốc trần gian lý tưởng đã đi đến Thiên Đàng (Nước Trời) lý tưởng. Theo quan niệm của Kitô giáo, sở dĩ Chúa phải cứu thế là vì thế gian (Địa Đàng trần gian) đã bị con người (Eva và Ađam) vi phạm luật của Chúa, khi họ bất tuân lệnh truyền của Chúa mà nghe theo sự cám dỗ, ăn trái cấm phá vỡ quy tắc địa đàng do Thiên Chúa lập ra, nên họ bị Chúa trừng phạt, đuổi khỏi Địa Đàng và phải sống cuộc đời lầm than, đau khổ. Nhưng, Thiên Chúa không chỉ là Đấng Tạo hóa toàn năng, tạo ra mọi sự tốt lành, mà Ngài còn là một người cha đầy lòng yêu thương đối với con người sa ngã (tội lỗi). Nếu con người không có khả năng tự mình vào lại địa đàng, lập lại mối quan hệ giao hòa trực tiếp với Thiên Chúa, thì chính Ngài, qua Đức Giêsu Kitô, đã đến với con người, đưa họ trở lại địa đàng mà lúc này, đã trở thành “thiên đàng”. Chúa Giêsu Kitô nhập thế làm người, có sứ mệnh xuống trần gian để giáo hóa con người, chuộc tội thay cho họ và đưa họ về Nước Trời -Thiên Đàng, chứ không phải quay về Địa Đàng - Thiên đường ở trần gian. Như vậy, quan niệm cứu rỗi của Kitô giáo đi từ Địa Đàng đến Thiên Đàng, nghĩa là từ Thiên Đường trần gian đến Thiên Đường trên trời; nói cách khác, từ Địa Đàng trần gian đến Thiên Đàng trên trời.

Nhưng, để đến khi Nước Trời được thiết lập, thế gian phải trải qua biến cố tận thế, sau đó là sự Phục Sinh, Chúa Giêsu Kitô trở lại thực hiện lời phán quyết cuối cùng và lập nên “một trời mới, đất mới” - “Nước Trời nghìn năm” vĩnh hằng. Đó là một xã hội lý tưởng mà ở đấy, “sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa” (Kh 21,4), không có sự áp bức, bóc lột, không có chiến tranh, bất công cũng không có tội lỗi, con người sống với nhau một cách hòa thuận trong tình bằng hữu cùng Thiên Chúa.

Tuy nhiên, theo quan niệm của các tôn giáo mạc khải truyền thống, sự cứu thế chủ yếu mang tính cá nhân và về mặt tinh thần, chứ không phải là sự cứu thế mang tính xã hội. Nghĩa là sự cứu rỗi linh hồn của mỗi cá nhân đơn lẻ, ai làm điều thiện, ăn ở công chính, công bình thì được cứu rỗi linh hồn, được lên thiên đường hưởng phần hạnh phúc đời đời cùng Chúa.

Quan niệm cứu thế của các tôn giáo Ấn Độ, nhất là Phật giáo lại có điểm khác với các tôn giáo nói trên. Phật giáo nguyên thủy (cổ truyền), xuất phát từ khổ (khổ đế), đã cho rằng thế gian là khổ, cuộc sống nhân sinh là khổ. Hoặc lập luận cho rằng, tồn tại vô thường là khổ, nhân sinh (đời người) là bể khổ, nên đưa đến giáo thuyết về Khổ đế (tứ khổ và bát khổ). Sự vô thường của tồn tại và lòng tham dục của con người làm cho thế gian đầy rẫy khổ đau. Rốt cuộc, khổ là sự khổ của cái tồn tại vô thường, mà cái vô thường, có tồn tại rồi lại bị hủy hoại, hủy hoại để rồi lại tồn tại trong vòng nghiệp báo luân hồi không dứt. Khổ là khổ của kiếp người do dục vọng tạo nên nghiệp báo, khiến cho vòng luân hồi hết kiếp này đến kiếp khác trong bể khổ trầm luân. Từ đó, Phật giáo nguyên thủy nêu lên quan niệm cứu thế là cứu con người thoát khỏi vòng nghiệp báo luân hồi. Nhưng, để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghiệp báo luân hồi ấy, thì phải diệt dục mới diệt trừ được khổ, phải tận diệt không còn gì để luân hồi nữa mới đạt được sự giải thoát - Niết Bàn. Nhưng Niết Bàn là một trạng thái hư không, không phải là một cảnh giới hay một nơi chốn như kiểu Thiên Đường của các tôn giáo khải thị. Đó là một trạng thái tịch tịnh, tịch diệt, mục đích cuối cùng của đạo Phật là tịch diệt các phiền não, như tham, sân, si và 10 kiết sử được đoạn diệt hoàn toàn, các tham ái sinh y cũng được đoạn tận hoàn toàn. Tịch diệt là trạng thái an tịnh, an lạc tuyệt đối không còn bị sinh tử chi phối, không còn bị các phiền não ám ảnh. Trong chân lý thứ ba của Tứ diệu đế, diệt đế là chỉ Niết Bàn, tức khổ diệt là Niết Bàn hay ái diệt là Niết Bàn. Sự diệt tắt tham ái, sự diệt tắt sân hận, sự diệt tắt si mê là Niết Bàn([1]).

Như vậy, cứu thế luận của Phật giáo nguyên thủy không phải đưa con người đến một nơi chốn nào hoàn thiện hơn; Niết Bàn không phải là một loại Thiên Đường hay một vương quốc lý tưởng, mà là sự tận diệt. Vì vậy, cứu thế của Phật giáo nguyên thủy đồng nghĩa với diệt thế hay giải thoát; nó xuất thế vì diệt dục và cắt đứt với nghiệp báo luân hồi. Do vậy, Phật giáo nguyên thủy không có ngày tận thế để tái sinh trong thế giới mới như kiểu Thiên đường của khải thị dưới bất kỳ hình thức nào, dù là tinh thần hay vật chất(2).

Sự xuất hiện của Phật giáo Đại Thừa đã đưa đến quan niệm mới về cứu thế luận trên cơ sở “lý giải lại” giáo lý của Phật giáo nguyên thủy. Sự “lý giải lại” này, trước hết là quan niệm về người sáng lập ra Phật giáo. Đức Thích Ca Mâu Ni vốn là người thầy, một nhà hiền triết (theo tiếng Phạn, Mâu Ni nghĩa là một người thầy, một nhà hiền triết) đã được “lý giải lại” trở thành Đức Thích Ca Phật (Phật có nghĩa là thần linh). Như vậy, từ một người thầy, một nhà hiền triết (Mâu Ni) và chỉ có một của Phật giáo nguyên thủy mà thôi, Đức Thích Ca Mâu Ni đã trở thành vị thần linh (Phật) với vô số vị thần linh (vô số Phật) của Phật giáo Đại Thừa.

Trên phương diện cứu thế luận, Phật giáo Đại Thừa đã “lý giải lại” mục đích tu tập của giới tu hành. Quan niệm của Phật giáo nguyên thủy cho rằng, tu tập để đạt đến quả vị A La Hán. Mà A La Hán có nghĩa là người đã diệt trừ được mọi mê lầm, phiền não, thoát khỏi cảnh sinh tử luân hồi, không phải tái sinh nữa, xứng đáng cho chúng sinh cúng dường, nhưng chỉ là sự tự mình giải thoát mình khỏi bể khổ sinh tử luân hồi (tự độ tự tha) mà thôi. Phật giáo Đại Thừa đã lý giải lại, tu tập để đạt đến quả vị Bồ Tát không chỉ giác ngộ cho bản thân mình, mà còn giác ngộ cho người khác “tự giác giác tha” (giác ngộ cho mình rồi phát tâm giác ngộ cho người khác cũng được giải thoát như mình). Như vậy, mục đích của Phật giáo Đại Thừa không chỉ đạt đến quả vị A La Hán để được chúng sinh cúng dường, mà phải trở thành những vị Bồ Tát đầy lòng “từ bi hỷ xả vô ngã vị tha”, sẵn sàng phát tâm cứu độ chúng sinh nơi thế gian. Do đó, cứu thế là cứu độ, cứu khổ, cứu nạn chúng sinh chứ không phải chỉ cứu độ (giải thoát) cho bản thân, mà phải giúp cho người khác (tha nhân) được giải thoát; cứu thế để tồn tại chứ không phải để tận diệt như Phật giáo nguyên thủy. Xuất thế để cứu thế, cứu giúp cho mọi người tai qua nạn khỏi, đem lại cho chúng sinh một cuộc sống an lạc, hạnh phúc hơn, được “lợi lạc quần sinh”. Chính quan niệm đó đã đưa đến tư tưởng bố thí với hình ảnh của những vị Bồ Tát (Bồ Tát theo tiếng Phạn có nghĩa là giác ngộ chúng sinh), đầy lòng yêu thương, cứu vớt chúng sinh khỏi bể khổ trần ai. Vì thế, Bồ Tát đã trở thành nhân vật tiêu biểu của Phật giáo Đại Thừa.(2)

Từ quan niệm trên, một số tông phái của Phật giáo Đại Thừa, nhất là Tịnh Độ tông, đã đưa ra khái niệm về “cõi cực lạc” - một thế giới lý tưởng tựa như Thiên Đường của các tôn giáo khải thị. Đó là một thế giới nằm ở phía Tây trong cõi Sa Bà (hay vũ trụ) của chúng ta, nên còn gọi là cõi Tây phương cực lạc. Đó là nơi Đức Phật A Di Đà cùng các vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí đang giáo hóa chúng sinh, nơi hoàn toàn an lạc, chỉ có vui sướng, không có khổ đau, phiền não. Tịnh Độ tông lấy việc niệm danh Phật A Di Đà làm pháp môn tu cơ bản, cầu sau khi chết được vãng sinh qua cõi cực lạc, để có điều kiện tu học thuận lợi, dễ dàng hơn cõi Sa Bà này(3). Như vậy, để đến được cõi Tây phương cực lạc, chúng sinh không cần phải trải qua sự tận thế, mà chỉ cần chú tâm niệm Phật A Di Đà là đủ.

Một số kinh sách của Phật giáo Đại Thừa đã đề cập tới cảnh giới cõi cực lạc có sự tồn tại của lầu các, rừng cây, hoa lá, chim hót và người tụng kinh như một thế giới hiện sinh, chứ không phải là trạng thái hư vô, tịch tịnh kiểu Niết Bàn. Tuy nhiên, cõi Tây phương cực lạc trong Phật giáo Đại Thừa không phải là một thế giới có thật trên thế gian, mà là một cảnh giới Thiên Đàng lý tưởng không có tái sinh, nhưng lại có sự tồn tại.

Tóm lại, quan niệm cứu thế luận của Phật giáo Đại Thừa không phải để giải quyết cái tồn tại vô thường, giải quyết cái khổ đến tận diệt, mà để đến tồn tại, thường hằng, cứu khổ, cứu nạn chúng sinh không còn bể khổ trần ai. Nhưng, cũng như Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, chủ trương cứu thế luận của Phật giáo Đại Thừa vẫn chỉ là hướng tới sự giải thoát về mặt tư tưởng, tinh thần, nội tâm của mỗi cá nhân chúng sinh mà thôi, chứ không mang tính xã hội.

2. Quan điểm cứu thế luận của các tôn giáo hiện đại

Khi bước sang xã hội hiện đại, các tôn giáo tiến hành hiện đại hóa với nội dung quan trọng là “lý giải lại” giáo lý về sự cứu thế. Hầu hết các tôn giáo hiện đại đều đưa ra quan niệm mới với chủ trương cứu thế không chỉ mang tính cá nhân về mặt tinh thần, mà phải mang tính xã hội, cả trên phương diện vật chất lẫn tinh thần, đặng xây dựng “thiên đường” ngay trên thế gian này.

Quan niệm cứu thế luận mới của Kitô giáo. Từ nửa đầu thế kỷ XX, do hậu quả của các cuộc chiến tranh thế giới và những hệ lụy của nó, người ta bắt đầu nghi ngờ và thất vọng về chủ nghĩa tư bản và những giá trị của nền văn minh Kitô giáo. Từ đó, xuất hiện các dòng triết học về thân phận con người. Đồng thời, nhiều dòng thần học mới xuất hiện nhằm lý giải lại giáo lý của Kitô giáo truyền thống cho phù hợp với xã hội hiện đại.

Châu Âu vốn là nơi có truyền thống thần học kinh viện cao siêu, lại là nơi gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất của hai cuộc chiến tranh thế giới. Bởi vậy, trọng tâm của suy tư thần học về sự cứu thế mới là thân phận con người và các giá trị nhân bản. Từ đầu thế kỷ XX, ở châu Âu đã xuất hiện nhiều dòng thần học cấp tiến mới(4), “họ phê phán gay gắt tư tưởng nguyên ủy của cái ý thức về tội lỗi của Kitô giáo. Họ cho rằng, có một khoảng cách quá lớn giữa Chúa và con người, việc cứu độ nếu chỉ căn cứ vào nỗ lực bản thân thì chẳng khác nào kẻ “tự nắm tóc mình để tự nhấc mình lên khỏi mặt đất”(5). Theo họ, thần học cần phải thoát khỏi những quan niệm siêu hình tôn giáo về Thiên Chúa, về giáo hội quá xa rời thực tại trần thế. Họ phản đối sự cứu rỗi mang tính cá nhân, mà cứu rỗi phải mang tính nhân loại, vì thế giáo hội phải là một liên minh và tập thể đứng trong thế gian, đi cùng nhân loại chứ không phải là một thiết chế siêu hình đứng ngoài hay đứng trên thế gian. Họ ủng hộ các cuộc đấu tranh chống chính trị tàn bạo, người Kitô hữu phải tham gia đấu tranh chính trị nhằm mưu cầu hạnh phúc, phẩm giá cho con người nơi trần thế(6). Trách nhiệm của người Kitô hữu là phải hoạt động trần thế, phải cải tạo chứ không phải chiêm ngẫm trần thế; phải lo cho công ích, công lợi chứ không phải chỉ lo cho lợi ích cá nhân; tôn giáo phải tham gia vào các hoạt động xã hội trần thế chứ không chỉ chú tâm vào việc sự cứu rỗi linh hồn của mỗi cá nhân.

Châu Mỹ Latinh là nơi mà sự cách biệt giàu nghèo, tình trạng bất công xã hội quá lớn, hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Bởi vậy, suy tư của các nhà thần học về sự cứu thế mới đã gắn liền và đồng nhất với tinh thần và hành động của sự nghiệp giải phóng con người khỏi tình trạng nghèo khổ và bất công xã hội.4Từ đó, xuất hiện dòng thần học giải phóng vào những năm 70 của thế kỷ XX, rất nổi tiếng và có nhiều ảnh hưởng đến đời sống chính trị, xã hội ở châu lục này. Các nhà thần học giải phóng Mỹ Latinh cho rằng, cần phải đọc lại Kinh thánh trên tinh thần của công cuộc giải phóng. Nhiệm vụ của thần học là phải lên án sự đàn áp, bất công, nô dịch, bênh vực quyền lợi của người nghèo bị áp bức. Nhiệm vụ chính của Hội thánh là phải giải phóng nhân dân khắp nơi thoát khỏi tình trạng bị áp bức, phi nhân bản mà họ đang gánh chịu. Do đó, cần phải đánh giá lại, thậm chí là cần phải sửa lại giáo lý chính yếu của Kitô giáo; phải noi gương Đức Giêsu Kitô để giải phóng và bảo vệ người nghèo bị áp bức; nước Thiên Chúa ở đời này chứ không phải ở đời sau; tội lỗi của con người chủ yếu là do những điều xấu về mặt xã hội chứ không phải là sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Vì vậy, sứ mạng của Hội thánh là giải phóng con người về mặt chính trị, xã hội chứ không phải mang tính cách chung. Sự nghiệp giải phóng đó chỉ có thành tựu bằng một cuộc cách mạng xã hội, với sự dấn thân của Giáo hội và giáo sĩ đứng về phía người nghèo, người bị áp bức, tập hợp, dẫn dắt họ tiến hành công cuộc giải phóng của chính mình. Đấu tranh giai cấp là có thực nên không thể khoanh tay đứng nhìn, mà phải sống thực tế; cần phải “dìm” Thánh Kinh vào thực tại, tức là phải đọc và giải thích lại Kinh Thánh trên tinh thần của cuộc giải phóng người nghèo bị áp bức; tình yêu tha nhân của người Công giáo chỉ là chuyện trừu tượng cho đến khi nó trở thành một thực thể chính trị.

Một số nhà thần học giải phóng còn cho rằng, để làm rõ căn nguyên của tình trạng nghèo đói và bất công xã hội, cần phải dựa vào phương pháp luận mácxít. Từ đó, hình thành nên trào lưu thần học giải phóng theo khuynh hướng mácxít. Trào lưu thần học này tập chú suy tư vào ba chủ đề chính: Một là, giải phóng người nghèo, họ đồng nhất khái niệm người “vô sản”, người lao động của chủ nghĩa Mác với khái niệm người “nghèo” bị áp bức, bất công ở Mỹ Latinh(7). Hai là, lên án sự thống trị vô nhân đạo của chủ nghĩa tư bản và ca ngợi khát vọng vươn tới chủ nghĩa xã hội. Ba là, lên án tệ sùng bái ngẫu tượng - đồng tiền của chủ nghĩa tư bản - kẻ thù của Thiên Chúa. Họ so sánh sự phê phán của C.Mác về tệ bái vật giáo hàng hóa - đồng tiền của chủ nghĩa tư bản trong Tư bản với tư tưởng Kitô giáo trong cuộc chiến của Chúa trong Kinh Thánh chống lại các ngẫu tượng - Thần Tài, đại diện của sự dữ, của cái ác.

Không dừng lại trên phương diện lý luận, nhiều giáo sĩ ở châu Mỹ Latinh đã dấn thân đi với người nghèo, trực tiếp đứng ra thành lập và lãnh đạo các “cộng đoàn cơ bản” đấu tranh không chỉ chống lại sự áp bức của chủ nghĩa tư bản, mà cả giáo hội thể chế. Từ đó, xuất hiện các phong trào Công giáo theo xu hướng xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước Mỹ Latinh. Những người lãnh đạo phong trào này không tuyên truyền chủ nghĩa vô thần khoa học, mà trái lại, họ còn phát hiện ra rằng, “nhãn quan sơ đẳng nhất của những người dân bị áp bức ở châu Mỹ Latinh là nhãn quan tôn giáo”(8). Vì vậy, họ nêu lên khẩu hiệu khơi dậy tình cảm tôn giáo để tập hợp dân chúng. Theo linh mục Frei Betto, “chính ý nghĩ xuất phát từ các cộng đoàn này, ý nghĩ của đức tin, được xem như ánh sáng để vận động quần chúng đấu tranh giải phóng ở Guatêmala, Pêru, Braxin, Salvador” (9). Vì thế, đã tạo nên một phong trào rộng lớn, chỉ riêng ở Brazin đã có trên 100.000 cộng đoàn giáo hội cơ sở (hay cộng đoàn cơ bản) với trên 3 triệu thành viên.

Tóm lại, thần học giải phóng đã đưa ra sự giải thích lại tư tưởng cứu thế mới mang tính tích cực hơn. Đó là sự gắn kết tư tưởng cứu thế mới với công cuộc giải phóng con người khỏi sự nghèo khổ và bất công xã hội cả trên phương diện vật chất lẫn tinh thần, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Do không rơi vào chủ nghĩa vô thần khoa học một cách thô thiển, cứng nhắc nên thần học giải phóng Mỹ Latinh đã tạo ra những ảnh hưởng lớn, không những lôi kéo được đông đảo tín đồ, chức sắc, mà còn cả giới chính trị gia cấp tiến tham gia vào công cuộc giải phóng người nghèo. Sự thắng lợi của các đảng cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh, như Vênêzuela, Nicaragua, Chilê, Mêhicô, Costarica... trong những năm gần đây đã chứng minh cho điều đó.

Tại châu Á(10), nhiều nhà thần học chủ trương kết hợp tư tưởng cứu thế mới của Kitô giáo với các hệ tư tưởng tiến bộ khác, trong đó có chủ nghĩa Mác để giải phóng người nghèo và toàn xã hội. Tháng 12/1985, Hiệp hội các nhà thần học Ấn Độ đã thông qua Nghị quyết “Hướng tới một nền thần học giải phóng Ấn Độ”, trong đó chủ trương kết hợp “học thuyết của Mác” và “cái nhìn của Gandhi” với mục tiêu “giải phóng toàn diện con người và toàn thể trật tự xã hội khỏi tất cả những gì áp bức và tha hoá. Cuộc giải phóng đó không thể chỉ hoàn toàn có tính cách cá nhân, thiêng liêng hay tâm lý, nó nhất thiết phải có tính xã hội và chính trị”(11). Các nhà thần học cấp tiến ở châu Á cho rằng, thần học Kitô giáo cần phải kết hợp với các tôn giáo truyền thống và các hệ tư tưởng hiện đại “để loại trừ bất công tại châu Á và toàn thế giới, cùng đi trên đường tìm kiếm sự tự do và giải thoát chân chính toàn diện”(12). Theo đó, phải dùng hai phương pháp: “phân tích xã hội theo quan điểm mácxít và phân tích bản ngã nội tâm theo các đạo giác ngộ tạo nên một thế gọng kìm trong cuộc giải phóng các dân tộc Á châu sống trong bối cảnh vừa đạo, vừa nghèo. Một nền thần học đáp ứng được cả hai nghĩa vụ: tôn giáo tu hành và chủ nghĩa xã hội chỉ có thể phát sinh trong giáo hội Á châu chân chính, nghĩa là một giáo hội hoàn toàn được thanh tẩy trong hai dòng nước của bần cùng và tôn giáo của Á châu”(13).

Như vậy, với một nhãn quan mới về tư tưởng cứu thế, các nhà thần học Kitô giáo cấp tiến hiện đại không chỉ đưa ra một cách nhìn mới mẻ, mà còn tích cực dấn thân vào việc cứu thế, trước hết là đối với người nghèo. Họ chủ trương cứu thế trong xã hội hiện đại phải có sự kết hợp giữa giáo thuyết tôn giáo với các trào lưu tư tưởng tiến bộ của thời đại để giải phóng con người cả về mặt chính trị - xã hội, cả trên phương diện đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần.

Quan niệm cứu thế luận mới của Hồi giáo. Từ cuối thế kỷ XIX, thế giới Hồi giáo bắt đầu xuất hiện tư tưởng hiện đại hóa. Đặc biệt, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều trào lưu tư tưởng thần học cứu thế mới ra đời theo khuynh hướng dân chủ tư sản và xã hội chủ nghĩa Hồi giáo. Chủ nghĩa xã hội Hồi giáo dựa trên ba trụ cột chính là đạo Hồi, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội(14). Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội Hồi giáo phủ nhận chủ nghĩa vô thần khoa học và đưa ra chủ trương duy trì chế độ tư hữu.

Cuộc cách mạng Hồi giáo Iran do Giáo chủ Ruhollah Musav Khomeini lãnh đạo năm 1979 được xem là trường hợp điển hình nhất của tư tưởng cứu thế mới của Hồi giáo theo xu hướng dân chủ tư sản. Sự thành công của cuộc cách mạng này trước hết dựa trên sự “lý giải lại” giáo lý của Hồi giáo dòng Shiite về người đứng đầu quốc gia Hồi giáo. Theo quan niệm của những người Hồi giáo dòng Shiite, người đứng đầu nhà nước Hồi giáo phải là một Imam xuất thân trực tiếp từ các hậu duệ của Ali - cháu ngoại đồng thời là con rể của nhà tiên tri Mohammed. Nhưng hậu huệ của Ali chỉ tồn tại đến thế kỷ thứ XI, khi vị Imam thứ 12 bị  “biến mất” một cách bí ẩn. Chính quan niệm này đã làm cho những người Hồi giáo theo dòng Shiite luôn bị coi là tín đồ “hạng hai” và bị người Sunni thống trị hàng nghìn năm. Mâu thuẫn đó đã được giáo chủ R.M.Khomeini giải quyết, khi đưa ra lập luận rằng, trong lúc chưa biết khi nào vị “Imam ẩn giấu” (Imam thứ 12) sẽ trở lại, mà đất nước thì cần phải có người đứng đầu cai quản, nên tạm thời đưa những người không thuộc dòng dõi Ali lên nắm quyền(15). Lý luận đó đã làm thay đổi quan niệm của những người Hồi giáo theo dòng Shiite, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của họ, tạo nên sự thành công của cuộc cách mạng, đưa Iran trở thành một nước Cộng hòa Hồi giáo dưới sự lãnh đạo của vị lãnh tụ tinh thần tối cao(16).

Thắng lợi của cách mạng Iran đã thức tỉnh, khích lệ tinh thần của những người Hồi giáo dòng Shiite, tạo nên “làn sóng Shiite” nhanh chóng lan rộng ra khu vực Trung Đông. Những người Hồi giáo theo dòng Shiite đã chiếm ưu thế trong Chính phủ Irắc. Tại Libăng, phong trào Hezbola của những người Hồi giáo theo dòng Shiite đã trở thành một lực lượng chính trị mạnh mẽ. Hơn nữa, Chính phủ Iran còn ủng hộ phong trào Hamas của người Hồi giáo theo dòng Sunni ở Palextin. Dù không phải là quốc gia Arập, cũng không phải là quốc gia Hồi giáo theo dòng Sunni, song Iran đang trở thành lực lượng đi đầu trong phong trào đấu tranh của thế giới Hồi giáo Arập chống lại Mỹ, Israen và phương Tây(17).

Quan niệm cứu thế mới của Phật giáo. Từ giữa thế kỷ XX, tư tưởng cứu thế mới của Phật giáo có xu hướng kết hợp với các trào lưu tư tưởng tiến bộ, tích cực nhập thế tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á và xây dựng đất nước theo các khuynh hướng tư tưởng khác nhau.

Một là, chủ nghĩa xã hội Phật giáo ở Sri Lanka, Campuchia, nhất là mô hình chủ nghĩa xã hội Phật giáo ở Mianma. Đó là sự hỗn dung giữa chủ nghĩa Mác với Phật giáo; họ coi chủ nghĩa Mác là phương thức cơ bản nhất để giải phóng con người và xã hội, đem lại đời sống vật chất cho xã hội, còn Phật giáo giải quyết vấn đề tâm linh, thỏa mãn nhu cầu tinh thần cho con người. Nói cách khác, chủ nghĩa Mác giải quyết vấn đề đời sống vật chất, còn Phật giáo giải quyết vấn đề tâm linh, tinh thần. Tuy nhiên, họ phủ nhận đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, thậm chí có người còn cho đó là một “sai lầm, bi thảm chứ không từ bi như Phật giáo”(18).

Hai là, chủ nghĩa dân chủ tư sản Phật giáo ở Ấn Độ, do Bhimarao Ramji Ambedka (1893-1956) khởi xướng nhằm đấu tranh để nâng cao địa vị chính trị, xã hội cho tầng lớp tiện dân, chống lại chế độ đẳng cấp của Bàlamôn giáo và Ấn Độ giáo. Ông cho rằng, Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra Phật giáo vì muốn tránh chiến tranh chứ không phải vì phát hiện ra chân lý đời là bể khổ. Theo ông, Phật giáo phải nhập thế, các tăng ni, phật tử phải phục vụ xã hội hiện thực, coi đó là trách nhiệm của mình. Tín đồ Phật giáo phải phát huy tác dụng duy trì đạo đức và trật tự xã hội. Tân Phật giáo ở Ấn Độ là sự hỗn dung giữa tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng của phương Tây với Phật giáo(19).

Ba là, chủ nghĩa dân chủ Phật pháp ở Nhật Bản do Makiguchi (1971-1944) khởi xướng. Năm 1930, ông thành lập giáo phái Soka Gakhai (Sáng giá hội học) mở đầu cho phong trào cứu thế mới theo khuynh hướng duy nạp các trào lưu tư tưởng tiến bộ hiện đại với Phật giáo nhằm đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Từ những năm 1960, dưới thời giáo chủ Daikaku Ikeda, giáo phái này phát triển mạnh mẽ và đi vào xu hướng chính trị hóa một cách sâu sắc; họ tham gia chính trường, ứng cử vào các cơ quan nghị viện địa phương và trung ương. Năm 1964, họ thành lập Đảng Công Minh tuyên bố lấy chủ nghĩa dân chủ Phật pháp làm nền tảng, làm trong sạch (tịnh hóa) chính giới Nhật Bản, thành lập nền dân chủ nghị viện để mưu cầu phúc lợi cho dân chúng. Họ phê phán cả chủ nghĩa dân chủ tư sản lẫn chủ nghĩa xã hội là không hoàn thiện, thiếu nhân tính, chỉ có chủ nghĩa dân chủ Phật pháp mới hoàn thiện và mang tính nhân bản. Họ cho rằng, cứu thế phải có tính hiện thực, phải xây dựng “thiên đường” ngay trên thế gian này. Họ thay thế học thuyết “Chân, Thiện, Mỹ” bằng học thuyết giá trị về “Lợi, Thiện, Mỹ” và cho rằng, cái mà con người hiện đại quan tâm không còn là sự thưởng phạt thiện, ác ở thế giới bên kia - sau khi chết, mà là vấn đề luân lý, đạo đức trong thế giới hiện thực. Theo họ, cứu thế mới phải kết hợp giữa tư tưởng giải thoát, cực lạc “lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” của Phật giáo với tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái tư sản và chủ nghĩa xã hội. Họ phủ nhận giải thoát mang tính tinh thần cho từng cá nhân, mà phải mang tính xã hội và nhân loại cả về mặt tinh thần lẫn vật chất; cõi cực lạc không phải đến sau cái chết, mà phải ngay trên thế gian này. Hiện nay, đảng này đã trở thành đảng chính trị đứng thứ ba ở Nhật Bản, với số lượng tín đồ lên tới 10 triệu người. 

Tại Việt Nam, từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã xuất hiện phong trào cứu thế mới với sự ra đời của các “Ông Đạo”, thường được gọi là phong trào cứu thế Nam Bộ hay dòng Tiên tri Nam Bộ. Tôn giáo, nhất là Phật giáo, Đạo giáo trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng đấu tranh giải phóng dân tộc.

3. Một vài nhận xét

Với tư cách là một sản phẩm của lịch sử, một hiện tượng lịch sử - xã hội, các tôn giáo luôn lấy xã hội và con người làm đối tượng. Từ đó, nảy sinh vấn đề nhân sinh quan, xã hội quan của các tôn giáo. Vấn đề trung tâm của nhân sinh quan và xã hội quan của tôn giáo là tìm cách lý giải về sự cứu thế (cứu rỗi, giải thoát) và tận thế (diệt thế) của xã hội và con người.

Do quan niệm nhìn nhận thế gian không hoàn thiện, hoàn mỹ nên các tôn giáo đều cho rằng, thế giới và con người cần được cứu rỗi hay giải thoát. Từ đó, các tôn giáo đã nêu lên hệ thống giáo thuyết về cứu thế luận. Nhìn chung, các tôn giáo truyền thống chủ yếu tập trung vào vấn đề cứu thế luận về mặt tinh thần cho mỗi cá nhân con người ở thế giới bên kia, sau cái chết. Nhưng do đề cao tính hướng thiện, nhân bản, nên xét dưới góc độ đạo đức học, cứu thế luận của các tôn giáo truyền thống có vai trò tích cực nhất định về sự hoàn thiện nhân cách con người và xã hội. Trong khi đó, các tôn giáo hiện đại ngày càng chú trọng đến sự cứu thế mang tính xã hội, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần trên thế gian này. Do đó, trào lưu tư tưởng cứu thế mới của các tôn giáo hiện đại có ảnh hưởng và vai trò tích cực đến xã hội hiện đại.

Bên cạnh quan niệm về cứu thế luận, các tôn giáo cũng nêu lên hệ thống giáo thuyết về tận thế luận. Chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề tận thế luận trong bài viết khác. 


(*) Tiến sĩ, Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.

([1]) Thích Minh Châu, Minh Chi. Từ điển Phật học Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr.486.

(2) Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh. Phật giáo trong văn hóa Việt Nam. Nxb Văn hóa - Thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội, 2011, tr.479-480.

(3) Thích Minh Châu, Minh Chi. Sđd., tr.140.

(4) Các dòng thần học tiêu biểu, như Thần học biện chứng; Thần học Chính trị; Thần học hiện sinh; Thần học Văn hoá; Thần học Đen; Thần học Phụ nữ, Thần học Thế tục, Thần học Chúa đã chết,

(5) Đỗ Quang Hưng. Công giáo thế kỷ XX: Vài khía cạnh tiến triển của thần học. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4/2001, tr.5.

(6). Đỗ Quang Hưng. Sđd., tr.6.

(7) Những người tham gia công đoàn Kitô giáo mácxít ở En Salvador đã đưa ra thuật ngữ những vô sản nghèoPobretariado” hay “pauvrétariat” bao gồm tất cả mọi thành phần của dân chúng bị áp bức và bóc lột.

(8) Fidel và tôn giáo - những cuộc trao đổi với linh mục Frei Betto. Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP Hồ Chí Minh, 1988, tr.246

(9) Sđd., tr.245-246.

(10) Xem: Nguyễn Phú Lợi. Vài nét về thần học Á châu. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 và 5/2006.

(11) Hiệp hội các nhà thần học Ấn Độ. Hướng tới một nền thần học giải phóng Ấn Độ. Tuyển tập thần học, số tháng 6.1989, tr.148.

(12) A.Pieris. Thần học từ lòng mẹ Á châu. Tuyển tập thần học, số tháng 10.1989, tr.10.

(13) A.Pieris. Sđd., tr.28.

(14) Hoàng Tâm Xuyên. Mười tôn giáo lớn trên thế giới. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.826-827.

(15) Nguyễn Văn Dũng. Vài nét về cách mạng Isalm giáo và cộng hòa  Islam giáo Iran. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4-2009, tr.48.

(16) Theo: Nguyễn Văn Dũng. Sđd., tr.49. Hiện nay, lãnh tụ tinh thần tối cao của Nhà nước Iran là Giáo chủ Ali Khamenei, thay thế Giáo chủ R.M. Khomeini đã mất năm 1989.

(17) Theo: Nguyễn Văn Dũng. Sđd., tr.49.

(18) Dương Tăng Văn (chủ biên). Đương đại Phật giáo. Nxb Đông Phương, 1997, tr.89.

(19) Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Hạnh. Phật giáo trong văn hóa Việt Nam. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2011, tr.457-457.

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Điện thoại: +84 435140527, +84 435141134, Fax: +84 435141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007