Tìm kiếm

THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRUNG QUỐC HIỆN TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

07/03/2023

DƯƠNG THÔNG TIẾN (*)

Những năm gần đây, việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong vấn đề bảo vệ môi trường ở các doanh nghiệp tại Trung Quốc được ghi nhận là từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, về tổng thể quá trình thực hiện này vẫn còn khoảng cách rất lớn so với sự mong đợi của xã hội. Bài viết nghiên cứu các biểu hiện chủ yếu của tình trạng thiếu trách nhiệm xã hội trong vấn đề bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp ở Trung Quốc, nguyên nhân và các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu là việc doanh nghiệp trong một khoảng thời gian cụ thể tự nguyện chịu trách nhiệm về kinh tế, pháp luật và đạo đức trước tất cả các chủ thể lợi ích có liên quan.

Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ 20. Cho đến sau những năm 80 của thế kỷ XX, khái niệm này dần được công nhận tại phương Tây. Từ sau những năm 90 của thế kỷ XX, phong trào “vận động thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” dần diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ngày càng nhiều các công ty đa quốc gia yêu cầu các đối tác, các nhà cung cấp của họ phải tiếp nhận những tiêu chuẩn bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường, v.v. và tuân thủ thi hành, kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội về môi trường của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn sản phẩm và sự phục vụ của mình thâm nhập thành công vào thị trường quốc tế thì nhất định phải công bố báo cáo về việc thực hiện trách nhiệm xã hội về môi trường và chứng nhận của một tổ chức độc lập có thẩm quyền xác nhận về báo cáo đó. Vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội đã trở thành một trong những điều kiện tiên quyết giúp các doanh nghiệp tăng cường sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế.(*)

1. Hiện trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp Trung Quốc

Năm 2001, cùng với sự kiện Trung Quốc chính thức gia nhập WTO, việc xây dựng trách nhiệm xã hội đối với các doanh nghiệp từng bước được tiến hành. Từ sau năm 2005, một số doanh nghiệp đã tự công bố các “Báo cáo thực hiện trách nhiệm xã hội” của công ty mình. Tháng 1 năm 2008, Ủy ban quản lý và giám sát tài sản quốc hữu của Quốc vụ Viện ban hành “Hướng dẫn chỉ đạo thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trung ương”, nhằm hướng dẫn chi tiết cho các doanh nghiệp trung ương về các nội dung, nguyên tắc và biện pháp cơ bản nhằm thực hiện trách nhiệm xã hội. Từ đó, việc thực hiện trách nhiệm xã hội trong các doanh nghiệp Trung Quốc mới chính thức được tiêu chuẩn hóa, hệ thống hóa và đi vào nề nếp. Mặc dù vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Trung Quốc, xét về tổng thể, vẫn chưa được như mong đợi.

Theo số liệu của “Sách xanh về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” (từ báo cáo của nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trung Quốc năm 2011) cho thấy, trong bảng xếp hạng 100 doanh nghiệp của Trung Quốc (bao gồm 100 doanh nghiệp của Nhà nước, 100 doanh nghiệp tư nhân và 100 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) có chỉ số phát triển về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp chỉ đạt được bình quân 19,7 điểm, trong đó có duy nhất một doanh nghiệp tư nhân thuộc nhóm đạt điểm xuất sắc (đạt trên 80 điểm trở lên); có 23 doanh nghiệp (chiếm 7,7%) thuộc nhóm các doanh nghiệp dẫn đầu (đạt từ 60 đến 80 điểm); 36 doanh nghiệp (chiếm 12%) thuộc nhóm các doanh nghiệp đang phát triển (đạt từ 40 đến 60 điểm); 35 doanh nghiệp (chiếm 11,7%) thuộc nhóm các doanh nghiệp bắt đầu triển khai (đạt từ 20 đến 40 điểm); 205 doanh nghiệp (chiếm 68,3%) thuộc nhóm các doanh nghiệp không quan tâm (đạt từ 20 điểm trở xuống) và nhóm các doanh nghiệp hoàn toàn không có một chút đóng góp nào trong việc thúc đẩy vấn đề quản lý và thực hiện trách nhiệm xã hội (có 26 doanh nghiệp bị 0 điểm). “Sách xanh về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc tiếp tục chia chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thành 4 chỉ số cấp hai, gồm: Chỉ số quản lý trách nhiệm (chiến lược trách nhiệm, kiểm soát trách nhiệm, v.v.), chỉ số trách nhiệm thị trường (trách nhiệm với khách hàng, đối tác và cổ đông), chỉ số trách nhiệm đoàn thể xã hội (trách nhiệm của chính phủ, trách nhiệm của công nhân viên, trách nhiệm của phường xã, v.v.) và chỉ số trách nhiệm môi trường (quản lý môi trường, tiết kiệm tài nguyên năng lượng, giảm trừ ô nhiễm, phát thải, v.v.). Theo chỉ số này, tổng điểm trung bình của các doanh nghiệp Trung Quốc trong năm 2011 đạt 18,3 điểm (tăng so với năm 2010 chỉ đạt 14,95 điểm), trong đó chỉ có 4 doanh nghiệp (đều là doanh nghiệp nhà nước) đạt trên 80 điểm; 100 doanh nghiệp mạnh của Nhà nước đạt 26,9 điểm chỉ số trách nhiệm môi trường, cao hơn 100 doanh nghiệp mạnh có vốn đầu tư của nước ngoài (đạt 17,2 điểm) và 100 doanh nghiệp mạnh của tư nhân (đạt 10,7 điểm). So sánh với đại đa số các doanh nghiệp khác, bảng xếp hạng 100 các doanh nghiệp mạnh kể trên đều có lợi thế hơn rất nhiều các doanh nghiệp khác ở vốn, nhân tài, thực lực, lợi nhuận, v.v.; tuy nhiên, việc thi hành trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp này vẫn còn rất hạn chế, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng khiến nhiều người phải quan ngại.

Bảng biến đổi chỉ số trách nhiệm bảo vệ môi trường của top 100 doanh nghiệp mạnh Trung Quốc (2010-2011)

 

 

Năm 2010

Năm 2011

Doanh nghiệp nhà nước

23,77

26,9

Doanh nghiệp tư nhân

10,93

10,7

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

10,13

17,2

Biểu hiện chủ yếu của những thiếu sót trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, thiếu ý thức bảo vệ môi trường. Ví dụ, doanh nghiệp thiếu tinh thần trách nhiệm bảo vệ môi trường; coi việc tối đa hóa lợi nhuận là mục đích duy nhất; hiếm khi chú ý đến hình ảnh cộng đồng của doanh nghiệp và vấn đề phát triển bền vững; chủ yếu chỉ hướng đến các lợi ích ngắn hạn. Thứ hai, sự thiếu sót trong việc quản lý, giám sát vấn đề bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ, phương pháp quản lý, giám sát việc bảo vệ môi trường trong các doanh nghiệp vẫn còn lạc hậu (để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường rồi mới tìm cách xử lý), trình độ xử lý ô nhiễm môi trường còn thấp, không có hoặc thiếu các phòng ban chuyên môn phụ trách vấn đề bảo vệ môi trường. Thứ ba, việc phân bổ chi phí đầu tư còn thiếu hiệu quả và khoa học. Chẳng hạn, chi phí bảo vệ môi trường không được tính trong chi phí sản xuất; không nhận thức được việc bảo vệ môi trường sẽ mang lại những lợi ích về lợi nhuận. Thứ tư, các doanh nghiệp tìm mọi cách trốn tránh trách nhiệm bảo vệ môi trường. Ví dụ, tìm cách né tránh việc kiểm tra, đánh giá công tác bảo vệ môi trường; không lắp đặt các thiết bị bảo vệ môi trường theo luật định hoặc đã lắp đặt nhưng không vận hành, sử dụng; lén lút thải các chất gây ô nhiễm môi trường; không công khai các tin tức về môi trường, các rủi ro tiềm ẩn có thể gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp mình. Thứ năm, thờ ơ với các hoạt động của cộng đồng về bảo vệ môi trường, như thiếu sự hưởng ứng các hoạt động cộng đồng về bảo vệ môi trường; quyên góp với số lượng rất ít vào các quỹ bảo vệ môi trường hoặc thiếu tích cực khi tham gia vào các hoạt động trợ giúp cộng đồng về bảo vệ môi trường.

2. Nguyên nhân của việc thiếu trách nhiệm xã hội trong việc bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp Trung Quốc

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thiếu trách nhiệm xã hội trong việc bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp Trung Quốc.

Xét từ góc độ vĩ mô (xã hội), việc xây dựng xã hội dân sự tại Trung Quốc vẫn còn kém phát triển. Sự tự do hoạt động và phạm vi hoạt động của các tổ chức dân sự còn nhỏ, điều này khiến người dân khó có thể tham gia một cách hiệu quả vào việc hoạch định và quyết định những vấn đề về bảo vệ môi trường. Ngay cả khi doanh nghiệp gây ô nhiễm đối với môi trường nhưng chính quyền địa phương vẫn không có một động thái nào, thậm chí vì lợi ích cá nhân còn thiên vị, trở thành ô dù bảo vệ cho các hành động gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp này. Trong khi đó, người dân lại không thể tự do tổ chức các cuộc biểu tình nhằm bày tỏ sự phản đối các hành vi gây ô nhiễm môi trường của doanh nghiệp như những người dân ở các nước phát triển trên thế giói. Mức độ tự do báo chí còn thiếu khiến truyền thông khó có thể trở thành một vị “Hoàng đế không ngai” để đưa ra những tiếng nói phê phán sự “thiếu linh nghiệm” của thị trường và chính phủ trong việc bảo vệ môi trường. Trách nhiệm xã hội trong việc bảo vệ môi trường là một vấn đề mới, ra đời ở các nước phát triển; vì thế, để nhận thức được đòi hỏi phải có cả một quá trình. Xây dựng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tự thân, nội tại và quá trình này không thể thành công trong một sớm một chiều.

Xét từ góc độ chính phủ, Trung Quốc hiện tại thiếu các quy chế và điều đó đã kìm hãm quá trình xây dựng, thực hiện trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp. Vấn đề đầu tiên là vẫn còn tồn tại những bất cập trong quản lý hành chính khiến hoạt động của chính quyền địa phương trở nên phiến diện, chỉ tìm cách tăng trưởng GDP bằng mọi giá, thậm chí hi sinh cả vấn đề môi trường để đạt được mục đích phát triển kinh tế. Ở Trung Quốc hiện nay, nguồn thu chủ yếu của chính quyền địa phương phần lớn là từ việc nộp thuế của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn; rất nhiều doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường lại là các đối tượng nộp thuế nhiều nhất. Vì khoản tiền thu thuế không nhỏ này, chính quyền địa phương thường có xu hướng ngầm ưng thuận hay dung túng cho các doanh nghiệp có hành vi gây ô nhiễm môi trường. Giới chức trách quá chú trọng vào các chỉ số tăng trưởng kinh tế (như chỉ số GDP) mà xem nhẹ chỉ số xã hội và chỉ số bảo vệ môi trường. Thực tế đó cho thấy, chính quyền địa phương không có nhận thức đúng đắn về các thành tựu tăng trưởng GDP, làm cho vấn đề bảo vệ môi trường luôn bị coi nhẹ so với vấn đề tăng trưởng GDP.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp quy quản lý môi trường của Trung Quốc còn rất nhiều thiếu sót. Ở Trung Quốc, việc xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường thường tham khảo rất nhiều ý kiến của các phòng ban của chính phủ hay từ chính các doanh nghiệp; trong khi đó, các cá nhân, người dân hay các tổ chức phi chính phủ về bảo vệ môi trường lại rất khó có cơ hội tham gia vào quá trình xây dựng hay sửa đổi các quy định này. Vì vị thế ưu tiên và lợi ích có liên quan giữa các phòng ban quản lý của chính phủ với các doanh nghiệp nên rất khó ban hành những quy định cụ thể về trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp, từ đó khiến hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc thiếu hoàn thiện. Đồng thời, các quy định về việc xử phạt đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm thường không rõ ràng và khiến doanh nghiệp có nhiều cơ hội tìm cách lách luật.

Ngoài ra, khả năng thi hành các quy định bảo vệ môi trường của các ban ngành chức năng của Trung Quốc còn chưa đáp ứng được yêu cầu, nếu không muốn nói là còn rất yếu kém. Căn cứ vào thể chế hiện tại, giữa Bộ Môi trường và các chính quyền địa phương có sự phụ thuộc lẫn nhau. Những người quản lý công tác môi trường ở địa phương do Bộ trực tiếp phân công quản lý, nhưng về mặt tài chính và chi phí cho việc thực thi công việc lại do chính quyền địa phương dự toán và phân bổ. Sự chồng chéo trong cách thức quản lý như vậy không những làm cho Bộ Môi trường không phát huy được khả năng quản lý của mình mà còn khiến chủ nghĩa bảo hộ địa phương có cơ hội phát triển, gây phiền nhiễu đối với công tác bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy, chính việc phân cấp quản lý không hợp lý (phân tán, chồng chéo), việc phân bố ngân sách không khoa học đã cản trở rất nhiều đến công tác thực thi pháp luật bảo vệ môi trường ở Trung Quốc. Đồng thời, kéo theo đó là khả năng đáp ứng yêu cầu thực thi chính sách pháp luật bảo vệ môi trường ở địa phương khó có thể thực hiện được.

Từ góc độ vĩ mô, các chính sách quản lý và khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện thực hiện trách nhiệm xã hội đối với môi trường vẫn còn nhiều bất cập và thiếu hiệu quả. Ví dụ, chế độ thu phí nước thải chưa được tiêu chuẩn hóa. Hiện nay, mức thu phí nước thải rất thấp, không đủ để răn đe các doanh nghiệp vi phạm. Việc thu phí có vai trò quan trọng trong việc kiềm chế và khích lệ các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, nhưng một số chính quyền địa phương khi mở thầu kêu gọi đầu tư đã không thông báo các mức ưu đãi khác nhau đối với doanh nghiệp, không đánh thuế suất cao với các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường, không thực hiện các ưu đãi và hỗ trợ về thuế đối với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới tiên tiến, giảm thiểu mức tiêu thụ tài nguyên, chi phí đầu vào. Chính quyền địa phương cũng không hỗ trợ và ưu đãi về thuế đối với những doanh nghiệp đã có hành động liên kết quá trình sản xuất với việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường; ngược lại, lại hỗ trợ các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nhưng có nhiều đóng góp cho sự tăng trưởng GDP của địa phương. Tất cả những điều này khiến các doanh nghiệp không còn động lực để thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp mình.

3. Các giải pháp nhằm tăng cường trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp

Xây dựng trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp là một dự án có hệ thống. Tại Trung Quốc, trong điều kiện tính tự giác của các doanh nghiệp còn thấp và thiếu động lực thực hiện thì việc tạo ra một môi trường xã hội thuận lợi nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp thực thi trách nhiệm xã hội về bảo vệ môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng. Theo đó, cần:

Một là, tăng cường xây dựng xã hội dân sự. Xã hội dân sự phát triển hoàn thiện là tiền đề quan trọng thúc đẩy các doanh nghiệp thực thiện trách nhiệm xã hội đối với môi trường. Với tinh thần cải cách và đổi mới, Trung Quốc cần từng bước thiết lập và kiện toàn cơ chế pháp luật bảo vệ môi trường có sự tham gia giám sát của người dân, xác lập vị trí chủ thể pháp lý độc lập của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường, đảm bảo người dân có quyền thành lập các nhóm bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền cơ bản về tự do bày tỏ các ý kiến bảo vệ môi trường của người dân; đảm bảo tính tự do của truyền thông, có quyền tự do lên tiếng phê bình một cách độc lập đối với các doanh nghiệp gây ô nhiễm và chính quyền địa phương dưới góc độ bảo vệ môi trường. Người dân phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, phải có tinh thần hỗ trợ và cùng tham gia với các doanh nghiệp trong sự nghiệp bảo vệ môi trường, bỏ phiếu bất tín nhiệm với các doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường bằng cách tẩy chay mua bán sản phẩm của các doanh nghiệp đó. Tăng cường tuyên truyền về vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, kêu gọi sự tham gia góp sức của toàn xã hội trong cuộc vận động thúc đẩy, tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, xây dựng một bầu không khí xã hội lành mạnh nhằm giúp các doanh nghiệp nhận thức được ích lợi phát triển lâu dài của việc thực thi trách nhiệm bảo vệ môi trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường của doanh nghiệp, từ đó nâng cao tính tự giác và sự chủ động thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp.

Hai là, nâng cao tính độc lập và quyền hạn của các cơ quan quản lý pháp luật về bảo vệ môi trường. Sự điều chỉnh này phải phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại và nền hiến pháp dân chủ, thiết lập một hệ thống pháp luật môi trường mang tính thống nhất trên phạm vị toàn quốc. Cần thiết phải giao cho các bộ phận bảo vệ môi trường cấp cơ sở có quyền hạn độc lập tương đối, tránh can thiệp không chính đáng vào công việc của chính quyền địa phương; thông qua các biện pháp pháp lý để mở rộng và nâng cao phạm vi quyền hạn của các cơ quan quản lý, bảo vệ môi trường.

Ba là, xây dựng một hệ thống quy chế đa cấp trong việc bảo vệ môi trường. Trước hết, phải lấy quan điểm phát triển một cách khoa học làm nền tảng, có nhận thức đúng đắn về phát triển, thay đổi xu hướng bổ nhiệm cán bộ chỉ chú trọng đến các thành tựu về mặt kinh tế mà xem nhẹ các thành tựu về mặt bảo vệ môi trường. Chính phủ cần phải thúc đẩy hơn nữa quá trình hợp pháp hóa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, bắt đầu từ nội quy chung trong từng doanh nghiệp, nhấn mạnh nghĩa vụ thực hiện các trách nhiệm xã hội cơ bản, tiêu chuẩn hóa và pháp lý hóa các trách nhiệm xã hội trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ cũng nên nhanh chóng xây dựng một cơ quan chứng nhận độc lập để giám sát, quản lý một cách khoa học.

Tiếp đó, thiết lập một hệ thống pháp lý thích hợp với tư tưởng phát triển khoa học, xây dựng và cải thiện mọi hệ thống pháp lý cơ bản về bảo vệ môi trường, bao gồm bảo hiểm trách nhiệm môi trường bắt buộc, quy chế về quỹ bồi thường thiệt hại môi trường, cơ chế kiểm soát giấy phép phát thải, cơ chế thu phí phát thải, cơ chế đánh giá ảnh hưởng môi trường, v.v. nhằm hoàn thiện, minh bạch và công bằng hệ thống pháp lý. Đồng thời, cần từng bước mở rộng phạm vi các giao dịch mua bán quyền phát thải (đặc biệt là quyền phát thải CO2), hoàn thiện cơ chế quản lý quyền mua bán phát thải.

Cuối cùng, cần phải đề ra một loại thuế môi trường đặc biệt, dùng loại thuế này để thúc đẩy các doanh nghiệp tự giác thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Tóm lại, Trung Quốc còn rất nhiều việc phải làm để nâng cao hơn nữa tính tự giác và chủ động trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội (bao gồm cả trách nhiệm bảo vệ môi trường) của các doanh nghiệp ở Trung Quốc. Tín hiệu đáng mừng là, cả người dân lẫn chính phủ luôn không ngừng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp; hơn nữa, đã và đang hành động một cách tích cực nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội. Chúng tôi tin rằng, cùng với nền kinh tế thị trường Trung Quốc ngày càng trưởng thành, xã hội dân sự ngày càng hoàn thiện và công cuộc xây dựng một cách toàn diện nền văn minh sinh thái, các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ khiến chúng ta hài lòng khi họ thực hiện ngày càng tốt hơn trách nhiệm xã hội của công ty mình. 

Người dịch: NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

(Viện Triết học,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)


(*) Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc.

Liên hệ với chúng tôi:

Bản quyền thuộc về Viện Triết Học, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam

Điện thoại: +84 435140527, +84 435141134, Fax: +84 435141935

Email: vnphilosophy@yahoo.com

Địa chỉ: 59 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.

Giấy phép số 211/GP-BC của Bộ VHTT cấp ngày 29 tháng 5 năm 2007