ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư là xu thế phát triển của thời đại ngày nay và cũng là cơ
hội quý giá có thể giúp Việt Nam sớm đạt mục tiêu “trở thành một nước công
nghiệp hiện đại” theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, cuộc cách mạng
này cũng đem lại những thách thức có thể khiến cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam diễn ra lâu dài hơn. Để làm rõ những ảnh hưởng đó, bài viết
phân tích hai nội dung: Thứ nhất, cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo
thời cơ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thứ hai, cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra thách thức cho công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo bản chất và đặc điểm của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, sự phân tích về thời cơ và thách thức tập trung vào các
vấn đề: Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và của cách thức sản
xuất, sự phát triển của xã hội và quản lý sự phát triển của xã hội.
Từ khóa: Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất, cách
thức sản xuất.
Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư được khởi xướng từ nước Đức vào đầu
thập niên thứ hai của thế kỷ XXI. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư là “xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ
thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của
Internet vạn vật và Trí tuệ nhân tạo” [5, tr.1]. Bản chất của cuộc
cách mạng này là “dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công
nghệ thông minh” [6, tr.6] nhằm tối ưu hóa quy trình và cách thức sản xuất,
dẫn đến thay đổi căn bản nền sản xuất của thế giới. Nếu đặc điểm của
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là dựa trên năng lượng hơi
nước, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai là dựa trên năng lượng
điện, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba là dựa trên công nghệ điện
tử và công nghệ thông tin, thì đặc điểm của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư là “tận dụng một cách triệt để sức mạnh lan tỏa
của số hóa và công nghệ thông tin” [5, tr.1]. Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đang diễn ra với tốc độ khác nhau ở mỗi quốc gia,
nhưng ảnh hưởng của nó ngày càng gia tăng tới mọi mặt của đời sống xã
hội, nhất là “đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của
xã hội” [5, tr.1].
Với bản chất và
đặc điểm đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được nhận định là sẽ
có những ảnh hưởng rất đáng kể đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam. Vì thế, ngay sau các Diễn đàn kinh tế thế giới về cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ 4 trong năm 2016, Chính phủ Việt Nam đã ra Nghị quyết số
103/NQ-CP Về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 năm 2016) và Thủ
tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg Về việc tăng cường năng
lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Góp phần làm rõ
ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, bài viết phân tích hai nội dung: Một là, cách mạng
công nghiệp lần thứ tư tạo thời cơ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam; hai là, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra thách thức
cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Dựa trên bản chất và đặc
điểm của cuộc cách mạng này, sự phân tích về thời cơ và thách thức sẽ tập
trung vào các vấn đề: Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và của cách
thức sản xuất, sự phát triển của xã hội và quản lý sự phát triển của xã hội.
1. Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư tạo thời cơ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam
Thứ nhất,
cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo thời cơ cho sự phát triển lực lượng
sản xuất và cách thức sản xuất ở Việt Nam.
Diễn ra trên
cơ sở thành tựu của tất cả các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó,
với những tư liệu lao động mới, đối tượng lao động mới và công nghệ
mới, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hứa hẹn mang lại cho nhân
loại cơ hội phát triển vượt bậc về lực lượng sản xuất và cách thức sản
xuất. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
theo quan điểm phát triển rút ngắn ở Việt Nam, vì đó là cơ hội quý giá để Việt
Nam có thể nhanh chóng phát triển trình độ của lực lượng sản xuất, xây dựng và
hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Bởi, sự cách mạng về tư
liệu lao động sẽ dẫn đến sự cách mạng về trình độ của lực lượng sản xuất và
cách thức sản xuất. Như C.Mác đã chỉ ra, trình độ phát triển “của lực lượng
sản xuất của một dân tộc biểu lộ ra rõ nhất ở trình độ phát triển của
sự phân công lao động” [3, tr.30], mà mỗi giai đoạn của phân công lao động
lại “quy định những quan hệ giữa cá nhân với nhau, tùy theo quan hệ
của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động” [3,
tr.31]. Và rằng, chính việc “cải cách các tư liệu sản xuất” [4, tr.673] (là
cái biểu hiện ra của tư liệu lao động và đối tượng lao động [4, tr.271])
sẽ dẫn đến làm thay đổi cách thức sản xuất.
Lịch sử nhân
loại đã cho thấy, qua mỗi cuộc cách mạng công nghiệp, tư liệu sản xuất,
nhất là tư liệu lao động, lại được cải tiến và nhờ đó, sức lao động của
con người được giải phóng thêm, hiệu suất lao động được nâng cao, sản
phẩm được làm ra nhiều hơn và phục vụ tốt hơn đời sống của con
người. Chẳng hạn, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, lao động
thủ công đã “được thay thế bằng động lực hơi nước và bằng công việc
của máy móc”, nhờ đó “một đứa trẻ lên tám cũng sản xuất được nhiều
hơn hai mươi đàn ông lớn tuổi trước kia. Sáu trăm ngàn công nhân công
xưởng, trong số này có một nửa là trẻ em và hơn một nửa là nữ,
làm công việc của một trăm năm mươi triệu người” [2, tr.844]. Cho nên,
đúng như C.Mác khẳng định, những thời đại kinh tế khác nhau “không phải
ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng
cách nào, với những tư liệu lao động nào” [4, tr.269]. Trong số các tư
liệu lao động, “những tư liệu lao động cơ khí - mà toàn bộ có thể
gọi là hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản xuất - lại cấu thành
những dấu hiệu đặc trưng tiêu biểu cho một thời đại sản xuất xã hội
nhất định” [4, tr.270].
Trong cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các tư liệu sản xuất được cải cách và
nâng lên một trình độ phát triển cao. Điều này thể hiện ở chỗ, trên cơ sở “các
nhà máy đã sử dụng một số lượng lớn các thiết bị thông minh” nhưng còn chủ yếu
dựa vào các hệ thống mạng cục bộ “trong các dây chuyền sản xuất tự động cùng
với các hệ thống phần mềm quản lý để tối ưu quy trình sản xuất” [6, tr.8] đã có
từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, những tiến bộ vượt trội của
công nghệ thông tin - truyền thông và khoa học máy tính, như Internet kết nối
vạn vật (IoT), Internet của các dịch vụ (IoS), điện toán đám mây, công nghệ
thực tế - ảo,… do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại được áp dụng
rộng rãi sẽ tạo nền tảng cho sự ra đời các nhà máy thông minh, các nhà máy số.
Trong các nhà máy này, “các thiết bị máy móc thông minh giao tiếp với nhau bằng
hệ thống mạng và liên tục chia sẻ thông tin về lượng hàng hiện tại, về sự cố
hoặc lỗi, về những thay đổi trong đơn đặt hàng hoặc mức độ nhu cầu. Quá trình
sản xuất và thời hạn sản xuất được phối hợp với mục tiêu tăng hiệu suất và tối
ưu hóa thời gian sản xuất, công suất và chất lượng sản phẩm trong các khâu phát
triển, sản xuất, tiếp thị và thu mua. Các cảm biến, chấp hành và điều khiển cho
phép các máy móc liên kết đến nhà máy, các hệ thống mạng khác và giao tiếp với
con người” [6, tr.9]. Hơn thế, các nhà máy này còn có sự ghép nối với hạ tầng
các mạng thông minh khác, như hệ thống điện thoại thông minh, nhà thông minh,
di chuyển thông minh, mạng xã hội,…
Không chỉ nổi
bật và khác biệt về tư liệu lao động thông minh, cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư còn được đặc trưng bởi những đối tượng lao động mới. Với
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhiều vật liệu mới “nhẹ hơn, bền
hơn, có thể tái chế và dễ thích ứng”, thậm chí là “các vật liệu thông minh tự
phục hồi hoặc tự làm sạch, các kim loại có khả năng khôi phục lại hình dạng ban
đầu, gốm sứ và pha lê biến áp lực thành năng lượng” và nhiều vật liệu khác nữa
đã, đang và sẽ được đưa ra thị trường. Cùng với các tư liệu lao động thông
minh, những đối tượng lao động mới này cũng góp phần quan trọng vào việc làm
nên trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất và cách thức sản xuất
trong lịch sử nhân loại.
Với sự cách
mạng về tư liệu lao động, đối tượng lao động và công nghệ như vậy, cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo thời cơ quý giá để Việt Nam có thể
rút ngắn thời gian cải thiện và phát triển trình độ của lực lượng sản xuất và
thay đổi cách thức sản xuất. Nhận định về thời cơ này, Chỉ thị về việc
tăng cường năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
chỉ rõ: “Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra
nhiều cơ hội trong việc nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực
sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi sản phẩm; tạo ra sự thay đổi lớn
về hình thái kinh doanh dịch vụ; tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; giảm đáng kể chi phí giao dịch, vận
chuyển; tạo cơ hội đầu tư hấp dẫn và đầy tiềm năng trong lĩnh vực
công nghệ số và Internet, đồng thời cũng là cơ hội lớn cho sản xuất
công nghiệp với trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến” [5, tr.1].
Thứ hai, cách
mạng công nghiệp lần thứ tư tạo thời cơ cho sự phát triển xã hội và quản lý
sự phát triển xã hội ở Việt Nam.
Với những thành
tựu về khoa học và công nghệ mới, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
cũng tạo thời cơ cho Việt Nam hiện thực hóa hệ mục tiêu và các đặc trưng [1,
tr.70] của xã hội xã hội chủ nghĩa - “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh” và “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát
triển toàn diện”. Chẳng hạn, sự xuất hiện của người máy có trí thông minh nhân
tạo, có khả năng suy nghĩ và hành động gần giống con người sẽ ngày càng nhiều
hơn, tham gia vào những công việc phức tạp, tinh vi, có cường độ cao và nguy
hiểm giúp giảm tải và giải phóng sức lao động của con người, như các công việc
ở bệnh viện, nhà máy, công trường xây dựng, v.v.. Dù Việt Nam chưa tự sản xuất
ra được những người máy thông minh như thế, nhưng có thể nhập khẩu sản phẩm này
từ các nước khác nhằm phục vụ tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người
dân trong nước. Bên cạnh đó, với chính sách nhập khẩu lao động có chất lượng
cao trong một số lĩnh vực, ngành nghề cần ưu tiên phát triển, việc Việt Nam sản
xuất được những người máy như vậy trong tương lai là điều có thể.
Với cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư, “viễn cảnh các nhà máy thông minh, trong đó
các máy móc được kết nối Internet và liên kết với nhau qua một hệ thống có thể
tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa ra quyết định” [6, tr.5] có vẻ
sẽ không còn xa xôi. Cùng với đó, “các làn sóng của những đột phá xa hơn trong
các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen cho tới công nghệ nano, từ các năng
lượng tái tạo tới tính toán lượng tử” [6, tr.5-6],... không chỉ làm cho cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư khác về cơ bản và vượt trội so với các
cuộc cách mạng công nghiệp trước, mà còn mở ra nhiều cơ hội mới đáp ứng ngày
càng tốt hơn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Viễn cảnh đó đã
khiến không ít người nhận định rằng, với cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư, thế giới xung quanh chúng ta không chỉ là thế giới sống, mà còn trở
thành thế giới có nhân tính hơn bao giờ hết. Nếu chúng ta nắm bắt và vận dụng
được những thành quả đó vào thực tiễn phát triển của đất nước thì sẽ giúp cho
mục tiêu con người Việt Nam có cuộc sống ấm no và có điều kiện phát triển toàn
diện sớm trở thành hiện thực phổ quát.
Các công nghệ
trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng rất hữu ích đối với việc xây
dựng chính phủ điện tử không chỉ ở việc quản trị dữ liệu và quản lý sự
phát triển xã hội, mà còn góp phần minh bạch hóa thông tin, phòng ngừa
và ngăn chặn tham nhũng, khi các công nghệ này giúp người dân ngày càng dễ
dàng tiếp cận chính phủ để nêu ý kiến và cùng phối hợp hoạt động. Đối với Việt
Nam, việc ứng dụng công nghệ của cách mạng công nghiệp lần thứ tư sẽ giúp
đáp ứng yêu cầu “khẩn trương triển khai xây dựng chính phủ điện tử” [5,
tr.2], qua đó góp phần hiện đại hóa nhà nước của dân, do dân, vì dân và hiện
thực hóa các mục tiêu dân chủ, công bằng, văn minh của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Để tận dụng một
cách tối đa những thời cơ mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang
lại cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vấn đề đặt ra là phải
lựa chọn bước đột phá phù hợp để tiếp cận, chuyển giao công nghệ
và ứng dụng nhằm đạt hiệu quả tối ưu, gắn kết chặt chẽ khoa học
công nghệ với kinh tế. Dù Việt Nam đã có một hạ tầng Internet khá tốt,
nhưng vẫn cần đẩy mạnh “ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông đáp
ứng yêu cầu hiện đại hóa công nghệ thông tin - truyền thông trong phạm
vi cả nước, bảo đảm an toàn, đồng bộ, kết nối liên ngành và liên
vùng” nhằm “đáp ứng yêu cầu Internet kết nối vạn vật trong thời gian
sớm nhất” [5, tr.3]. Bên cạnh đó, nhu cầu của người dân và doanh nghiệp về việc
dễ dàng và bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển nội dung số cần
được đáp ứng tốt hơn, qua đó góp phần cải thiện môi trường cạnh tranh kinh
doanh để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp nhanh chóng hấp thụ và phát triển được các công nghệ sản
xuất mới [5, tr.2].
2. Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư đặt ra thách thức đối với công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thứ nhất,
cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra thách thức đối với sự phát triển
của lực lượng sản xuất và cách thức sản xuất ở Việt Nam.
Không chỉ tạo
thời cơ cho sự phát triển trình độ của lực lượng sản xuất và cách thức sản
xuất ở Việt Nam, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn đặt ra thách
thức khiến lực lượng sản xuất và cách thức sản xuất hiện nay có thể trở nên
tụt hậu so với bước tiến của thời đại. Ở chỗ, cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư đòi hỏi nguồn nhân lực của Việt Nam phải có kỹ năng cao để trước
hết có thể vận hành được những công cụ lao động có sự tham dự của công nghệ
cao. Tiếp đó tạo ra được những công cụ lao động công nghệ cao khác. Bởi lẽ,
trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ không chỉ cao và
hiện đại (với trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, robot trong
công nghiệp và gia đình, công nghệ nano, phương pháp điều trị kỹ thuật số và
máy học, v.v..), mà còn luôn được cải tiến. Điều đó đòi hỏi hoạt động giáo dục
cũng phải có bước tiến kịp thời, nếu không thì những gì được học trong nhà
trường sẽ nhanh chóng trở nên lỗi thời khi người học tốt nghiệp. Trong khi, thứ
nhất, nguồn nhân lực của Việt Nam tuy có ưu thế trẻ và dồi dào nhưng phần lớn
là có kỹ năng và trình độ thấp; thứ hai, hoạt động giáo dục của Việt Nam còn
quá nhiều vấn đề về cả công tác hành chính lẫn chất lượng chuyên môn. Do vậy,
ưu thế trẻ và dồi dào của nguồn nhân lực có thể phản tác dụng nếu không phát
huy được, kéo theo đó là sự tụt hậu về trình độ của lực lượng sản xuất và cách
thức sản xuất ở Việt Nam so với sự phát triển của thời đại.
Thách thức này
của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã được Chính phủ Việt Nam dự
báo, rằng “nếu không bắt kịp nhịp độ phát triển của thế giới và khu
vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt những thách thức, tác động tiêu cực,
như sự tụt hậu về công nghệ, suy giảm sản xuất, kinh doanh; dư thừa lao
động có kỹ năng và trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động
truyền thống, ảnh hưởng tới tình hình kinh tế - xã hội đất nước; mất
an toàn an ninh thông tin, xâm phạm bản quyền, thiếu hụt nguồn nhân lực
trình độ cao. Mặt khác, có khả năng xuất hiện làn sóng đẩy công nghệ
lạc hậu từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm
phát triển” [5, tr.1].
Thứ hai, cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra thách thức đối với sự phát triển xã hội
và quản lý sự phát triển xã hội ở Việt Nam.
Với một sự phát
triển xã hội trong đó ranh giới thế giới thực và thế giới ảo khó phân định bởi
các công nghệ cao và thông minh do cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
mang lại, cần phải có sự quản lý thế nào để hệ mục tiêu và các đặc trưng của xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng được bảo đảm và thực
thi? Bởi lẽ, trong dòng chảy của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
nhiều vấn đề về phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội sẽ trở nên
nổi cộm, như tội phạm trực tuyến, kiểm soát luồng dữ liệu trung chuyển trên
Internet, kiểm soát dòng chảy thông tin (nhất là thông tin nhạy cảm về cá nhân,
về an ninh và quốc phòng), v.v.. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
cũng có thể làm xuất hiện các nguy cơ khủng bố mạng, tội phạm mạng,
tin tặc khống chế, làm tê liệt một cách có hệ thống thông tin, dữ
liệu trên phạm vi toàn cầu, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, văn
hóa, xã hội và an ninh, quốc phòng. Bên cạnh đó, các giá trị ảo trên
mạng Internet và những hệ lụy của chúng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các giá
trị nhân văn trong xã hội, đến hệ mục tiêu và những đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Trong điều kiện mạng Internet phát triển
như ở Việt Nam hiện nay, sự tiêu cực trong quá trình phát triển xã hội không còn
là một nguy cơ xa, thậm chí đã có ở mức độ nào đó.
Một thách thức
khác mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể đặt ra cho sự phát
triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở Việt Nam là sự cạnh tranh giữa
người và máy. Máy ở đây là máy móc cơ khí và người máy với trí tuệ nhân tạo có
thể hoạt động giống như con người. Sự “cạnh tranh” giữa người và máy móc trong
hoạt động lao động sản xuất đã bắt đầu từ khi cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ nhất diễn ra. Khi đó, “tư liệu lao động liền lập tức trở thành
những kẻ cạnh tranh với bản thân người công nhân. Việc tự tăng lên của
tư bản nhờ máy móc tỷ lệ thuận với con số công nhân bị máy móc thủ
tiêu mất điều kiện sinh sống” [4, tr.616]. Và, một “bộ phận của giai cấp
công nhân mà máy móc đã biến thành dân cư thừa bằng cách đó - nghĩa
là không còn trực tiếp cần thiết cho sự tự tăng lên của tư bản nữa -
một mặt, sẽ bị diệt vong trong cuộc đấu tranh không cân sức giữa
ngành sản xuất thủ công già cỗi và công trường thủ công với nền sản
xuất bằng máy móc, và mặt khác, đổ xô vào các ngành công nghiệp dễ
làm ăn hơn” [4, tr.616]. Điều này sẽ diễn ra trong điều kiện cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư. Sự “cạnh tranh” đó có thể dẫn đến nạn thất nghiệp
nhiều hơn, gia tăng các mâu thuẫn và các tệ nạn xã hội, như phân hóa giàu
nghèo, bất bình đẳng, xung đột xã hội, v.v..
Những người máy
với đặc trưng là hoạt động dưới sự chỉ dẫn của “trí tuệ nhân tạo” của cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư không những có thể chế tạo ra những người máy tương
tự, mà còn trở thành mối đe dọa đối với sự phát triển xã hội một khi chúng vượt
khỏi tầm kiểm soát của con người. Tuy nhiên, đây là một viễn cảnh khá xa đối
với Việt Nam.
Trước xu thế
của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng những thách thức mà cuộc
cách mạng này có thể đem lại cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, Chính phủ Việt Nam đã xác định rõ những việc cần phải làm một cách cụ thể
[5, tr.2], đó là “đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin;
đẩy mạnh khoa học phân tích và quản lý và xử lý dữ liệu lớn tạo ra
tri thức mới, hỗ trợ việc đưa ra quyết định và tạo lợi thế cạnh
tranh”, “đổi mới mô hình quản lý, sản xuất, tối ưu hóa mô hình kinh
doanh, thiết lập chuỗi cung ứng và hậu cần thông minh trong mạng lưới
chuỗi giá trị toàn cầu và mô hình thuế quan mới”, có “hệ thống quản
lý sở hữu trí tuệ mới, tốt hơn trong thời đại số”, “bảo đảm an
toàn, an ninh thông tin mạng”. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phát triển hơn nữa
nguồn nhân lực công nghệ thông tin - truyền thông “nhằm tạo ra nguồn
nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công nghệ sản xuất mới”, biến
“thách thức dân số cùng giá trị dân số vàng thành lợi thế trong hội
nhập và phân công lao động quốc tế” [5, tr.3]. Để đối phó với vấn nạn
có thể trở thành bãi rác công nghệ trong cơn lốc của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, Việt Nam cần có chính sách thông minh trong việc
đón đầu, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, như xây dựng “chiến lược
chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, ưu tiên phát triển công nghiệp công
nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh”, rà
soát và lựa chọn “phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm cạnh tranh
chiến lược của quốc gia bám sát các công nghệ sản xuất mới, tích hợp
những công nghệ mới để tập trung đầu tư phát triển” [5, tr.2].
Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra là sự kế thừa và phát triển từ
thành quả của tất cả các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó. Với những phát
triển vượt bậc về tư liệu sản xuất, cuộc cách mạng này đang tạo ra rất nhiều
cả thời cơ lẫn thách thức đối với sự phát triển của nhân loại. Là một phần của
sự phát triển đó, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã, đang và sẽ
tiếp tục chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc cách mạng này, nhất là trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Hiện nay, Việt
Nam đã có những động thái chủ động và tích cực về mặt chủ trương, chính sách
đối với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó hình dung rõ diện
mạo cũng như những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của nó đối với công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới cùng với những đối sách chung
thích hợp. Tuy nhiên, bản chất và đặc điểm của cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư cho thấy, ngoài chủ trương và chính sách phát triển của Chính phủ,
cốt yếu vẫn phải là nhân tố con người. Bởi trong cuộc cách mạng này, nhân tố
cốt lõi của nền sản xuất là năng lực của chủ thể. Thậm chí, năng lực này còn
quan trọng hơn cả vốn. Vì vậy, điều quan trọng là mỗi cá nhân trong nguồn nhân
lực trẻ và dồi dào của Việt Nam phải có sự ý thức về cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, cũng như về mối liên hệ giữa bản thân với những thời cơ
và thách thức do cuộc cách mạng đó tạo ra.
Tài liệu tham
khảo
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn
tập, t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn
tập, t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập,
t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Thủ tướng Chính phủ (ngày 4-5-2017),
Chỉ thị về việc tăng cường năng lực tiếp cận Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư.
[6] Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ
Quốc gia, Tổng luận “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, tại
website:
http://www.vista.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=BDbI9Fg5FhY%3d&tabid=152&language=vi-VN.
Tác giả: Vũ Thị Kiều Phương - Tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam.