Nhận thức duy
vật lịch sử chính là một trong những cơ sở quan trọng nhất để các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra tính tất yếu của sự ra đời chủ nghĩa xã hội.
Từ lập trường nhận thức duy vật lịch sử, C.Mác đã chỉ ra tính biện chứng,
các quy luật vận động, phát triển khách quan của lịch sử xã hội loài người và
đi đến kết luận: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là
một quá trình lịch sử - tự nhiên” [3, tr.21]. Sự tiếp thu, vận dụng một cách
sáng tạo và linh hoạt lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác và Ph.Ăngghen
vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể nước Nga của V.I.Lênin đã dẫn đến thành công của
Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917. Sự ra đời và phát triển chủ nghĩa xã hội
hiện thực ngay sau thành công của Cách mạng tháng Mười Nga chính là sự khẳng
định tính chân thực trong luận điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác về
chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội hiện thực ra đời và phát triển với
tư cách một mô hình tổ chức xã hội xã hội chủ nghĩa theo những nguyên tắc của
chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước năm 1991, nó được biết đến dưới dạng mô hình
Xôviết do Liên Xô khởi xướng.
Mặc dù hiện nay
chủ nghĩa xã hội hiện thực đang gặp phải những khó khăn nhất định, đặc biệt sau
sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết tại Liên Xô và các nước Đông
Âu trong những năm 90 của thế kỷ trước, nhưng với những thành tựu lớn lao đạt
được, chủ nghĩa xã hội hiện thực sẽ tiếp tục khẳng định tính ưu việt của nó
trong điều kiện mới của thế giới. Ở đây, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
cho rằng chủ nghĩa cộng sản là một tiến trình vận động mang tính hiện thực và
liên tục, một lần nữa, cần phải được thấm nhuần: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa
cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một
lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một
phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong
trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra” [1, tr.51].
Với tư cách một
phong trào hiện thực, chủ nghĩa xã hội sẽ tiếp tục có những đóng góp to lớn đối
với sự phát triển của lịch sử nhân loại theo hướng nhân văn và tiến bộ. Mục
đích cao cả của chủ nghĩa xã hội chính là lý do mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn và kiên định chủ nghĩa xã hội với tư cách con
đường phát triển của Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nhận thấy trong học thuyết khoa
học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin con đường chân chính để giải phóng
dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng loài người. Hơn thế, Hồ Chí Minh còn
nhận thấy tính nhân văn cao cả của chủ nghĩa xã hội, đó là chế độ xã hội tôn
trọng và đề cao nhân phẩm con người, tạo điều kiện và đem lại cơ hội phát triển
cho tất cả mọi người. Mục đích nhân văn cao cả này của chủ nghĩa xã hội cũng là
điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hướng tới.
Về tính tất yếu
của chủ nghĩa xã hội
Với C.Mác, sự
phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự
nhiên và đó cũng chính là quá trình phát triển bản chất con người
(bản chất loài của con người). Bản chất con người, theo quan niệm của C.Mác,
là nền tảng cho tính thống nhất hữu cơ của toàn bộ sự phát triển lịch sử
loài người, bởi “toàn bộ lịch sử không là gì khác mà là một sự biến đổi liên
tục của bản chất con người”(*). Ông cho rằng, lịch sử nhân loại chính là tiến
trình hiện thực hóa bản chất con người; đồng thời, cũng chính là lịch sử hình
thành và phát triển tính chủ thể của con người. Tiến trình hiện thực hóa này
do con người chủ động thực hiện và được diễn ra liên tục trong các hình thái
kinh tế - xã hội khác nhau. Nói cách khác, các hình thái kinh tế - xã hội
khác nhau có thể được hiểu là những trạng thái khác nhau trong toàn
bộ tiến trình thống nhất của phát triển con người, chúng là những
trạng thái, “thời điểm” của một sự phát triển tuân theo quy luật tự
nhiên nội tại diễn ra trong lịch sử loài người. Lịch sử phát triển
con người được hiểu như là một tiến trình thống nhất và biện chứng
của một chỉnh thể hữu cơ. Điều này cũng được V.I.Lênin nhìn nhận
trong quan điểm về xã hội và phát triển xã hội: “Xã hội là một cơ thể
sống đang phát triển không ngừng (chứ không phải là một cái gì được kết thành
một cách máy móc và do đó cho phép có thể tùy ý phối hợp các yếu tố xã hội như
thế nào cũng được), một cơ thể mà muốn nghiên cứu nó thì cần phải phân tích một
cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái xã hội nhất định
và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã
hội đó” [9, tr.198].
Có thể khẳng định
rằng, nếu phép biện chứng đã giúp các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
phát hiện ra tính quy luật phổ quát, lôgíc nội tại chi phối tiến trình phát
triển của lịch sử nhân loại thì nhận thức duy vật về lịch sử đã giúp các ông
nhận thấy vai trò chủ động của con người trong tiến trình sáng tạo ra lịch sử
của chính mình. Lịch sử nhân loại là lịch sử của sự hiện thực hóa bản chất con
người (sự phát lộ hay “sản xuất” ra “các lực lượng bản chất” tiềm tàng của con
người) bởi chính con người (chứ không phải một lực lượng thần thánh, Chúa Trời,
Tinh thần tuyệt đối... nào khác), tuân theo quy luật phổ quát mà họ nhận thức
được hay phát hiện ra trong hoạt động thực tiễn của mình. C.Mác khẳng định: “Vì
bản chất con người là cộng đồng của con người, thông qua việc hiện thực hóa bản
chất của mình con người tạo ra, sản xuất ra cộng đồng người, ra thực thể xã hội,
là cái mà không phải là một sức mạnh trừu tượng phổ quát nào đối lập với mỗi cá
nhân, mà nó là bản chất cốt lõi của mỗi cá nhân, là hoạt động của chính cá nhân
đó, chính cuộc sống của cá nhân đó, chính tinh thần của cá nhân đó, chính tài
sản (sự giàu có) của cá nhân đó”(**). Cộng đồng người đó, thực thể xã hội đó
với tư cách là “sản phẩm” (produkt - tiếng Đức) được sản xuất (produzieren - tiếng
Đức) ra từ bản chất con người, bởi con người cũng chính là tiến trình phát
triển con người(***).
Các hình thái
kinh tế - xã hội khác nhau, về mặt bản thể luận, là những nấc thang đánh dấu
tiến trình triển khai ngày càng đầy đủ hơn các lực lượng bản chất đó của con
người, thông qua các phương thức tổ chức tương ứng khác nhau trong tiến trình
biện chứng của sự phát triển bản chất con
người. Đồng thời, về mặt nhận thức luận, chúng cũng là những cột mốc
quan trọng trong tiến trình con người nhận thức về bản thân mình, một nhận thức
đặc thù thông qua hoạt động thực tiễn, không chỉ cải tạo thế giới theo các quy
luật phổ quát, nội tại mà còn biến đổi không ngừng chính bản thân con người.
Thông qua lý
luận về hình thái kinh tế - xã hội với tư cách một học thuyết khoa học, cách
mạng về sự phát triển của lịch sử nhân loại, các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin đã chỉ ra tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội với tính cách giai đoạn
đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, vì “theo quy luật tiến
hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. So với các
hình thái kinh tế - xã hội trước đó, đặc biệt là hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ nghĩa, sự tiến bộ và ưu việt của chủ nghĩa xã hội thể hiện ở mục đích
tối cao của nó là vì sự phát triển toàn diện và tự do của con người. Con người
phải là mục đích tự thân của chủ nghĩa xã hội chứ không còn là công cụ của sự
nô dịch và bóc lột vì lợi nhuận, vì tư bản như trong xã hội tư bản nữa. Chủ
nghĩa xã hội phải là sự giải phóng triệt để con người, sự giải phóng toàn diện
tiềm năng, “lực lượng bản chất” của con người. Điều này đã được khẳng định trong
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và
đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự
do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [2,
tr.628]. Như vậy, chủ nghĩa xã hội, với tư cách một xã hội tiến bộ và ưu việt
hơn chủ nghĩa tư bản, phải là một xã hội hướng tới mục đích nhân văn cao cả
nhất, phải là một xã hội tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người được phát triển
toàn diện.
Mặc dù hình
thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, so với các hình thái kinh tế - xã hội
trước đó, đã đem lại những tiến bộ to lớn trong sự giải phóng con người - đưa
con người từ địa vị thần dân trở thành công dân; song, không phải tất cả mọi
thành viên, mọi công dân sống trong chế độ tư bản đều có thể được tiếp cận tới
những thành tựu to lớn mà chủ nghĩa tư bản đạt được. Bởi vì, trong xã hội tư
bản chủ nghĩa với mục đích vì lợi nhuận và đề cao quyền tư hữu, thì quyền
được phát triển, quyền làm chủ chỉ gắn liền với những người có tài
sản riêng (tư sản). Chính quyền sở hữu đã ảnh hưởng đến quyền tự do
và tự chủ của những người không có tài sản riêng (vô sản) và họ
“buộc phải trao quyền tự do về thời gian cho một người khác để bảo
đảm sự sinh tồn của mình” [8, tr.121]. Theo đó, những người không có
tài sản, không có điều kiện học hành và giáo dục hầu như bị gạt ra
ngoài sự phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa. Trong thế giới của chủ
nghĩa tư bản, quyền được phát triển, quyền làm chủ của đa số người dân
không được đảm bảo. Bởi lẽ, như T.Meyer và N.Breyer đã chỉ rõ: “Một là,
một khi con người không có đủ thu nhập trên thị trường thì sự tồn
tại của họ sẽ bị đe dọa, xét trên phương diện phẩm giá con người,
và trong một số trường hợp hạn hữu, còn đe dọa cả cuộc sống thể
chất của họ. Điều đó vi phạm các quyền cơ bản và điều kiện tự chủ
của cá nhân. Hai là, những người do không có phương tiện riêng (tài
sản riêng), buộc phải ký hợp đồng lao động, mà bản thân nó lại vi
phạm những tiêu chuẩn về quyền tự quyết và nhân phẩm của họ, thì
thực chất những quyền cơ bản của họ cũng bị xâm phạm. Họ mất quyền
tự chủ xã hội. Ba là, những người bị thua thiệt bởi tình trạng bất
bình đẳng trong việc phân phối của cải và trong khi thực hiện cơ hội
tham gia chính trị của họ, những người đó thực chất cũng bị hạn
chế đáng kể trong các quyền công dân của họ. Quyền tự chủ chính trị
của họ không được đảm bảo” [8, tr.120-121]. Trong điều kiện như vậy, những
người vô sản bị hạ thấp, trở thành công cụ, phương tiện để tạo ra lợi nhuận cho
những ông chủ có tài sản. Giá trị của con người được xác định thông qua một thị
trường “tự do” vô nhân tính, được đánh giá thông qua giá trị thặng dư mà sức
lao động của anh ta có thể được ông chủ sử dụng (bóc lột). Những người công
nhân phải bán sức lao động cho giới tư bản là những người trực tiếp sản xuất ra
của cải vật chất của xã hội, song chính họ lại là những người bần cùng nhất. Sự
tha hóa trong chủ nghĩa tư bản thể hiện không chỉ trong mối quan hệ giữa con
người với con người mà cả trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Hiện
thực và những khuyết tật đó của chủ nghĩa tư bản cho thấy lời kêu gọi đem lại
tự do, bình đẳng và bác ái cho nhân loại mà các cuộc cách mạng tư sản đề ra vẫn
chỉ là những khẩu hiệu mang tính hình thức và nửa vời. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cách
mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến
nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông,
ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp
hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức” [4,
tr.274].
Sự ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa với tư cách một chế độ xã hội hoàn thiện hơn, một nấc
thang phát triển cao hơn so với chế độ tư bản chủ nghĩa phải thể hiện ở chỗ nó
khắc phục được các nhược điểm của chủ nghĩa tư bản để đảm bảo cho mọi người dân
đều có cơ hội phát triển, bình đẳng trong việc tham gia đóng góp vào sự phát
triển của xã hội. Tính bền vững của sự phát triển của xã hội như vậy phải được
thể hiện qua các chính sách phát triển xã hội ở đó nhận được sự đồng thuận và
ủng hộ rộng rãi của nhân dân, phát huy được tối đa sự tham gia tích cực của
người dân. Chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa phải là chế độ được tổ chức và quản
trị một cách thực sự dân chủ nhằm đảm bảo quyền làm chủ của mọi người dân, nó
phải là một chế độ lấy các quyền lợi cơ bản của người dân làm mục tiêu và điểm
xuất phát của các chính sách phát triển. Người dân phải thực sự làm chủ và công
bằng xã hội được đảm bảo. Hệ thống pháp luật minh bạch là điều kiện cần thiết
để đảm bảo sự công bằng về quyền lợi, công bằng về cơ hội phát triển, công bằng
trong phân phối và sử dụng các công ích xã hội để mọi người dân thực sự có cơ
hội tham gia và thụ hưởng thành quả của phát triển, được tạo cơ hội phát huy
tiềm năng sáng tạo của mình.
2. Mục tiêu xây
dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam
Sự lựa chọn chủ
nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh gắn liền với mục đích cách mạng của Người. Mưu cầu
hạnh phúc cho nhân dân, cho xã hội và cho dân tộc là mục tiêu cao nhất trong
cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn
đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân (...). Bất kỳ bao giờ, bất
kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân” [5,
tr.240], và “tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước
ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng
có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [5, tr.240]. Rõ ràng, khi đất nước bị
mất chủ quyền, cả dân tộc sống trong ách nô lệ, thì người dân làm gì có tự do
mà phát triển. Xuất phát từ lòng yêu nước, thương nòi, trong tiến trình đi tìm
đường cứu nước, giành lại độc lập cho dân tộc, giải phóng đồng bào thoát khỏi
ách nô lệ của thực dân và phong kiến, Hồ Chí Minh đã nhận thấy chủ nghĩa cộng
sản là con đường phù hợp và đúng đắn để đạt được mục đích đó: “Lúc đầu, chính
là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo
Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên
cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng
chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [6, tr.127].
Mục đích của
chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh nêu một cách rõ ràng và dễ hiểu “Chủ nghĩa xã
hội là làm cho mọi người dân sung sướng ấm no” [6, tr.31], “mục đích của chủ
nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân” [6, tr.159]. “Nói
một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao
động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và
sống một đời hạnh phúc” [6, tr.17]. Vì vậy, sau khi cách mạng tháng Tám thành
công, Hồ Chí Minh đã đề ra những công việc cần phải thực hiện ngay để tạo điều
kiện cho “tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình” [5,
tr.272].
Trong giai đoạn
phát triển hiện nay của cách mạng Việt Nam, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và
dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kế thừa và phát triển sáng tạo những quan
điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Mục đích bao trùm của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”. Nhân dân không những là chủ thể trực tiếp và thể hiện sự sáng tạo,
tự chủ trong việc thực thi mục tiêu này, mà còn là chủ thể của quyền lực. Họ cũng
đồng thời là chủ thể hưởng thụ những thành quả của sự phát triển. Sự đoàn kết,
tính sáng tạo và chủ động của nhân dân sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực
hiện các mục tiêu phát triển của đất nước. Đảng ta cũng khẳng định rằng, đối
với cách mạng Việt Nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội. “Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây
dựng phải hướng tới việc hiện thực hóa đầy đủ, đồng bộ hệ mục tiêu: Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt
Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đối với dân tộc Việt Nam,
chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh thật sự. Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt
Nam sau khi đất nước giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc” [7].
3. Triển vọng
của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình phát triển nhân loại
Sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trong những năm 90 của thế kỷ XX
chỉ là sự thất bại của một mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực cụ thể, mô hình
chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết, chứ không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội
với tư cách một hình thái kinh tế - xã hội mà loài người đang vươn tới. Ngay cả
mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết tuy có những hạn chế nhất định nhưng cũng
đã đạt được những thành tựu vĩ đại trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và
giải phóng con người. Trong lịch sử tồn tại của mình, mô hình này đã góp phần
đưa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào vị thế của các nước công
nghiệp phát triển hàng đầu trên thế giới. Nó còn có ảnh hưởng sâu sắc trong đời
sống chính trị thế giới, đóng vai trò quyết định đối với sự sụp đổ của hệ thống
thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân
tộc và thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Có thể
thấy rằng, những thành quả vĩ đại của mô hình này là nguồn cổ vũ, động viên to
lớn đối với các dân tộc bị áp bức. Sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi, cổ vũ cho phong trào giải phóng
dân tộc và phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, dân sinh và phát triển,
buộc chủ nghĩa tư bản phải điều chỉnh nhằm xoa dịu mâu thuẫn xã hội.
Sự tan rã của chủ
nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu đòi hỏi các nước xã hội
chủ nghĩa còn lại phải tích cực cải cách, đổi mới. Trên cơ sở vận dụng sáng
tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của từng nước, các
quốc gia này cần tìm ra cho mình con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp
trong điều kiện lịch sử mới. Thực tiễn đã chứng minh rằng chỉ có tiến hành và đẩy
mạnh công cuộc cải cách, đổi mới một cách toàn diện, thì chế độ xã hội chủ
nghĩa mới có thể được giữ vững và tiếp tục phát triển. Thực tiễn công cuộc đổi
mới của Việt Nam và cải cách của Trung Quốc... cũng như những mô hình chủ nghĩa
xã hội hiện thực thế kỷ XXI đang được phát triển tại một số quốc gia khác trên
thế giới trong thời gian vừa qua, một lần nữa, khẳng định tính tất yếu và triển
vọng to lớn của chủ nghĩa xã hội trong tiến trình phát triển lịch sử nhân loại.
Bối cảnh thế
giới hiện nay cho thấy, chủ nghĩa tư bản chưa thể thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn
của những chu kỳ khủng hoảng, còn chủ nghĩa xã hội hiện thực đang chứng tỏ
những dấu hiệu phục hồi và phát triển với những mô hình mới đa dạng và đầy sáng
tạo. Thực tiễn đó, một lần nữa, khẳng định vai trò của chủ nghĩa xã hội đối với
sự phát triển lịch sử nhân loại. Chủ nghĩa xã hội là đổi mới và sáng tạo không
ngừng, nó thực sự là phong trào hiện thực hướng tới mục tiêu nhân văn, hướng
tới sự phát triển ngày càng đầy đủ hơn, toàn diện hơn bản chất con người.
Tài liệu tham
khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.4,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, t.2, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, t.4, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, t.10, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] Lê Hữu Nghĩa, Những đặc trưng thể
hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. http://www.dangcongsan.vn/
cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30257&cn_id=443288.
[8] Thomas Meyer và Niole Breyer (2007), Tương
lai của nền dân chủ xã hội, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
[9] V.I.Lênin (1995), Toàn tập, t.1, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.