image banner
            VI | EN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC CHO THẾ HỆ TRẺ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Lượt xem: 3
Những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi luôn có ý nghĩa đến việc giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng, đạo đức và ý thức trách nhiệm cho thế hệ trẻ. Từ góc nhìn triết học, bài viết gợi mở việc vận dụng những giá trị này vào hoạt động giáo dục, rèn luyện của thanh niên Việt Nam hiện nay.

1. Đặt vấn đề

Nguyễn Trãi, với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà văn hóa và nhà quân sự lỗi lạc, đã để lại một di sản tư tưởng phong phú và sâu sắc, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị - xã hội. Tư tưởng của Nguyễn Trãi thể hiện rõ qua các tác phẩm như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, và trong thơ văn chữ Hán, chữ Nôm của ông. Qua những tác phẩm đó, ông trình bày quan điểm về đạo lý trị quốc, lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, chăm lo cho dân, cũng như khát vọng về một xã hội thái bình, thịnh trị. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, việc giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước để từ đó tạo thành một lớp thanh niên sống có lý tưởng, có đạo đức và biết hành động vì sự phồn vinh của dân tộc là việc làm cấp bách. Vận dụng những tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi, lấy tấm gương vì nước, vì dân của ông để soi rọi cho thế hệ trẻ noi gương và không ngừng phấn đấu là việc làm có ý nghĩa thiết thực.

2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Bài viết tiếp cận vấn đề trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp liên ngành từ triết học, chính trị học, lịch sử và giáo dục, để làm rõ nội dung, ý nghĩa tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi trong giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu đặt tư tưởng của Nguyễn Trãi trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV và xem xét khả năng vận dụng các giá trị này trong điều kiện xã hội đương đại.

Bài viết kết hợp các phương pháp khoa học xã hội và nhân văn trong nghiên cứu, bao gồm phân tích – tổng hợp, lịch sử – logic, so sánh – đối chiếu, khái quát hóa và phân tích tài liệu, để làm sáng tỏ bản chất tư tưởng của Nguyễn Trãi, làm nổi bật giá trị lý thuyết và thực tiễn của nó, đồng thời đảm bảo tính khách quan, tính khoa học và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

3. Điều kiện và tiền đề hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi

Điều kiện lịch sử hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi.

Việt Nam cuối thế kỷ XIV và nửa đầu thế kỷ XV, triều đại nhà Trần suy yếu nghiêm trọng, kéo theo sự sụp đổ của nhà nước trung ương tập quyền. Khủng hoảng chính trị - xã hội của triều đại nhà Trần khiến cho nội bộ hoàng tộc mâu thuẫn, quan lại tham nhũng, quyền lực trung ương bị phân tán. Giai cấp thống trị sa đọa, quý tộc, địa chủ nhà Trần trở nên ăn chơi hưởng lạc, xa rời quần chúng, khiến lòng dân ly tán, niềm tin vào vương triều sụp đổ. Về mặt kinh tế, do chiến tranh kéo dài liên miên, thiên tai và sự bóc lột của tầng lớp địa chủ, sản xuất nông nghiệp trì trệ, năng suất thấp. Ruộng đất tập trung vào tay quý tộc và quan lại, khiến nông dân mất đất, gia tăng tầng lớp tá điền, nông nô và sự bất bình trong xã hội. Về mặt xã hội, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội Đại Việt thời kỳ này trở nên ngày càng gay gắt. Sự bất bình giữa nông dân với địa chủ, giữa quần chúng nhân dân với nhà nước không ngừng gia tăng, dẫn đến hàng loạt phong trào khởi nghĩa nổ ra ở nhiều nơi. Các cuộc nổi dậy này do những tầng lớp bị áp bức, bất mãn lãnh đạo, đã trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của vương triều Trần và chế độ phong kiến đương thời.

Trước cuộc khủng hoảng đó, Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách nhằm cứu vãn tình thế. Tuy nhiên, những cải cách của ông thiếu tính triệt để và chưa thật sự xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân. Các chính sách được triển khai một cách vội vã, thiếu tính thực tiễn và không có sự đồng thuận rộng rãi trong xã hội. Trước tình cảnh rối ren của xã hội, nhà Minh với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” đã đem quân xâm lược nước ta.

Dưới ách thống trị tàn bạo của nhà Minh, đời sống nhân dân cực kỳ khốn khổ. Những đau thương của dân tộc trong thời kỳ này đã tác động sâu sắc đến tư tưởng yêu nước và ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi. Chính trong hoàn cảnh đó, tư tưởng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân được hình thành và hun đúc mạnh mẽ trong con người ông.

Sau khi đánh thắng quân Minh, những thành tựu trong thời kỳ đầu nhà Lê sơ về khôi phục và xây dựng đất nước đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi. Ông luôn giữ vững một lòng kính vua, một lòng trung thành, cống hiến hết tài năng để giúp vua xây dựng đất nước.

Tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi.

Tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi không hình thành một cách ngẫu nhiên, mà là kết quả của sự kết tinh từ nhiều tiền đề lý luận, các tiền đề tư tưởng như tư tưởng tam giáo Nho, Phật, Lão cùng với truyền thống yêu nước, nhân văn của dân tộc Việt Nam.

Một trong những tiền đề lý luận quan trọng định hình tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo các giá trị tinh thần từ ba hệ tư tưởng lớn: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo. “Nguyễn Trãi đọc sách xưa, qua Phật, Lão, Nho, để tìm nhân tố “Chân, Thiện, Mỹ” một cách chủ động, mà không giáo điều, bắt nắm lấy mấu chốt của vấn đề mà không tự buông thả một cách tràn lan” (Bùi Văn Nguyên, 2000: 5), trong đó Nho giáo giữ vai trò chủ đạo. Các học thuyết của Khổng Tử và Mạnh Tử đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, đạo lý cho Nguyễn Trãi trong việc hình thành quan điểm trị quốc của ông. Nguyễn Trãi tiếp thu sâu sắc tư tưởng “dân vi bang bản” (coi dân là gốc của nước), đề cao đạo trị và vai trò của người quân tử trong việc mang lại hòa bình và ổn định xã hội, đồng thời luôn tự khuyên mình và những người xung quanh “lòng hãy cho bền đạo Khổng nhân” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 357). Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng sâu đậm từ truyền thống yêu nước và tinh thần nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Từ thời các triều đại Ngô, Đinh, Lý, Trần, tinh thần độc lập tự chủ và truyền thống chống ngoại xâm đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc, “tình cảm và tư tưởng yêu nước là tình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại. Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ nào khác. Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người Việt Nam” (Trần Văn Giàu, 1980: 100-101). Nguyễn Trãi, sinh ra trong thời kỳ nước mất nhà tan, đã thấm nhuần tinh thần ấy và phát triển nó lên thành một học thuyết chính trị mang màu sắc dân tộc sâu sắc. Chính tinh thần “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” (Viện Sử học, 2010: 83-84) đã trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động chính trị và tư tưởng của ông. Thực tiễn cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược là một môi trường quan trọng giúp tôi luyện tư tưởng và bản lĩnh chính trị của Nguyễn Trãi. Ông đã tham gia chiến đấu cùng Lê Lợi trong suốt gần mười năm (1418 - 1427), trực tiếp chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách đô hộ, cũng như vai trò quyết định của nhân dân trong công cuộc giải phóng dân tộc. Từ thực tiễn ấy, ông hình thành một cách sâu sắc tư tưởng coi dân là nền tảng của nước, và chiến thắng không chỉ là sự thắng lợi về quân sự, mà còn là sự khẳng định tính chính nghĩa và đạo lý.

Nhân tố gia đình và nhân tố chủ quan đối với việc hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học và yêu nước. Cha ông là Nguyễn Phi Khanh, một trí thức tài năng, đỗ Thái học sinh dưới triều Trần. Mẹ ông là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, một danh thần cuối triều Trần, nổi tiếng thanh liêm và có tư tưởng tiến bộ. Sự kết hợp giữa hai dòng họ lớn mang lại cho Nguyễn Trãi một nền tảng giáo dục vững chắc, thấm nhuần đạo lý phương Đông, đặc biệt là tinh thần nhân nghĩa, trung hiếu và lý tưởng trị quốc an dân của Nho giáo. Nguyễn Trãi là một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng, không chỉ nổi bật với tầm vóc học vấn uyên bác mà còn với bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần trách nhiệm sâu sắc đối với vận mệnh đất nước và nhân dân. Tố chất thiên tài của Nguyễn Trãi thể hiện ở sự kết hợp hài hòa giữa nhiều vai trò: nhà chính trị lỗi lạc, nhà ngoại giao tài ba, nhà triết học sâu sắc và nhà thơ kiệt xuất. Ở ông, tư tưởng và hành động, đạo đức và chính trị, nghệ thuật và đời sống gắn bó chặt chẽ, tạo nên một nhân cách toàn diện.

Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi là kết quả tổng hòa của các yếu tố thời đại và lịch sử, truyền thống dân tộc và tinh thần nhân văn sâu sắc, gia đình và nhân tố chủ quan. Những tiền đề ấy đã tạo nên một hệ thống tư tưởng chính trị mang bản sắc riêng, góp phần đặt nền móng cho triết lý trị quốc của nhà Lê sơ và để lại ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.

4. Nội dung cơ bản tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi

Sống trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động, một mặt rơi vào vòng đô hộ của giặc Minh, công cuộc kháng chiến giành lại độc lập dân tộc, mặt khác chứng kiến sự thay đổi của triều đại phong kiến, Nguyễn Trãi đã xây dựng nên một tư tưởng chính trị - xã hội có tính định hướng và thực tiễn sâu sắc. Cốt lõi trong tư tưởng của ông là quan điểm lấy dân làm gốc, xem dân là trung tâm của mọi quyết sách. Ông đề cao tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với lòng yêu nước, nhấn mạnh vai trò của đạo đức trong cai trị quốc gia, đề cao chủ quyền dân tộc và tinh thần độc lập, tự chủ. Bên cạnh đó, ông cũng thể hiện tinh thần khoan dung, hòa hiếu trong chính trị, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý tưởng đạo đức và hành động thực tiễn. Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi vì thế không chỉ là sản phẩm của bối cảnh lịch sử đương thời, mà còn là di sản tư tưởng quý báu cho các thế hệ sau.

Thứ nhất, tư tưởng yêu nước, ý chí độc lập dân tộc và ý thức tự cường dân tộc.

Trong hệ thống tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi, tinh thần dân tộc giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, được thể hiện rõ nét qua niềm tự hào sâu sắc đối với lịch sử, văn hóa và truyền thống anh hùng của dân tộc Đại Việt. Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ quan điểm về chủ quyền và tinh thần tự tôn dân tộc, khẳng định: “Xét ra từ xưa Giao Chỉ không phải là đất của Trung Quốc rõ lắm rồi” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 122). Ông không chỉ khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia, mà còn đề cao bản sắc văn hóa dân tộc như một yếu tố làm nên sức mạnh nội sinh trong cuộc đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Trong Bình Ngô đại cáo, ông khẳng định:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

 Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

 Núi sông bờ cõi đã chia

 Phong tục Bắc Nam cũng khác

 Từ Triệu Đinh Lý Trần gây nền độc lập

 Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 63).

Nghĩa là, Đại Việt có nền văn hóa lâu đời và đặc trưng riêng không hòa trộn với Trung Hoa. Văn bản này là tuyên ngôn khẳng định Đại Việt có nền văn hiến, lãnh thổ riêng, phong tục riêng, chế độ và chủ quyền riêng. Theo quan điểm của Nguyễn Trãi, sự độc lập chủ quyền không chỉ là vấn đề lãnh thổ, mà còn là vấn đề văn hóa, văn hiến và phong tục. Ông cho rằng, “bờ cõi sông núi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác”, từ đó khẳng định rằng Đại Việt là một quốc gia độc lập với lịch sử, văn hóa và truyền thống riêng biệt. Điều này thể hiện tầm nhìn sâu rộng của Nguyễn Trãi về bản sắc văn hóa dân tộc, không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ lãnh thổ mà còn bảo vệ những giá trị tinh thần, văn hóa truyền thống của dân tộc.

 Khẳng định độc lập chủ quyền và bản sắc của dân tộc, Nguyễn Trãi đồng thời gián tiếp bác bỏ luận điệu tự phụ và khinh miệt của kẻ thù phương Bắc. Trong Bình Ngô đại cáo, ông liệt kê những thất bại của quân xâm lược và nêu tội ác của giặc Minh để tố cáo bản chất bạo ngược của chúng:

 “Lưu Cung tham công nên thất bại,

 Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

 Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

 Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

 Việc xưa xem xét,

 Chứng cớ còn ghi”.

Bằng cách viện dẫn những sự kiện lịch sử cụ thể như chiến thắng của Triệu Quang Phục, Mai Hắc Đế, Ngô Quyền, Nguyễn Trãi không chỉ khơi dậy niềm tự hào dân tộc, mà còn chứng minh rằng dân tộc Việt Nam có truyền thống bất khuất, kiên cường và luôn chiến thắng kẻ thù xâm lược dù họ mạnh đến đâu. Đây là cách Nguyễn Trãi sử dụng lịch sử như một vũ khí tinh thần mạnh mẽ để động viên tinh thần đấu tranh của nhân dân và đồng thời cảnh cáo kẻ thù.

Nguyễn Trãi còn tố cáo “những tội ác hiểm độc” của giặc Minh khi sang xâm lược nước ta. Ông viết: “Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa vết nhơ; Chặt hết trúc Lam Sơn, chẳng đủ ghi hết tội ác” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 64), từ đó chứng minh cuộc kháng chiến Lam Sơn là “sự nghiệp chính nghĩa”. Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, Nguyễn Trãi cùng với nghĩa quân Lam Sơn không chỉ thể hiện quyết tâm giành lại độc lập dân tộc, mà còn thể hiện một tư tưởng chính trị và nhân đạo sâu sắc. Tư tưởng này được thể hiện rõ qua tuyên ngôn: “để hai nước thoát khỏi cái khổ can qua không ngớt, để cho nước nhà (nhà Minh) thoát khỏi cái họa độc vũ cùng binh” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976 : 150). Phát biểu này phản ánh một tầm nhìn vượt thời đại. Nguyễn Trãi không xem chiến tranh là phương tiện trả thù hay khẳng định uy quyền, mà coi đó là hành động bắt buộc trong hoàn cảnh bị xâm lược, nhằm hướng đến mục tiêu cao cả hơn: hòa bình, ổn định và yên dân. Việc ông kêu gọi chấm dứt chiến tranh không chỉ vì quyền lợi của Đại Việt, mà còn vì lợi ích của cả nhân dân Trung Hoa - những người cũng đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ chính sách xâm lược của triều đình nhà Minh.

Tư tưởng hòa bình và nhân đạo của Nguyễn Trãi thể hiện qua việc ông không chỉ quan tâm đến hạnh phúc của nhân dân Đại Việt, mà còn quan tâm đến nỗi khổ của nhân dân Trung Hoa. Ông nhận thức rõ rằng chiến tranh không chỉ gây đau thương cho dân tộc bị xâm lược, mà còn gây khổ đau cho cả dân tộc xâm lược. Chính vì vậy, ông chủ trương chấm dứt chiến tranh càng sớm càng tốt để “hai nước đều được yên”. Đây là tư tưởng hòa bình tiến bộ, mang tính nhân văn cao cả, vượt xa tư duy của thời đại phong kiến.

Ý thức tự cường trong tư tưởng Nguyễn Trãi cũng thể hiện qua cách ông nhìn nhận về tương lai đất nước sau chiến thắng. Ông không coi chiến thắng quân sự là đích đến cuối cùng, mà cho rằng nhiệm vụ quan trọng là xây dựng một xã hội thái bình, ổn định và phát triển bằng chính năng lực nội tại. Điều đó được thể hiện rõ trong những ước vọng mà ông gửi gắm qua các bài thơ trong Ức Trai thi tập, với những hình ảnh về một cuộc sống thanh bình, con người được học hành, làm ăn và sống trong yên ổn.

Tư tưởng tự cường dân tộc của Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện trong việc giành độc lập, mà còn trong việc xây dựng đất nước. Ông tin tưởng vào khả năng của dân tộc Việt Nam, tin rằng với sức mạnh nội lực, với truyền thống văn hiến, dân tộc Việt Nam hoàn toàn có thể xây dựng một quốc gia hùng cường, văn minh. Đây là tinh thần tự lực cánh sinh, tự cường dân tộc - một giá trị vô cùng quý báu mà Nguyễn Trãi để lại cho các thế hệ sau.

Thứ hai, tư tưởng nhân nghĩa và vận dụng thời thế trong chiến lược và sách lược chính trị.

 Tư tưởng nhân nghĩa trong sự nghiệp chính trị và văn chương của Nguyễn Trãi không chỉ phản ánh tinh thần Nho giáo, mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc, gắn liền với việc vận dụng thời thế để giải phóng dân tộc và xây dựng nền chính trị ổn định.

Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi chịu ảnh hưởng sâu sắc từ quan điểm nhân nghĩa của Nho giáo sơ kỳ, đặc biệt là tư tưởng “đức trị”. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử, các hiền triết của Nho giáo đều nhấn mạnh trị quốc bằng đức, bằng lễ. Nhân nghĩa trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi không chỉ thể hiện rõ trong thời kỳ kháng chiến chống quân Minh, mà còn trong quan niệm về chiến tranh chính nghĩa, đạo trị quốc và lòng nhân ái bao trùm của ông. Nguyễn Trãi viết: “đại đức hiếu sinh, thần vũ bất sát, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để an dân” (Nguyễn Trãi, 1976: 153). Quan điểm này cho thấy rõ tính nhân đạo sâu sắc trong tư tưởng quân sự của ông, dù dùng binh vẫn phải hướng tới cứu dân, bảo vệ sinh mạng con người và tránh sát sinh vô nghĩa. Trong quan niệm của Nguyễn Trãi, nhân nghĩa chính là vì dân, an dân, “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”, “dùng quân nhân nghĩa cứu dân khổ, đánh kẻ có tội”. Cũng theo ông, nhân nghĩa là cái gốc trong đạo lý làm người, đặc biệt là người cầm quyền. Ông từng nhấn mạnh rằng: “Đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 105) và đây cũng chính là nền tảng trong cách ứng xử của người lãnh đạo đối với nhân dân: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 106). Những lời dạy này thể hiện rõ rằng Nguyễn Trãi coi trọng nhân nghĩa như một điều kiện tiên quyết để đạt được thành công trong việc trị quốc và xây dựng đất nước.

Từ “nhân nghĩa” được Nguyễn Trãi sử dụng tổng cộng 140 lần trong toàn bộ các tác phẩm, trong đó có 59 lần chữ “nhân” và 81 lần chữ “nghĩa”. Thống kê này phần nào cho thấy “nhân nghĩa” không chỉ là một khái niệm đạo đức trừu tượng, mà là nguyên lý hành động xuyên suốt trong tư tưởng và thực tiễn chính trị của ông. Khác với quan niệm “nhân nghĩa” của Nho giáo truyền thống vốn mang tính lý tưởng, trừu tượng, mang tính cá nhân, còn “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi được cụ thể hóa thành những hành động thực tiễn là yêu dân, thương dân, lo cho dân, bảo vệ dân khỏi sự bóc lột, áp bức.

Chiến lược ngoại giao của Nguyễn Trãi thể hiện rõ trong việc ông sử dụng “chiến lược tâm công”, đánh vào tâm lý của quân địch, thuyết phục họ đầu hàng bằng lẽ phải, bằng đạo lý thay vì chỉ dựa vào vũ lực. Trong các thư gửi Vương Thông và các tướng lĩnh nhà Minh, Nguyễn Trãi đã khéo léo phân tích lợi hại, chỉ ra rằng cuộc chiến xâm lược là phi nghĩa, gây khổ đau cho cả hai bên, và chỉ có việc rút quân mới là quyết định đúng đắn. Đây là một phương pháp đấu tranh văn minh, tiến bộ, thể hiện trí tuệ ngoại giao xuất sắc của Nguyễn Trãi.

Nhân nghĩa trong tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, hình thành trên cơ sở thực tiễn lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV. Khác với các tư tưởng Tống Nho vốn nhấn mạnh lý tưởng bất biến, Nguyễn Trãi thể hiện tư duy linh hoạt, nhạy bén với hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là sự vận động của thời thế. Ông cho rằng, chính nghĩa muốn thành công phải phù hợp với thời thế, tức là phải nắm bắt và thích ứng với điều kiện khách quan, từ đó định ra sách lược hợp lý. Ông lợi dụng sự suy yếu của nhà Minh và sự bất mãn của dân chúng để phát động khởi nghĩa Lam Sơn, khơi dậy tinh thần đoàn kết dân tộc; sử dụng thư dụ hàng để thuyết phục tướng Minh, kết hợp nhân nghĩa và phân tích lợi hại, tránh xung đột không cần thiết. Ông từng khuyên vua Lê Thái Tổ tha thứ cho những kẻ đứng đầu, nhằm ổn định tình hình chính trị và đoàn kết dân tộc. Trong khi đó, việc chủ động gửi thư cho các tướng lĩnh nhà Minh, kêu gọi đầu hàng để tránh đổ máu, lại thể hiện sự khôn khéo của ông trong việc tận dụng thời cơ để đạt được mục tiêu chính trị bằng biện pháp mềm dẻo. Trong thư gửi Vương Thông, ông viết: “Cầu đường sửa xong, thuyền xe sắm đủ, hai đường thủy lục, tùy theo ý muốn, đưa quân ra cõi, yên ổn muôn phần” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 135). Điều này còn thể hiện tinh thần khoan dung trong tư tưởng của ông. Tư tưởng này rất khác với quan niệm trung thứ của Nho giáo, thể hiện ở sự tận tụy cứu dân, không nhượng bộ chủ quyền, và tôn trọng phẩm giá con người. Hành động này không chỉ vì lòng nhân ái mà còn nhằm lợi ích lâu dài của đất nước, thương dân (không giết hại vô ích) và củng cố hòa bình. Như vậy, Nguyễn Trãi là ví dụ điển hình cho việc kết hợp nhân nghĩa với chiến lược thời thế. Chiến lược “tâm công” là nét độc đáo trong tư tưởng chính trị của Nguyễn Trãi: “Dùng binh cốt lấy bảo toàn cả nước làm trên hết. Để cho bọn Vương Thông trở về nói với vua Minh trả lại đất đai cho ta, đó là điều ta cần không gì hơn thế nữa... Hà tất phải giết hết bọn chúng để gây oán với nước lớn làm gì” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 28).

Tư tưởng thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn của Nguyễn Trãi thể hiện tầm nhìn chiến lược về xây dựng đất nước. Ông nhận thức rõ rằng, sau chiến tranh, nhiệm vụ quan trọng nhất không phải là tiếp tục chuộng võ mà là chấn hưng văn hóa, giáo dục, đạo đức để xây dựng một quốc gia văn minh. Đây là tư tưởng tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, và đã được triều Lê sơ thực hiện thành công, biến Đại Việt thời bấy giờ thành một quốc gia thịnh trị, văn hiến.

Nguyễn Trãi đặt nhân nghĩa làm công lý, “Rút cuộc, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn/ Lấy chí nhân mà thay cường bạo” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 79); đã tạo ra một nền tảng lý luận vững chắc cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ông không chỉ kêu gọi nhân dân đứng lên vì độc lập, mà còn khẳng định rằng cuộc chiến này là chính nghĩa, được ủng hộ bởi đạo trời và lòng dân. Điều này giúp tập hợp sức mạnh toàn dân, từ nông dân đến sĩ phu, tạo nên một lực lượng đoàn kết mạnh mẽ.

Sau chiến thắng oanh liệt của nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trãi tiếp tục dốc tâm huyết phụng sự triều Lê sơ, góp phần ổn định và xây dựng đất nước sau loạn lạc. Trong thời kỳ này, triết lý nhân văn sâu sắc của ông là muốn hướng quốc gia sang một thời kỳ mới - thời kỳ của văn hóa, đạo đức, hòa bình và phát triển bền vững. Đây cũng là lúc ông đề xuất các chính sách khoan thư sức dân, phục hồi sản xuất, chấn hưng giáo dục và đạo lý. Nguyễn Trãi đã nói: “thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn. Nay đúng là lúc nên làm lễ nhạc” (Đại Việt sử ký toàn thư, 2010: 527). Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn được thể hiện ở ý tưởng xây dựng một đất nước thái bình, trên vua thánh dưới tôi hiền, cho rằng, trung thần là người biết chọn vua hiền để thờ, biết làm cho vua có tài đức như Nghiêu, Thuấn, biết giúp vua đưa đất nước tới chỗ thái bình, thịnh trị: “Ước bề giả ơn minh chúa, hết khỏe phù đạo thánh nhân. Quốc phú binh cường chăng có chước, bằng tôi nào thuở ích chưng dân”, “còn có một lòng âu việc nước, đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung” ( Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 411). Nguyễn Trãi với tư duy chính trị linh hoạt nhưng nhất quán về mục tiêu lâu dài, dựng nước bằng đạo đức, phát triển đất nước bằng văn hóa, giáo dục và lòng nhân ái, cùng với các vị vua trị vì của các triều đại Lê Sơ đã đem lại cho thời kỳ này một xã tắc ổn định, thanh bình. “May lòng trời nghĩ đến, ra đời thánh chúa, chinh phục bằng nghĩa, đánh dẹp bằng nhân, non sông mới được đổi mới, nhật nguyệt mới được sáng tươi. Nhân dân từ đây bình yên, nước nhà từ đây thuận trị” (Đại Việt sử ký toàn thư, 2010: 521).

Thứ ba, tư tưởng dân là gốc nước, nhân dân giữ vai trò quyết định đối với vận mệnh đất nước.

Một trong những tư tưởng lớn, mang giá trị xuyên suốt trong sự nghiệp của Nguyễn Trãi chính là tư tưởng “dân là gốc nước”. Ông đề cao vai trò của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây là tư tưởng có tính nhân văn sâu sắc, có ảnh hưởng lớn đến lịch sử và văn hóa chính trị Việt Nam.

Ngay trong Bình Ngô đại cáo - bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng sau chiến thắng quân Minh, Nguyễn Trãi đã khẳng định vai trò trung tâm của nhân dân: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

Nguyễn Trãi xác định mục tiêu tối thượng của “nhân nghĩa” tức là chính nghĩa, đạo lý chính là “yên dân”, mang lại cuộc sống thái bình, ấm no cho nhân dân. Đồng thời, ông cũng cho rằng những hành động chống lại nhân dân, áp bức bóc lột dân là “bạo”, cần bị trừ bỏ. Ông coi mục tiêu tối thượng của cuộc chiến chống quân Minh không chỉ là đánh đuổi giặc ngoại xâm, mà là để nhân dân được sống trong cảnh thanh bình, không còn lầm than, đói khổ. Điều đó chứng tỏ tư tưởng “vì dân” là nền tảng và động lực của toàn bộ sự nghiệp kháng chiến. Trong quá trình diễn ra cuộc chiến, Nguyễn Trãi nhiều lần thể hiện nỗi xót xa trước cảnh nhân dân bị giặc tàn sát, cướp bóc, bắt đi phu, thu thuế nặng nề, và xem đó là tội ác không thể dung tha của giặc Minh:

    “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

 Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 63).

Hình ảnh “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ” là một trong những hình ảnh bi thảm nhất mà Nguyễn Trãi sử dụng để tố cáo tội ác của giặc Minh. “Dân đen” ở đây là nhân dân lao động, còn “con đỏ” là những đứa trẻ thơ vô tội. Hình ảnh “nướng dân đen”, “vùi con đỏ” thể hiện sự tàn bạo, dã man đến cùng cực. Những hình ảnh này không chỉ gây phẫn nộ, mà còn khơi dậy lòng thương cảm sâu sắc đối với nỗi khổ của nhân dân, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho cuộc kháng chiến giải phóng. “Dân” là chủ đề trung tâm, là mối quan tâm xuyên suốt trong tư tưởng chính trị - xã hội của ông. Nguyễn Trãi là người đầu tiên trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đã nhắc đến “dân” với tần suất cao và với những quan niệm tiến bộ, nhân văn.

Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, mở ra cơ hội to lớn để khôi phục và xây dựng một quốc gia độc lập, ổn định và thịnh trị. Trong bối cảnh ấy, Nguyễn Trãi - với vai trò là vị đại thần thân cận của vua Lê Lợi - đã không chỉ đóng vai trò quân sư về mặt chiến lược, mà còn là người kiến tạo đường lối trị quốc an dân. Trong đường lối chính trị của Nguyễn Trãi, “dân” và vai trò của dân được đặt lên hàng đầu: “Lật thuyền mới rõ dân như nước” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 281). Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Nguyễn Trãi không chỉ là một khẩu hiệu, mà còn là nguyên lý hành động trong toàn bộ sự nghiệp chính trị của ông. Nhân dân, trong con mắt của Nguyễn Trãi, không phải là đối tượng bị trị thụ động, mà là chủ thể tích cực của lịch sử. “Từ phát hiện ra sức mạnh, huy động được sức mạnh của dân vào cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là sau khi cuộc chiến tranh đã kết thúc, Nguyễn Trãi không quên nhắc đến họ với một vị trí xứng đáng” (Cù Thị Nga, 2003: 42). Trong Chiếu Cấm các đại thần, tổng quản, cùng các quan ở viện, sảnh, cục, không được tham lam, lười biếng, Nguyễn Trãi đã thể hiện quan điểm sâu sắc về mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân. Ông cho rằng việc dân mất niềm tin vào triều đình chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của các triều đại trước - từ cuối Trần, qua nhà Hồ đến nhà Minh. Sự suy tàn đó không phải chỉ do thế lực ngoại xâm hay hoàn cảnh khách quan, mà chủ yếu xuất phát từ việc triều đình xa rời dân, quan lại mục nát, tham lam, lười biếng, vơ vét của cải và làm khổ dân chúng. Nhận thức được bài học đó, Nguyễn Trãi đề xuất một nguyên tắc trị quốc nền tảng: muốn giữ vững cơ đồ, điều đầu tiên là phải giữ được lòng dân. Vì lòng yêu thương muôn dân nên Nguyễn Trãi từng tâu với vua và mong muốn nhà vua hãy “yêu nuôi muôn dân, để chốn xóm thôn không còn tiếng oán hận buồn than” (Đại Việt sử ký toàn thư, 2010: 360).

Câu nói “Lật thuyền mới rõ dân như nước” của Nguyễn Trãi kế thừa quan điểm của Tuân Tử là một trong những câu nói nổi tiếng nhất về vai trò của nhân dân. Ông đã tiếp thu và phát triển tư tưởng “dân vi bang bản” của Nho giáo, nhưng đã đưa nó lên một tầm cao mới. Nguyễn Trãi nhấn mạnh, phải đến khi thuyền lật rồi mới thấy được sức mạnh của nước. Đây là một cảnh báo sâu sắc đối với người cầm quyền, rằng không được xem thường nhân dân, phải biết lo cho dân, yêu dân, thương dân, nếu không sẽ bị nhân dân “lật thuyền”, tức là lật đổ.

Có thể thấy, tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi mang đậm tinh thần nhân bản sâu sắc. Tư tưởng yêu nước, nhân nghĩa và trọng dân của ông được xem như phương tiện để duy trì quyền lực, cội nguồn của quốc gia, gốc rễ của mọi thành tựu chính trị - xã hội.

Chính những tư tưởng đó đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động trị quốc của ông và đặt nền móng cho một chính quyền lý tưởng: dựa trên đạo lý, vì lợi ích dân sinh, lấy lòng dân làm thước đo sự chính đáng của triều đại.

5. Ý nghĩa tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi đối với việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay

Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi là một di sản văn hóa đồ sộ, mang giá trị to lớn trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang tích cực đổi mới, hội nhập quốc tế và đối diện với nhiều thách thức về đạo đức, lối sống, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Nguyễn Trãi vào giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ là việc làm có ý nghĩa vô cùng sâu sắc.

Thứ nhất, giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Lòng yêu nước là một trong những giá trị đạo đức quan trọng hàng đầu của con người Việt Nam. Giá trị đạo đức này được hình thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển dân tộc, lịch sử quốc gia, trở thành một giá trị tốt đẹp được lưu giữ và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống là giá trị cốt lõi, giữ vị trí cao nhất, là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam” (Trần Văn Giàu, 2011: 165). Trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, lòng yêu nước chân chính phải bắt nguồn từ tình yêu con người, từ sự quan tâm đến đời sống nhân dân. “Chủ nghĩa yêu nước, ý thức dân tộc, đó là tinh thần nhân đạo, nguyện vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam” (Phạm Văn Đồng và cộng sự, 1980: 61). Tư tưởng của Nguyễn Trãi về lòng yêu nước là một trong những nền tảng quan trọng để giáo dục thế hệ trẻ trở thành những công dân yêu nước, yêu chuộng hòa bình và sẵn sàng dấn thân. Giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Nguyễn Trãi không chỉ dừng lại ở việc hô hào khẩu hiệu, mà cần gắn liền với các hành động thiết thực, từ ý thức giữ gìn môi trường sống, tuân thủ pháp luật, đến tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng. Qua đó, thế hệ trẻ sẽ nhận thức rõ rằng yêu nước không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là quyền lợi, là sự lựa chọn mang tính đạo đức và trách nhiệm công dân.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, thế hệ trẻ Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về bản sắc văn hóa, giá trị truyền thống. Sự xâm nhập của văn hóa phương Tây, lối sống tiêu dùng, chủ nghĩa cá nhân đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức và lối sống của một bộ phận thanh thiếu niên. Trong bối cảnh ấy, việc giáo dục lòng yêu nước dựa trên tư tưởng của Nguyễn Trãi trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Thứ hai, giáo dục cho thế hệ trẻ tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống.

 Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi có ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống cho thế hệ trẻ, trong đó có giáo dục về lý tưởng cách mạng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và hiếu với Nhân dân; giáo dục tình thương yêu con người; giáo dục tinh thần quốc tế trong sáng và giáo dục lối sống mới, văn minh, hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc và tinh hoa nhân loại. Nguyễn Trãi luôn dành sự trân trọng đặc biệt đối với lịch sử truyền thống anh hùng của dân tộc. Với ông, lịch sử dân tộc không chỉ là một dòng chảy kéo dài về mặt thời gian, mà còn là bản anh hùng ca ghi dấu những cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam chống lại các thế lực ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc. “Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương/ Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ Mà hào kiệt không bao giờ thiếu” (Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 77). Từ tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi, thế hệ trẻ hôm nay cần phải có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào xã hội. Nếu thiếu đi cách nhìn nhận đó, thậm chí rơi vào trạng thái hoài nghi, khinh miệt và xa lánh nhân dân, xa rời tập thể, thì thế hệ trẻ rất dễ trượt về lập trường của chủ nghĩa cá nhân tư sản. Vì vậy, cần định hướng để thế hệ trẻ nhận thức và phát huy sức mạnh từ chính tập thể của mình cũng như từ nhân dân, có sự đồng cảm và tinh thần chia sẻ với những công việc khó khăn, vất vả của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân.

Giáo dục lịch sử dân tộc trên cơ sở tư tưởng của Nguyễn Trãi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhận thức chính trị, đạo đức cho thế hệ trẻ. Khi hiểu rõ về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông, thế hệ trẻ sẽ hun đúc lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, có ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh đất nước. Họ sẽ hiểu rằng, độc lập, tự do mà chúng ta đang thụ hưởng hôm nay là kết quả của bao công sức, xương máu của các thế hệ đi trước, và vì vậy, chúng ta cần phải có trách nhiệm giữ gìn, phát huy những thành quả ấy.

Nguyễn Trãi đặc biệt đề cao tư tưởng “lấy dân làm gốc”, nhấn mạnh vai trò trung tâm của con người trong xã hội và trong hoạt động chính trị. Ông cho rằng, chính nghĩa là để “yên dân”, đồng thời lên án những hành vi bóc lột, tàn bạo đối với dân. “Nguyễn Trãi là người đầu tiên trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đã nhấn mạnh về vai trò của nhân dân lao động trong lịch sử. Đây chính là những nhân tố tư tưởng dân chủ của ông” (Viện Sử học, 1980: 100). Tư tưởng vì con người của Nguyễn Trãi là bài học để thế hệ trẻ hôm nay định hướng lối sống nhân ái, khoan dung, biết tôn trọng và yêu thương người khác. Trong bối cảnh xã hội hiện đại đang đối diện với nhiều vấn đề về bạo lực, vô cảm, thiếu đạo đức, việc khôi phục và lan tỏa tư tưởng sống vì con người có vai trò quan trọng đối với việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Nguyễn Trãi luôn nhấn mạnh vai trò đoàn kết, lắng nghe ý dân, và xây dựng chính quyền vì lợi ích của toàn dân. Tư tưởng đó định hướng thế hệ trẻ hiện nay sống có trách nhiệm với xã hội, đồng cảm và sẻ chia với người khác, tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong xã hội hiện đại, khi mà chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng đang có xu hướng gia tăng, việc giáo dục lối sống nhân ái, vị tha, sống vì mọi người trở nên vô cùng quan trọng. Tư tưởng “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi chính là phương thuốc để chữa trị những căn bệnh của xã hội hiện đại. Thế hệ trẻ cần được giáo dục để hiểu rằng, hạnh phúc thật sự không nằm ở của cải vật chất, mà nằm ở việc sống có ích cho người khác, có đóng góp tích cực cho xã hội. Việc giáo dục đạo đức trên nền tảng tư tưởng Nguyễn Trãi cần được lồng ghép một cách bài bản, hệ thống, hấp dẫn. Sẽ rất giá trị nếu đưa những giá trị đạo đức trong tư tưởng của Nguyễn Trãi như nhân nghĩa, khoan dung, trọng dân, yêu nước vào các môn học đạo đức, giáo dục công dân. Đội ngũ giáo viên cần biết cách kết nối những giá trị truyền thống này với đời sống hiện đại, giúp học sinh thấy được tính thiết thực, tính ứng dụng của chúng. Bên cạnh đó, cần tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, nơi mà những giá trị đạo đức tốt đẹp được tôn vinh, khuyến khích.

Việc giáo dục tư tưởng “dân vi bang bản”, tinh thần dân chủ, coi trọng vai trò của nhân dân trên cơ sở tư tưởng Nguyễn Trãi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xã hội hiện đại. Dân chủ không chỉ được hiểu như một chế độ chính trị, mà còn là lối sống, nguyên tắc giáo dục, giá trị văn hóa, cách ứng xử giữa con người với con người trong đời sống xã hội.

Thứ ba, giáo dục cho thế hệ trẻ biết yêu lao động và học tập hăng say vì sự phát triển của dân tộc cũng là thể hiện tình yêu nước.

GS. Trần Văn Giàu đã nói: “Ý thức một cách rõ rệt nhất, đầy đủ nhất về sự thành hình đó là cống hiến tinh thần của Nguyễn Trãi, người có trình độ văn hóa cao, có kiến thức quốc học lớn, người đã trực tiếp tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đến toàn thắng” (Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, 1982: 229). Cả cuộc đời Nguyễn Trãi là tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia, nhân dân. Trong hoàn cảnh gian khó, ông vẫn giữ vững chí khí, dù bị hiểu lầm và oan khốc, vẫn trung thành với ý chí phụng sự. Tinh thần đó là kim chỉ nam giúp thế hệ trẻ hiện nay rèn luyện tinh thần trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội.

 Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ với nền kinh tế tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng. Sự bùng nổ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đang tạo ra những thay đổi mang tính cách mạng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Để đáp ứng yêu cầu của thời đại, đòi hỏi thế hệ trẻ phải trở thành những cá nhân có khả năng thích ứng nhanh, chủ động tiếp cận tri thức mới, và không ngừng đổi mới tư duy. Trong đó, việc giáo dục ý thức tự giác, tinh thần năng động và năng lực sáng tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học là yếu tố then chốt để hình thành lớp thế hệ trẻ đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập. Đặc biệt, trong thời đại mới, học tập và lao động hăng say không chỉ là nghĩa vụ cá nhân, mà còn là biểu hiện cụ thể và thiết thực của lòng yêu nước. Yêu nước không nhất thiết phải thể hiện bằng những hành động lớn lao, mà bắt đầu từ chính sự nỗ lực không ngừng trong học tập, rèn luyện bản thân, và cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung. Mỗi người cần nhận thức rõ rằng, thành quả học tập hôm nay chính là nền tảng cho sự phát triển đất nước ngày mai.

Nguyễn Trãi từng nhấn mạnh vai trò của học tập và giáo dục trong việc xây dựng đất nước. Sau khi chiến thắng quân Minh, ông đã đề xuất chính sách “thời loạn dùng võ, thời bình chuộng văn”, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chấn hưng giáo dục, đào tạo nhân tài. Trong Ngôn chí bài 9, ông viết: “Thi Thư thực ấy báu nghìn đời”, tức là sách vở kinh điển nói riêng và văn hóa giáo dục nói chung có giá trị cho ngàn đời sau.

Tư tưởng coi trọng giáo dục của Nguyễn Trãi có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho thế hệ trẻ hiện nay. Trong thời đại tri thức, người có học, có tài chính là nguồn lực quý báu nhất của đất nước. Vì vậy, thế hệ trẻ cần được giáo dục để nhận thức rằng, việc học tập không chỉ vì bản thân mà còn vì đất nước, vì dân tộc. Mỗi người khi nỗ lực học tập, rèn luyện và lao động hiệu quả chính là đang góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.

Hơn nữa, Nguyễn Trãi còn nhấn mạnh vai trò của người lao động. Ông viết: “Ăn lộc đến ơn kẻ cày cấy” (Dẫn theo: Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học, 1976: 445), thể hiện sự trân trọng sâu sắc đối với những người lao động, những người tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục thái độ lao động cho thế hệ trẻ. Trong xã hội hiện đại, khi mà một bộ phận bạn trẻ coi thường lao động chân tay, chỉ muốn làm những công việc “sang, sạch, nhẹ”, việc giáo dục tinh thần tôn trọng lao động, tôn trọng người lao động trở nên vô cùng cần thiết. Giáo dục ý thức lao động trên cơ sở tư tưởng Nguyễn Trãi cần được thực hiện bằng cách kết hợp giữa lý luận và thực hành. Học sinh, sinh viên cần tham gia các hoạt động lao động công ích, tình nguyện, để hiểu được giá trị và ý nghĩa của lao động. Qua đó, các em sẽ trân trọng hơn công sức của những người lao động, đồng thời rèn luyện được tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng.

Việc vận dụng tư tưởng Nguyễn Trãi trong giáo dục thanh thiếu niên không chỉ dừng lại ở khía cạnh lý luận, mà cần được cụ thể hóa bằng những hành động thiết thực như: tăng cường các chương trình giáo dục công dân, giáo dục lịch sử và đạo đức; xây dựng các diễn đàn thanh thiếu niên để trao đổi, chia sẻ các vấn đề xã hội; thúc đẩy các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, khởi nghiệp sáng tạo… nhằm giúp thanh thiếu niên thấm nhuần tinh thần trách nhiệm, sống có ích, sống vì người khác.

6. Kết luận

Tư tưởng chính trị - xã hội của Nguyễn Trãi, với những nội dung cốt lõi, như tư tưởng độc lập dân tộc, tư tưởng nhân nghĩa và tư tưởng thân dân, là kho tàng trí tuệ và đạo đức quý giá của lịch sử dân tộc Việt Nam. Việc nghiên cứu tư tưởng của ông và vận dụng tư tưởng đó để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ là một việc làm có ý nghĩa. Việc định hướng cho thế hệ trẻ sống có trách nhiệm, biết yêu nước, biết vì người khác không chỉ giúp họ trưởng thành, mà còn bảo đảm tương lai của dân tộc được xây dựng trên nền tảng văn hóa bền vững và nhân bản. Tư tưởng của Nguyễn Trãi về sự dấn thân phụng sự có thể trở thành tấm gương mẫu mực để thanh niên học tập, noi theo. Thế hệ trẻ cần học ở ông tinh thần không ngại khó khăn, không lùi bước trước mọi thử thách, luôn đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Việc nuôi dưỡng tinh thần phụng sự cộng đồng sẽ giúp thanh niên định hình được lý tưởng sống đúng đắn, tích cực góp phần xây dựng một xã hội nhân ái, công bằng và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Văn Nguyên. (2000). Văn chương Nguyễn Trãi rực ánh sao Khuê.

Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

2. Cù Thị Nga. (2003). Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi trong lịch sử triết học Việt Nam. Huế: Luận văn Thạc sĩ, Đại học Huế.

3. Đại Việt sử ký toàn thư, Trọn bộ. (2010). Hà Nội: Nxb. Văn hóa - Thông tin.

4. Nguyễn Trãi. (1976). Thư dụ hàng (các tướng sĩ) thành Bình Than, trong Nguyễn Trãi toàn tập. Hà Nội: Nxb.

Khoa học xã hội.

5. Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, A. M. Mơ Bân. (1980). Nguyễn Trãi - Một tiêu biểu rất đẹp của thiên tài Việt Nam: Kỷ niệm lần thứ 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Ty Văn hóa Hà Sơn Bình, Nxb. Hà Sơn Bình.

6. Trần Văn Giàu. (1980). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

7. Trần Văn Giàu. (2011). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.

8. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Sử học. (1976). Nguyễn Trãi toàn tập. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

9. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. (1982). Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

10. Viện Sử học. (1980). Nguyễn Trãi - Thân thế và sự nghiệp. Hà Nội:

Nxb. Khoa học xã hội.

 11. Viện Sử học. (2010). Nguyễn Trãi toàn tập. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Duyên
Nguồn: https://iopjournal.vn/index.php/tcth/vi/article/view/1109

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1