LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI - BỘ PHẬN TẤT YẾU CẤU THÀNH NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng được hình thành từ thực tiễn đất nước vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ XX và tiếp tục được bổ sung, phát triển phù hợp ở từng giai đoạn cách mạng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Sau 40 năm đổi mới, đất nước đã có sự phát triển vượt bậc, toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Những thành tựu này đã kiểm chứng tính đúng đắn, khoa học của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. Bởi vậy, lý luận đó cần được bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ góp phần làm giàu kho tàng lý luận cách mạng của Đảng, mà còn tiếp tục trở thành cơ sở lý luận soi đường, dẫn dắt cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.
Mở
đầu
Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng. Trên nền tảng tư tưởng ấy, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, đất nước ta có được cơ đồ, “vị thế, uy tín” chưa từng có trong lịch sử.
Chúng ta đều rõ, nền tảng tư tưởng của Đảng thuộc hình thái ý thức xã hội, chịu
sự quy định bởi tồn tại xã hội, do đó, luôn được Đảng ta chú trọng bổ sung,
hoàn thiện, phát triển. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng được hình thành
từ thực tiễn đất nước vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ XX và tiếp tục được
bổ sung, phát triển phù hợp ở từng giai đoạn cách mạng, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn. Kết quả là, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước đã có
sự phát triển vượt bậc, toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Sự
thành công đó đã chứng tỏ rằng, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng là hoàn
toàn đúng đắn, cần phải được bổ sung vào nền tảng tư tưởng của Đảng, không chỉ
để làm phong phú, góp phần tô đậm truyền thống lý luận cách mạng của Đảng ta,
mà còn tiếp tục trở thành cơ sở lý luận soi đường, dẫn dắt cách mạng Việt Nam
trong bối cảnh mới. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng trở thành yếu tố cấu
thành nền tảng tư tưởng của Đảng là một tất yếu khách quan.
Cách
tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm làm rõ tính tất yếu của việc bổ sung lý luận
đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng, bài viết quán triệt các
nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, nguyên lý thống nhất giữa
lý luận với thực tiễn, kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử -
lôgíc,… để làm rõ vai trò, bản chất lý luận đường lối đổi mới của Đảng. Trên
lập trường khách quan, khoa học, khái quát kết quả 40 năm thực hiện đường lối
đổi mới và những vấn đề mới đặt ra trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, bài viết góp phần khẳng định tính đúng đắn của lý luận về đường lối đổi
mới của Đảng. Các kết luận rút ra đảm bảo tính khoa học, tránh áp đặt chủ quan
trong nhận định, đánh giá; từ đó, khẳng định sự cần thiết bổ sung lý luận về
đường lối đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần làm phong phú lý
luận cách mạng của Đảng và bổ sung cơ sở lý luận cho con đường cách mạng Việt
Nam trong bối cảnh mới.
Bản
chất của lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam
Năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với
tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh
giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, trong Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã
chỉ rõ: “Vui mừng trước những thành quả đó, chúng ta càng phải thấy rõ mặt trái
của tình hình, nhất là về kinh tế - xã hội, sự trì trệ của sản xuất, sự rối ren
về phân phối, lưu thông, những khó khăn trong đời sống nhân dân, những hiện
tượng tiêu cực trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, sự giảm sút niềm tin của
nhân dân lao động. Đó là những điều mà Đảng ta cũng như nhân dân ta không thể
chấp nhận được” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987: 7). Đảng cũng chỉ ra nguyên nhân
sự giảm sút của sản xuất những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ
XX là do “những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, nhất là bố trí đầu tư và
xây dựng cơ bản của năm năm 1976 - 1980, đã để lại hậu quả nặng nề” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 1987: 13). Bởi vậy, để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, con đường duy nhất, cấp bách là phải thực
hiện đổi mới. Bởi, “chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy
những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa, nhằm vận dụng tốt chủ
nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh nước ta, phát huy truyền thống lịch sử và cách
mạng của dân tộc, động viên tính năng động, sáng tạo và khả năng vô tận của
nhân dân lao động làm chủ tập thể để đồng thời đẩy mạnh ba cuộc cách mạng, xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc… Muốn thế, phải đấu tranh chống cái cũ,
chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập khuôn, chống chủ quan nóng vội,
chống tha hóa biến chất, chống những thói quen lỗi thời dai dẳng” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 1987: 7-8). Như vậy, tại Đại hội lần thứ VI, Đảng đã thẳng thắn
chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế trong đường lối lãnh đạo đất nước, chỉ ra
tính tất yếu phải đổi mới, khắc phục, sửa chữa sai lầm là sự lựa chọn đúng đắn
và không thể nào khác do bắt nguồn từ những yếu tố khách quan, chủ quan của đất
nước trong những năm 80 của thế kỷ XX. Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng
được ra đời trong bối cảnh như vậy. Đó là đòi hỏi bức thiết của thực tiễn, là
sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với
xu thế tất yếu của thời đại.
Sinh thời, lãnh tụ V.I.Lênin đã khẳng định: “Chúng ta
không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm
phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học
mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ
không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” (V.I.Lênin, 2005, tập 4: 232). Từ kim chỉ nam đó, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 199). Tinh thần đó được duy trì và thực hiện qua
các kỳ đại hội Đảng, đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh:
“Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 109). Với tinh thần đó, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa
XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ
rõ: “Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2021, tập I: 74).
Có thể nói, lý luận về đường lối đổi mới không phải là
xa rời mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, mà là phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc
phục những sai lầm trên tất cả các mặt, đồng thời, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong
điều kiện, hoàn cảnh mới. Thực chất, “đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu
xã hội chủ nghĩa mà là làm cho các mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng
những quan niệm đúng, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2006b, tập 49: 921). Đây là “con đường vươn lên đáp ứng đòi
hỏi của thời đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu
ngày càng cao của nhân dân. Đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết
của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Nhiều năm nay, trong
nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu (...). Đó
là một nguyên nhân chậm phát triển và cụ thể hóa đường lối chung và đường lối
kinh tế trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
1987: 124-125). Vì vậy, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng được xác định là
sự bổ sung, phát triển lý luận trên cơ sở kiên định mục tiêu gắn độc lập dân
tộc với chủ nghĩa xã hội, đồng thời phát triển sáng tạo từng luận điểm cụ thể
cho phù hợp với tình hình thực tiễn mới.
Lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam được bổ sung và phát triển phù
hợp với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi thời kỳ. Qua từng giai đoạn,
với từng bước đi thận trọng, lý luận về đường lối đổi mới luôn bám sát sự vận động của thực tiễn, và dần được hoàn
thiện để trở thành nền tảng lý luận của Đảng. Lý luận về đường lối đổi mới được bao quát trên tất cả các
mặt, gồm: lý luận về thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; về đặc trưng,
phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội; về nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa; về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân; về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa; về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; về giáo dục, đào tạo, khoa học và
công nghệ.
Như vậy, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta
trong đổi mới nhận thức về bản chất, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và
trong nhận thức, thực tiễn bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn được hoàn
thiện, bổ sung, phát triển để phù hợp với điều kiện thực tiễn mới. Điều này nói
lên tính cách mạng - bản chất của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta. Bởi
vậy, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới thành công, việc bổ sung “lý luận
về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng là hết sức quan trọng,
không chỉ khẳng định sự tiếp nối tất yếu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn tiếp tục trở thành kim chỉ nam
chỉ đạo, định hướng thực tiễn trong những giai đoạn tiếp theo của công cuộc bảo
vệ và xây dựng, phát triển đất nước.
Tính
tất yếu của việc bổ sung “Lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của
Đảng
Một là, xuất phát từ
vai trò của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng.
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những
học thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những
thành tựu, giá trị văn minh của nhân loại, được bổ sung, phát triển từ những
kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử trong
nước và thế giới.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, nền tảng tư tưởng rất
quan trọng, có vai trò: i/ định hướng và dẫn đường, là kim chỉ nam cho mọi hoạt
động của Đảng, Nhà nước và toàn dân, xác định mục tiêu dài hạn và các chính
sách phát triển của đất nước; ii/ tạo sự đoàn kết và đồng thuận, sự thống nhất
về tư tưởng nhằm củng cố, nâng cao lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của
Đảng và là nền tảng để xây dựng đại đoàn kết dân tộc; iii/ xây dựng sức mạnh
tổng hợp, trước hết là xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, quy tụ sức mạnh
toàn dân tộc, từ đó, nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Trên nền tảng tư tưởng đã được xác định là chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta từ năm
1986 đã dẫn dắt, đưa cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi, đến nay đất nước
ta đã “thay da đổi thịt”, “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế” ngày càng
tăng cao. Điều đó cho thấy tính đúng đắn của lý luận về đường lối đổi mới của
Đảng trong 40 năm qua.
Hai là, xuất phát từ
bản chất của lý luận về đường lối đổi mới.
Hiện thực hóa mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước, lý luận
về đường lối đổi mới của Đảng được bổ sung, phát triển liên tục qua các kỳ đại
hội. Về lý luận, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng nhằm khắc phục những
quan niệm không phù hợp, đồng thời nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn những quan
niệm về chủ nghĩa xã hội trên cơ sở phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chứ không phải xa rời, phủ định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Về thực tiễn, lý luận về đường lối đổi mới
của Đảng không phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, không phủ nhận
đường lối đúng đắn đã được xác định, mà tiếp tục bổ sung và phát triển trong
điều kiện mới. Với ý nghĩa ấy, lý luận về đường lối đổi mới vừa đảm bảo tính kế
thừa, tính đổi mới và phát triển trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Đó
là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta, không chỉ góp phần bảo vệ
vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, mà còn đưa đất nước phát triển, bước vào
giai đoạn mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với bản chất đó, lý luận về
đường lối đổi mới được xác định từ nửa cuối những năm 80 của thế kỷ XX được đúc
rút, kiểm chứng qua 40 năm đổi mới với những kết quả, thành tựu nổi bật là
không thể phủ nhận và là bằng chứng thuyết phục, khẳng định tính đúng đắn của
đường lối đổi mới. Vì vậy, lý luận về đường lối đổi mới cần được tiếp tục bổ
sung để trở thành nền tảng tư tưởng định hướng, chỉ đạo cho cách mạng Việt Nam
trong những giai đoạn tiếp theo, đồng thời là cơ sở để củng cố niềm tin của
nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, từ đó Đảng tiếp
tục vững vàng lãnh đạo cách mạng đi đến bến bờ thành công.
Ba là, lý luận về đường
lối đổi mới thể hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Nội dung của lý luận về đường lối đổi mới của Đảng dựa
trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những thành tựu đã đạt được và bổ sung, phát triển trên
cơ sở bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tiếp thu tinh
hoa của nhân loại. Quán triệt nguyên tắc này nhằm đảm bảo lý luận không xơ
cứng, giáo điều, luôn gắn với thực tiễn, đồng thời đảm bảo sự ổn định để phát
triển. Sự kiên định và bổ sung, phát triển sáng tạo trong lý luận về đường lối
đổi mới của Đảng luôn có quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau. Kiên định là cơ
sở để bổ sung, phát triển sáng tạo đúng đắn. Nếu kiên định nhưng không bổ sung,
phát triển sáng tạo sẽ rơi vào bảo thủ, giáo điều. Ngược lại, bổ sung, phát
triển sáng tạo đúng đắn đòi hỏi phải trên nguyên tắc kiên định để không rơi vào
chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Chỉ có như thế mới đảm bảo nguyên tắc “đổi mới nhưng
không đổi màu”, đổi mới phải đảm bảo ổn định để phát triển. Một trong những bài
học kinh nghiệm được Đảng đúc rút, đó là: “giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới, kết hợp sự kiên
định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt trong sách lược,
nhạy cảm nắm bắt cái mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991: 52). “Nắm bắt cái mới”
ở đây là mọi đường lối cần phải bám sát hơi thở của cuộc sống, đó là những biến
động của thực tiễn trong nước và quốc tế, những vấn đề phát sinh mới của khoa
học, chính trị, lý luận. Do đó, lý luận về đường lối đổi mới luôn gắn với thực
tiễn, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn. Chính vì gắn với thực tiễn nên
lý luận về đường lối đổi mới của Đảng không phải “lý luận suông”, không rơi vào
giáo điều, đã trở thành kim chỉ nam định hướng cách mạng qua từng giai đoạn,
mang lại thành công trong thực tế, đó là kinh tế - xã hội phát triển, chính trị
ổn định, đời sống của nhân dân được nâng cao, niềm tin của nhân dân đối với
Đảng ngày càng được củng cố, phát huy.
Đánh giá kết quả phát triển nhận thức lý luận về đường
lối đổi mới, Đảng ta khẳng định lý
luận về đường lối đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, phù hợp
với thực tiễn Việt Nam và thời đại. Lý luận về đường lối đổi mới hình thành từ
việc phê phán những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng
cũng khẳng định những sai lầm đó không phải là khuyết tật của chế độ xã hội chủ
nghĩa và không coi “khuyết điểm là tất cả, phủ định thành tựu, từ đó dao động
về mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
1991: 53). Những kết luận được rút ra từ tổng kết kinh nghiệm thực tiễn vô cùng
quan trọng, là cơ sở để Đảng ta kiên định lý luận về đường lối đổi mới và luôn
chú trọng yếu tố thực tiễn: “Phải giữ
vững tư duy độc lập và sáng tạo trong việc đề ra đường lối đổi mới phù hợp
với đặc điểm, tình hình nước ta, đáp ứng đúng lợi ích và nguyện vọng của nhân
dân ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991: 53). Đây là quan điểm, nguyên tắc bất di
bất dịch, bởi lẽ độc lập, sáng tạo nhưng phải phù hợp với đặc điểm, tình hình
của đất nước, thực tiễn Việt Nam và nguyện vọng của nhân dân, từ đó, tạo sức
mạnh tổng hợp đưa đất nước phát triển. Lý luận về đường lối đổi mới không giáo
điều, rập khuôn lý luận, kinh nghiệm của nước khác, mà luôn bám sát thực tiễn
nóng bỏng của Việt Nam, khu vực và thế giới. Chẳng hạn, lý luận về nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam không giống bất cứ mô hình
kinh tế thị trường nào trên thế giới, mà là kết quả tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại. Trong quá trình đổi mới,
Đảng ta còn luôn chú trọng kết hợp đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Và,
“đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng
và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2011: 99-100).
Qua 40 năm đổi mới, những bài học đổi mới qua các kỳ
đại hội vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được phát huy; đặc biệt, bài học
“đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn,
luôn luôn sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001: 19) luôn là nguyên tắc chi
phối xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Đại hội X tiếp tục khẳng
định, “đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò
chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006a: 71).
Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “… nhạy bén,
kiên quyết, sáng tạo, bám sát thực tiễn đất nước, kịp thời đề ra các giải pháp
phù hợp với tình hình mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 22); và “Mọi đường
lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách
quan” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 66). Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Mọi
chủ trương, chính sách phải xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích
hợp pháp, chính đáng của nhân dân; coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý
luận (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016: 96-98), đồng thời: “Nâng cao bản lĩnh,
năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp
với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2021, tập I: 180). Có thể nói, ở bất cứ giai đoạn nào, đường lối đổi mới
của Đảng luôn lấy phạm trù thực tiễn làm
trung tâm. Trong xu thế mới hiện nay, bám sát thực tiễn, Đảng tiếp tục đề
ra những chủ trương, chính sách cụ thể, như: “Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia;
phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo;
gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế”; “thúc đẩy nghiên
cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”; “xây dựng nền kinh tế xanh, kinh
tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I:
115117); v.v.. Chính nguyên lý lý luận luôn gắn với thực tiễn đã mang lại kết
quả tích cực, đây là sự kiểm chứng thuyết phục nhất tính đúng đắn của lý luận
về đường lối đổi mới qua từng thời kỳ.
Từ những khảo lược cơ bản đường lối lãnh đạo của Đảng
qua 40 năm đổi mới, có thể khẳng định, lý luận về đường lối đổi mới luôn bám
sát mục tiêu và quán triệt nguyên tắc “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận về đường lối đổi mới luôn kiên định mục tiêu và trên cơ sở tổng kết thực tiễn.
Đến lượt nó, lý luận về đường lối đổi mới thực hiện sứ mệnh quan trọng là định
hướng, chỉ đạo, dẫn dắt hoạt động thực tiễn. Nguyên lý đó giúp lý luận cách
mạng Việt Nam không xa rời thực tiễn, không giáo điều, rập khuôn, máy móc, song
cũng không rơi vào xét lại. Nhờ đảm bảo nguyên tắc đó, cách mạng Việt Nam luôn
vững vàng trước thực tiễn đầy biến động, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn
mình, phát triển hùng cường, thịnh vượng.
Bốn là, bổ sung lý luận về đường lối đổi mới
vào nền tảng tư tưởng góp phần củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, là
cơ sở để phản bác, đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch.
Hiện nay, trước bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu
hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra nhanh chóng, dẫn đến sự bùng nổ
thông tin, nguy cơ thông tin không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây khó khăn cho
việc tiếp nhận, luận giải để hiểu đúng đắn, thấu đáo nền tảng tư tưởng của
Đảng. Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những khó khăn, thách thức
của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; sự tác động bởi mặt trái
của cơ chế thị trường; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nạn tham nhũng, tiêu cực...
gây tác động tiêu cực đến niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động và những
phần tử đối lập, bất mãn chính trị,... ở trong và ngoài nước ra sức tuyên
truyền, xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của
nhân dân ta bằng nhiều hình thức. Chúng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh
đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Thời gian gần đây, các thế lực thù địch, cơ hội chính
trị tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, đặc biệt là chúng
phủ nhận những thành tựu đã đạt được từ
công cuộc đổi mới, kích động, lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào các hoạt
động biểu tình, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, gây mất an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ trên mọi
lĩnh vực; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những âm mưu,
hoạt động đó có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gieo
rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với đường
lối lãnh đạo của Đảng. Tình hình đó đòi hỏi phải tăng cường bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, mà một trong những yêu cầu là tiếp tục bổ sung, phát triển và
khẳng định tính đúng đắn của đường lối cách mạng nói chung, đường lối đổi mới
của Đảng nói riêng.
Trước tình hình phức tạp đó, việc nhận thức ngày càng
đầy đủ, sâu sắc hơn lý luận về đường lối đổi mới của Đảng là cần thiết. Đường
lối đó thể hiện sự vận dụng sáng tạo tư tưởng của Đảng trên cơ sở thực tiễn của
đất nước ở từng giai đoạn và đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Bởi vậy, lý
luận về đường lối đổi mới cần được thấm sâu, lan tỏa và tiếp tục trở thành nền
tảng tư tưởng vững chắc, định hướng cho
cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo. Khi hiểu sâu, thấm nhuần lý
luận về đường lối đổi mới của Đảng là một hệ tư tưởng đúng đắn, là một thành
tựu, có giá trị khoa học, mọi người dân sẽ có cơ sở khách quan, khoa học để bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên
tạc đường lối đổi mới của Đảng. Đó là kết quả mà “mắt thấy, tai nghe” chứ không
phải những điều còn mập mờ, chưa được kiểm chứng như các thế lực phản động bôi
nhọ và cố tình xuyên tạc, phủ nhận.
Như vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh
đạo của Đảng, một mặt, cần phải tăng
cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ
hội chính trị; mặt khác, cần làm giàu
sức sống của nền tảng tư tưởng đó bằng việc bổ sung những tư tưởng, đường lối
lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của
nó. Với ý nghĩa đó, việc bổ sung lý luận về đường lối đổi mới của Đảng vào nền tảng tư tưởng của Đảng vừa tiếp tục khẳng
định đường lối lãnh đạo của Đảng là kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phản ánh sự đúc rút kinh nghiệm và khái quát
lý luận từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lý luận đó ở mỗi giai đoạn đã
tác động tích cực trở lại đối với thực tiễn, mang lại sự thành công to lớn, đó
là sự thay đổi đã được lượng hóa, khẳng định trong thực tiễn.
Thực tế cũng cho thấy, nền tảng tư tưởng không phải là
cái đã xong, đã có sẵn, hay đã được đóng khung, mà luôn được bổ sung, hoàn
thiện, phát triển, bởi thực tiễn luôn vận động, biến đổi. Khi lý luận về đường
lối đổi mới của Đảng đã được kiểm chứng thì nó cần được tiếp thu, bổ sung để
trở thành “ngọn đèn pha” soi đường cho cách mạng trong giai đoạn mới.
Cuối cùng, có thể khẳng định rằng, bổ sung nền tảng tư
tưởng của Đảng cũng chính là tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng,
góp phần không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, làm cho cán bộ, đảng
viên luôn nắm vững và tổ chức triển khai đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước một cách hiệu quả trong thực tiễn, biến tư tưởng thành hiện
thực vật chất, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng đi vào cuộc sống, mang lại
kết quả thiết thực. Bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới vào nền
tảng tư tưởng của Đảng cũng thể hiện sự quán triệt sâu sắc tính cách mạng, tính
khoa học, tính thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, là sự vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới.
Kết
luận
Có thể nói, đường lối cách mạng của Đảng được hình
thành, phát triển trên cơ sở nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tuy nhiên, lý luận, đường lối đó không phải “nhất thành bất biến”, mà
luôn được bổ sung, phát triển phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, trở thành kim
chỉ nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam trong suốt 96 năm qua. Đặc biệt, lý luận về
đường lối đổi mới được hình thành từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, trải qua
40 năm bổ sung, phát triển, đã ngày càng khẳng định được tính đúng đắn, mang
giá trị khoa học và tính thực tiễn cao. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế
giới và khu vực có nhiều diễn biến mới, phức tạp. Các thế lực thù địch không
ngừng gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta, nhất là trước thềm
Đại hội lần thứ XIV của Đảng và trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, nhằm tấn công,
phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trước tình hình đó, việc bổ sung lý luận về đường lối đổi mới vào nền tảng tư
tưởng của Đảng là tất yếu, là cần thiết, một lần nữa khẳng định vai trò lãnh
đạo, dẫn đường không thể thay thế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc, góp phần đưa đất nước ta “sánh vai” với các nước lớn
trên thế giới - hiện thực hóa mong ước mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhắn nhủ hậu thế.
Tài
liệu tham khảo
1. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (1987). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Hà Nội: Nxb. Sự thật.
2. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (1991). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Hà Nội: Nxb. Sự thật.
3. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2001). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
4. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2006a). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
5. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2006b). Văn kiện Đảng
toàn tập. Tập 49. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
6. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
7. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự
thật.
8. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật.
9. V.I.Lênin.
(2005). Toàn tập. Tập 4. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Tác giả: Bùi Thị Tỉnh
Phó
giáo sư, tiến sĩ, Học viện Chính trị Công an nhân dân.
Email: buithitinh1974@gmail.com
Nguồn: Tạp chí Triết học
https://iopjournal.vn/index.php/tcth/vi/article/view/1107