image banner
            VI | EN
BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI KHÁT VỌNG XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG, GIÀU MẠNH HIỆN NAY
Lượt xem: 14

Tóm tắt: Tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến hàng nghìn năm và chế độ thực dân xâm lược gần 100 năm ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập thể hiện rõ quyền độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc; lên án mạnh mẽ chế độ thực dân phong kiến và khẳng định sự quyết tâm bảo vệ nền độc lập ấy. Thông qua nghiên cứu bản Tuyên ngôn độc lập cho thấy khát vọng về độc lập dân tộc và hùng cường, giàu mạnh luôn được kết nối trong các chặng đường lịch sử của Việt Nam. Để khát vọng ấy được hiện thực hóa, trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần lan tỏa và phát triển mạnh mẽ các giá trị quốc gia được xây dựng từ bản Tuyên ngôn độc lập, đó là: giá trị độc lập, tự do; hòa bình, thống nhất; và giá trị, khát vọng dân giàu, nước mạnh. Bài viết làm rõ hoàn cảnh ra đời và nội dung của bản Tuyên ngôn độc lập, ý nghĩa của bản Tuyên ngôn độc lập đối với khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, giàu mạnh của Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Từ khóa: Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn độc lập, khát vọng xây dựng đất nước.


1.  Đặt vấn đề

Tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến hàng nghìn năm và chế độ thực dân xâm lược gần 100 năm ở Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập đã khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc và nhân dân Việt Nam. Đây là thắng lợi vô cùng to lớn của toàn Đảng, toàn dân ta; bản Tuyên ngôn độc lập là văn kiện có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, tài sản quý báu của nhân dân ta, soi đường, chỉ lối cho cách mạng Việt Nam tiến tới những thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên ngôn độc lập như một ngọn đuốc dẫn dắt dân tộc và nhân dân Việt Nam tiến tới một cuộc sống tốt đẹp, nhân văn, hạnh phúc, cường thịnh và giàu mạnh đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước hiện nay, chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc hơn nội dung bản Tuyên ngôn độc lập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua tác phẩm này trong công cuộc đổi mới, thực hiện khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh.

2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Bài viết tiếp cận vấn đề dưới góc độ lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc bằng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đồng thời, bài viết sử dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc để đặt bản Tuyên ngôn độc lập trong dòng chảy lịch sử dân tộc, kết nối giá trị quá khứ với khát vọng phát triển đất nước trong bối cảnh hiện đại.

Về phương pháp nghiên cứu, bài viết chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành triết học, chính trị học và liên ngành khoa học xã hội, bao gồm: phương pháp lịch sử và lôgíc nhằm làm rõ hoàn cảnh lịch sử ra đời, phân tích kết cấu và sự phát triển tư tưởng, luận điểm của bản Tuyên ngôn; phương pháp phân tích văn bản và phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hóa các giá trị cốt lõi (độc lập, tự do, hoà bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh) áp dụng cho giai đoạn hiện nay; phương pháp so sánh, đối chiếu giữa luận điểm quyền con người và quyền dân tộc với các bản tuyên ngôn của Mỹ, Pháp để làm nổi bật sự sáng tạo của Hồ Chí Minh.

3. Bản Tuyên ngôn độc lập – hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản

Hoàn cảnh ra đời bản Tuyên ngôn độc lập:

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong một khoảng thời gian rất ngắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải tranh thủ thời cơ từng phút từng giây, phải giải phóng được dân tộc. Người đặt ra yêu cầu cách mạng phải thành công trong khoảng thời gian từ 7 ngày, chậm nhất là 10 ngày; vì đây là khoảng thời gian có nhiều điều kiện thuận lợi cho cách mạng Việt Nam giành được chính quyền. Thời cơ ấy là gì? Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã nhận được tin Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản và sẽ tạo ra những chuyển biến rất nhanh chóng trong một khoảng thời gian ngắn. Người yêu cầu triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào và xác định “cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị: “Chúng ta cần tranh thủ từng giây, từng phút. Tình hình sẽ chuyển biến nhanh chóng. Không thể để lỡ cơ hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001: 424-425). Thứ hai, sự kiện chính quyền lâm thời Việt Nam yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và tiếp nhận sự thoái vị này (ngày 30 tháng 8 năm 1945) đã cắt đứt được một đầu mối các thế lực đế quốc, phản động muốn duy trì, sử dụng để mưu toan chống phá chính quyền cách mạng, đặt lại ách thống trị trên đất nước ta. Thứ ba, quân Đồng minh đang chuẩn bị vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật, nếu không giải phóng được dân tộc, không nhanh chóng tuyên bố độc lập thì cơ hội cho Việt Nam là rất ít. Bởi, khi chưa tuyên bố độc lập, Việt Nam vẫn phải chịu sự chi phối và trao lại chính quyền cho quân Đồng minh; còn nếu tuyên bố độc lập, Việt Nam sẽ có tư cách là chủ nhà đón tiếp quân Đồng minh. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu phải ngay lập tức tổ chức Lễ Độc lập sau khi Tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi để khẳng định chủ quyền của nhân dân Việt Nam trước các thế lực đế quốc, phản động đội lốt quân Đồng minh. Đó là lý do vì sao Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội. Cách mạng Tháng Tám diễn ra ở một khoảng thời gian rất hợp lý, nhanh chóng và thuận lợi, chỉ trong khoảng 22 ngày từ khi cách mạng diễn ra đến khi Lễ Độc lập được tổ chức, Cách mạng Tháng Tám đã thành công, ít đổ máu. Nếu Tổng khởi nghĩa diễn ra trước 12 tháng 8 năm 1945, cách mạng cũng rất khó thành công vì quân phát xít Nhật vẫn còn khá mạnh, chưa chịu ngừng bắn và đầu hàng quân Đồng minh. Nhưng, nếu Lễ Độc lập tuyên bố và khẳng định chủ quyền của Việt Nam diễn ra muộn hơn, sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, cũng không được, vì lúc ấy quân Anh và quân Tưởng đã vào Việt Nam giải giáp, tiếp quản chính quyền Nhật.

Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn thành trong một khoảng thời gian rất ngắn. Người viết văn kiện này chỉ trong vòng 3 ngày (từ ngày 26 – 29 tháng 8 năm 1945). Hơn nữa, với tinh thần rất cầu thị, ngay sau khi viết xong, Người đưa ra tham khảo ý kiến của Ban Thường vụ Trung ương vào ngày 30 tháng 8 và một sĩ quan Mỹ là Thiếu tá Pati thuộc Cơ quan Tình báo Mỹ (OSS đã hoạt động bên cạnh Việt Minh chống phát xít, ủng hộ Đồng minh) trong cùng ngày (Xem: Ngọc Thanh và cộng sự, 2022). Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng lời văn gọn rõ, đanh thép, lập luận chặt chẽ, dễ hiểu, đi vào lòng người, thể hiện quyết tâm sắt đá bảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được của cả dân tộc Việt Nam. Một số nội dung cơ bản của bản Tuyên ngôn:

Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã phát triển quyền con người thành quyền dân tộc.

Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã kế thừa luận điểm về quyền con người trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Trong các bản tuyên ngôn này, nước Mỹ và Pháp đều nhấn mạnh quyền bình đẳng, tự do, quyền được sống, mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân con người. Để có được luận điểm này, cha ông người Mỹ, Pháp đã chiến đấu anh dũng và dùng cả máu xương để quyết tâm giành được những quyền cơ bản ấy. Đó là “những lời bất hủ”, “những lẽ phải không ai chối cãi được” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 1). Hồ Chí Minh lấy những chân lý ấy để mở đầu cho bản Tuyên ngôn của mình, không phải vì năng lực hay trình độ của Người yếu kém cần phải lấy luận điểm của người khác, nước khác, mà quan trọng là việc luận dẫn từ bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp có rất nhiều ý nghĩa và hiệu quả.

Trước hết, bằng cách trích dẫn các tài liệu có giá trị quốc tế và được công nhận rộng rãi về nhân quyền và tự do, Hồ Chí Minh đã tạo ra một lập luận mạnh mẽ để chứng minh tính chính danh của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam. Điều này làm rõ rằng, giống như nước Mỹ và Pháp đã đấu tranh cho quyền tự do và độc lập của họ, người dân Việt Nam cũng có quyền đó. Cho nên, dẫn chứng các văn bản này, Người đã khẳng định được tính chính danh của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam.

 Hai là, với việc dẫn chứng các tuyên ngôn nổi tiếng của các nước, Hồ Chí Minh đã tạo ra sự đồng thuận và thu hút được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Người đã thông qua bản Tuyên ngôn độc lập để khẳng định và truyền tải đến các nước phương Tây về quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, dùng chính các tuyên ngôn của Pháp, Mỹ sẽ khiến các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ và Pháp dễ chấp nhận, dễ đồng cảm và có thể ủng hộ cho Việt Nam.

 Ba là, Hồ Chí Minh cũng đã tạo ra sức ép đối với các thế lực thực dân, vạch trần bản chất xấu xa của chế độ thực dân tại Việt Nam. Thông qua việc dẫn chứng các bản tuyên ngôn đó, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở các thế lực thực dân phải thực hiện nghiêm túc những điều cha ông họ đã tuyên bố. Cha ông họ đã đổ xương máu, thậm chí hy sinh tính mạng để giành được độc lập, tự do, nhưng họ - những lực lượng thực dân lại đang chà đạp lên chính những tuyên ngôn ấy của cha ông mình, đi ngược lại với lý tưởng đất nước của họ, khi  thực hiện cuộc xâm lược các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Thông qua việc trích dẫn các tuyên ngôn đó, Hồ Chí Minh cho thấy bản chất của chủ nghĩa thực dân trên danh nghĩa là đi “khai hóa văn minh” cho người Việt, nhưng kỳ thực lại xâm lược, chà đạp lên quyền độc lập, tự do của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng khiến chủ nghĩa thực dân Pháp phải đứng trước một sự lựa chọn: hoặc là đi theo lý tưởng của cha ông họ thì buộc phải thừa nhận dân tộc Việt Nam có quyền độc lập, tự do; hoặc là nếu tiếp tục các hành động xâm lược, duy trì chế độ thực dân thì họ đã đi ngược lại với chân lý của cha ông họ, phản bội lại lý tưởng của đất nước họ. Bằng cách như vậy, Hồ Chí Minh đã buộc chủ nghĩa thực dân phải chấp nhận quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

 Bốn là, việc Hồ Chí Minh dẫn chứng các bản tuyên ngôn đó cho thấy quyền tự do, bình đẳng là những giá trị phổ quát, không chỉ dành riêng cho một quốc gia hay một dân tộc nào. Và, dân tộc Việt Nam cũng có quyền tự quyết, quyền sống tự do và độc lập như mọi dân tộc khác trên thế giới. Rõ ràng, việc sử dụng các bản tuyên ngôn trên thế giới, bên cạnh việc tăng cường tính thuyết phục cho bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, còn cho thấy sự khéo léo, tài năng của Hồ Chí Minh trong việc sử dụng các giá trị phổ quát để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Nam.

Giá trị lớn nhất trong bản Tuyên ngôn độc lập là Hồ Chí Minh đã phát triển quyền con người thành quyền các dân tộc. Nếu bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ khẳng định “tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Dẫn theo: Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 1); thì Hồ Chí Minh, trong bản Tuyên ngôn độc lập của mình, đã mở rộng và phát triển chân lý ấy thành quyền của các dân tộc. Người nói: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 1).

Để phát triển quyền dân tộc ấy, trước hết, Hồ Chí Minh đã tạo dựng được một nền tảng tư tưởng rằng quyền con người là phổ quát và không thể bị vi phạm. Và, chính việc trích dẫn các bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp đã tạo dựng được nền tảng tư tưởng ấy. Ngay lập tức sau đó, Người đã mở rộng phạm vi quyền con người để bao gồm cả quyền dân tộc. Nếu con người có quyền tự do, bình đẳng thì các dân tộc cũng phải có quyền tự do và độc lập; và khẳng định việc áp bức, bóc lột một dân tộc khác là hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền con người cơ bản. Đồng thời, qua việc này Hồ Chí Minh cũng giúp cho các thế hệ người Việt Nam và nhân loại hiểu rõ một chân lý: nếu các cá nhân được tự do, độc lập thì tất yếu các dân tộc cũng phải được tự do, không thể nào có trường hợp cá nhân được tự do nhưng dân tộc không được độc lập; mối quan hệ giữa cá nhân và dân tộc luôn gắn kết chặt chẽ với nhau trong lý tưởng độc lập, tự do. Chủ nghĩa thực dân và các thế lực thù địch (cho đến ngày nay) vẫn luôn dùng “dân chủ, văn minh” của phương Tây để chống phá cách mạng Việt Nam, chúng đưa ra luận điểm cho rằng ở các nước phương Tây tính dân chủ, sự tự do của các cá nhân được đặt lên hàng đầu và phê phán chế độ cộng sản ở Việt Nam là chế độ “mất dân chủ”, “độc tài”… Tất cả những luận điểm này đều xuyên tạc, không chính xác. Bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, nếu thừa nhận quyền tự do của các cá nhân thì cũng phải tôn trọng quyền độc lập của các dân tộc. Không thể có tự do cá nhân nếu cha mẹ, quê hương, dân tộc của các cá nhân ấy vẫn còn là thuộc địa, là nô lệ. Chân lý này hoàn toàn chính xác. Hồ Chí Minh chỉ ra tự do cá nhân của phương Tây chỉ là hình thức khi họ mang quân đi xâm lược và nô dịch các dân tộc khác; đồng thời khẳng định “hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 1). Qua đó, Người rút ra kết luận: các cá nhân muốn được tự do thực sự thì phải giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, đó là mối quan hệ biện chứng không thể phủ nhận.

Thứ hai, Hồ Chí Minh đã lên án mạnh mẽ chế độ thực dân, phong kiến và chủ nghĩa phát xít tại Việt Nam.

 Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã sử dụng các dẫn chứng từ thực tiễn lịch sử Việt Nam để lên án mạnh mẽ chế độ thực dân, phong kiến và chủ nghĩa phát xít tại Việt Nam.

Về chính trị, thực dân Pháp sau khi xâm lược Việt Nam đã thi hành chính sách “chia để trị”, chia đất nước ta thành 3 miền với 3 chế độ khác nhau. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Người viết: “chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất đất nước của ta, để ngăn cản dân ta đoàn kết” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 1). Hồ Chí Minh chỉ rõ âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, đó là việc chúng muốn chia rẽ đất nước ta, làm mất đi sự thống nhất của Tổ quốc, ngăn cản tinh thần đoàn kết của cả dân tộc ta, qua đó sẽ dễ bề cai trị.

Thực dân Pháp đàn áp những người yêu nước bằng những hình thức tra tấn hết sức dã man có từ thời trung cổ. Hồ Chí Minh viết: “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 2). Trên danh nghĩa là “khai hóa văn minh” cho người Việt Nam, vậy mà sau khi sang Việt Nam, chúng đã đày đọa, chém giết những người dân vô tội, sử dụng những hình thức tra tấn hết sức dã man. Mọi hành động của chúng đều trái ngược với những chân lý tự do, bình đẳng, coi trọng con người mà cha ông chúng đã tuyên bố.

Về kinh tế, thực dân Pháp cướp bóc ruộng đất của nhân dân, lập nên những đồn điền rộng lớn (trong đó có nhiều đồn điền cao su). Người dân làm việc tại các đồn điền bị bóc lột, đánh đập tàn nhẫn. Chúng tăng cường khai thác các nguồn tài nguyên phong phú của Việt Nam. Để phục vụ cho việc khai thác nhiều hơn, chúng xây dựng các công trình giao thông, chiếm đoạt quyền xuất nhập cảng. Bên cạnh đó, chúng thực thi các loại thuế vô lý, trong đó có thuế muối, thuế cầu đường, đặc biệt là thuế thân. Chúng không cho các tầng lớp, giai cấp của Việt Nam được phát triển. Hậu quả là đã dẫn đến nạn đói năm 1945 vô cùng khủng khiếp, khiến cho 2 triệu đồng bào ta bị chết đói.

Về văn hóa, thực dân Pháp thực thi chính sách “ngu dân”, ngăn cản thanh niên nước ta đi du học, đọc sách, mở các nhà tù nhiều hơn các trường học, nhằm dễ bề cai trị. Hậu quả là, năm 1945, hơn 95% dân số của Việt Nam bị mù chữ.

Không chỉ khai thác, bóc lột nhân dân ta trên mọi khía cạnh của đời sống xã hội, thực dân Pháp còn làm một việc đáng xấu hổ - mang danh “bảo hộ” cho Việt Nam, song khi Nhật nhảy vào Đông Dương, chúng lại “quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 1) bán nước ta cho Nhật, làm cho nhân dân ta chịu cảnh “một cổ hai tròng” (Pháp – Nhật). Chính vì vậy, từ mùa thu năm 1940, Việt Nam trở thành thuộc địa của Nhật, không còn là thuộc địa của Pháp, và nhân dân Việt Nam giành được chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

Để giành được độc lập, dân tộc Việt Nam đã đứng lên đấu tranh anh dũng, kiên cường; kết quả của cuộc đấu tranh ấy là Pháp chạy, Nhật đầu hàng, vua Bảo Đại thoái vị; nhân dân ta giành được độc lập, đánh đổ chế độ thực dân gần 100 năm và chế độ quân chủ nghìn năm, lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam.

Với những lý lẽ đanh thép, đầy sức thuyết phục, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người đã rút ra chân lý: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp đã hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 3).

Không chỉ coi độc lập và tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 3). Lời khẳng định ấy cho thấy rằng độc lập dân tộc không phải tự nhiên mà có, đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của toàn thể dân tộc Việt Nam; đồng thời, khi đã có được độc lập, tự do, thì trách nhiệm của mỗi cá nhân và của toàn dân tộc là kiên quyết đấu tranh để bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững độc lập, tự do, dù phải đối mặt với bất kỳ hy sinh, gian khổ nào. Chân lý ấy mãi là nguồn sống, ngọn đuốc soi sáng cho các thế hệ nhân dân Việt Nam.

4. Từ Tuyên ngôn độc lập đến khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh trong giai đoạn hiện nay

Bản Tuyên ngôn độc lập đã ra đời 81 năm, nhưng luôn được kết nối chặt chẽ với khát vọng  xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, giàu mạnh. Bản Tuyên ngôn  độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 không chỉ đánh dấu sự ra đời của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn khẳng định quyền tự do, độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Tuyên ngôn này là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài và kiên cường của toàn dân tộc nhằm chống lại ách thống trị của thực dân, phát xít và chế độ phong kiến; đồng thời, đó cũng là bước khởi đầu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Tuyên ngôn độc lập đã trở thành lời hiệu triệu non sông đất nước với tinh thần vì đại nghĩa “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” và “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Lời hiệu triệu thiêng liêng đó đã trở thành niềm tin, ý chí và động lực mạnh mẽ thôi thúc hàng triệu người Việt Nam xả thân vì nghĩa, làm nên Điện Biên Phủ chấn động địa cầu (1954) và Đại thắng mùa xuân lịch sử (1975) (Xem: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2020: 297).

Qua bản Tuyên ngôn độc lập, khát vọng độc lập, tự do, khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, dân giàu, nước mạnh thể hiện một cách rõ nét. Khát vọng đó luôn là mong muốn lớn nhất của các thế hệ người Việt Nam từ sau khi giành được độc lập dân tộc. Điều này thể hiện rõ qua các giai đoạn phát triển của đất nước từ công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đến những thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng trong những năm gần đây.

Ngay từ khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định mục tiêu xây dựng một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc. Người nhấn mạnh rằng, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, hướng đến sự phát triển toàn diện của đất nước, bao gồm cả kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, đối ngoại và quốc phòng, an ninh. Điều này tạo ra nền tảng lý luận và định hướng cho các chiến lược phát triển quốc gia sau này.

Sau khi giành được độc lập, Việt Nam đã trải qua nhiều thách thức và khó khăn. Tuy nhiên, nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự điều hành, quản lý chặt chẽ của Nhà nước, cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn dân, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Công cuộc đổi mới (từ năm 1986) đã mở ra một thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ, đưa Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng và đang dần khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức mới. Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một đất nước hùng cường, giàu mạnh, cần phải tập trung vào những yếu tố then chốt như phát triển kinh tế tri thức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Thông qua nghiên cứu bản Tuyên ngôn độc lập, theo chúng tôi, trong quá trình hiện thực hóa khát vọng độc lập, phồn vinh, chúng ta cần tiếp tục xây dựng và hiện thực hóa các giá trị cốt lõi của dân tộc trong hoàn cảnh mới.

Trước hết, đó là các giá trị độc lập và tự do. Độc lập và tự do là hai giá trị cốt lõi mang ý nghĩa sâu sắc và quan trọng đối với bất kỳ dân tộc nào, đặc biệt là đối với Việt Nam. Những giá trị này không chỉ đơn thuần là khát vọng của quốc gia, mà còn là nền tảng cho mọi hoạt động và sự phát triển bền vững của đất nước. Độc lập nghĩa là “không lệ thuộc, không phụ thuộc, không bắt chước, theo đuôi, giáo điều” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2020: 497), đó là sự tự chủ, tự quyết của một quốc gia về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, không bị phụ thuộc hay chi phối bởi bất kỳ thế lực ngoại bang nào. Đối với Việt Nam, độc lập có ý nghĩa đặc biệt, đó là sự khẳng định quyền tự quyết của dân tộc, là sự toàn vẹn về lãnh thổ, không bị xâm lấn hay can thiệp từ bên ngoài. Đây là nền tảng để bảo vệ sự tồn tại của quốc gia và gìn giữ bản sắc văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc. Độc lập là điều kiện tiên quyết để Việt Nam có thể xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Sự độc lập về chính trị, kinh tế cho phép Việt Nam chủ động trong việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển mà không bị lệ thuộc vào các cường quốc hay tổ chức quốc tế.

Tự do là quyền được sống, được hành động và được phát triển trong khuôn khổ pháp luật mà không bị áp bức, kiểm soát một cách bất công. Tự do cho phép mỗi người dân có quyền được mưu cầu hạnh phúc, tự do bày tỏ ý kiến, tư tưởng, tự do trong việc chọn lựa lối sống và phát triển bản thân. Tự do cá nhân là điều kiện để con người phát triển toàn diện, đóng góp tích cực vào tiến bộ xã hội. Tự do xã hội là sự bảo đảm các quyền dân chủ, quyền bình đẳng và công bằng trong xã hội. Một xã hội tự do là một xã hội trong đó mọi người đều có cơ hội như nhau, không bị phân biệt đối xử và có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội một cách bình đẳng.

Độc lập và tự do có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời. Một quốc gia chỉ thực sự có tự do khi đạt được sự độc lập về chủ quyền; đồng thời độc lập chỉ có ý nghĩa thực sự khi mọi người dân trong quốc gia đó được hưởng tự do. Trong lịch sử đấu tranh của Việt Nam, độc lập và tự do luôn là mục tiêu kép mà dân tộc hướng đến. Độc lập giúp Việt Nam bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, trong khi tự do mang lại quyền sống và phát triển cho mỗi người dân.

Các giá trị độc lập và tự do là nền tảng quan trọng để xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và nhân văn. Đó không chỉ là thành quả của quá trình đấu tranh gian khổ của dân tộc Việt Nam, mà còn là những giá trị mà chúng ta cần tiếp tục bảo vệ và phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Thứ hai, phát huy giá trị hòa bình, thống nhất. Hòa bình và thống nhất là những giá trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam – một đất nước đã phải trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, chia cắt và đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Hai giá trị này không chỉ thể hiện khát vọng của nhân dân, mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững và ổn định của đất nước.

Hòa bình là trạng thái không có chiến tranh, xung đột; là sự ổn định và an toàn trong đời sống xã hội, nơi mà mọi người có thể sống, làm việc và phát triển trong sự yên bình. Hòa bình là điều kiện tiên quyết để con người và xã hội có thể phát triển. Trong bối cảnh hòa bình, mọi người dân có thể tập trung vào việc xây dựng cuộc sống, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục mà không phải lo sợ về những nguy cơ xung đột hay bạo lực. Hòa bình giúp duy trì sự ổn định trong xã hội, tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật, bảo vệ quyền lợi của mọi người dân. Sự ổn định này là yếu tố cần thiết để thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống. Hòa bình cũng là điều kiện để các quốc gia hợp tác với nhau trên tinh thần hữu nghị và phát triển chung. Trong một thế giới hòa bình, các quốc gia có thể cùng nhau hợp tác để giải quyết các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, nghèo đói và an ninh.

Thống nhất nghĩa là sự kết hợp, gắn kết các thành phần, vùng miền và dân tộc trong một quốc gia thành một khối đồng nhất, không bị chia cắt hay phân biệt. Thống nhất quốc gia là sự bảo đảm về mặt lãnh thổ, không bị chia cắt bởi bất kỳ lực lượng hay thế lực nào. Đối với Việt Nam, sự thống nhất đất nước năm 1975 sau hàng thập kỷ chiến tranh là một chiến thắng lịch sử, mang lại sự toàn vẹn lãnh thổ và sự gắn kết của dân tộc. Sự thống nhất đất nước giúp Việt Nam củng cố và tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, đồng thời tạo lập khả năng huy động và tập trung mọi nguồn lực, từ nhân lực đến vật lực, để đối phó với những thách thức bên ngoài và thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển bên trong. Sự thống nhất tạo điều kiện để bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Khi các thành phần dân tộc, vùng miền được gắn kết trong một thể thống nhất, nền văn hóa quốc gia sẽ trở nên phong phú và đa dạng hơn, đồng thời duy trì được bản sắc riêng của từng vùng miền trong tổng thể văn hóa dân tộc.

Giữa hòa bình và thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng. Hòa bình là điều kiện để thống nhất được duy trì, củng cố và phát triển; ngược lại, thống nhất là nền tảng để duy trì hòa bình trong một quốc gia. Đối với Việt Nam, sau khi đạt được thống nhất vào năm 1975, nhiệm vụ giữ gìn hòa bình và phát triển đất nước trở thành mục tiêu quan trọng hàng đầu. Chính sự thống nhất đã tạo điều kiện cho Việt Nam giữ vững hòa bình, ổn định xã hội và từng bước phát triển đất nước. Giá trị hòa bình và thống nhất là những giá trị cốt lõi không chỉ trong lịch sử, mà còn trong tương lai của Việt Nam. Các giá trị cốt lõi đó là nền tảng đảm bảo sự ổn định, phát triển và thịnh vượng của đất nước. Do đó, giữ gìn và phát huy những giá trị này là nhiệm vụ không chỉ của Nhà nước, mà còn là nhiệm vụ của toàn thể nhân dân Việt Nam, nhằm xây dựng một quốc gia hùng cường, thống nhất và hòa bình.

Thứ ba, giá trị dân giàu, nước mạnh. Đây là một mục tiêu quan trọng và là động lực to lớn thúc đẩy quá trình phát triển của Việt Nam. Dân giàu, nước mạnh không chỉ là ước mơ chung của toàn dân tộc, mà còn là phương châm hành động của Đảng và Nhà nước nhằm hướng đến một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và thịnh vượng. Các giá trị này mang ý nghĩa sâu sắc về cả mặt kinh tế, chính trị và xã hội.

Dân giàu nghĩa là người dân có mức sống cao, được đảm bảo các nhu cầu cơ bản như ăn, ở, học hành, chăm sóc sức khỏe và có điều kiện để phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tinh thần. Khi người dân giàu có, chất lượng cuộc sống của họ được cải thiện rõ rệt, bao gồm việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa và các dịch vụ xã hội khác, giúp con người phát triển toàn diện. Khát vọng dân giàu cũng bao gồm việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, giảm bớt sự phân hóa giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng miền, để mọi người dân đều có cơ hội vươn lên, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Một xã hội với đa số người dân có thu nhập ổn định và cao sẽ tạo ra một thị trường tiêu dùng mạnh mẽ, thúc đẩy sản xuất và kinh doanh phát triển. Người dân giàu có đồng nghĩa với việc đất nước có nguồn lực dồi dào để tái đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu, tạo ra sự thịnh vượng bền vững.

Nước mạnh nghĩa là quốc gia có nền kinh tế vững chắc, quốc phòng an ninh được đảm bảo và có vị thế cao trên trường quốc tế. Nước mạnh được thể hiện ở chỗ quốc gia có một nền kinh tế phát triển, với cơ cấu kinh tế hợp lý, hiệu quả và bền vững. Một quốc gia có nền kinh tế mạnh sẽ có khả năng tự chủ, không phụ thuộc vào bên ngoài và có đủ nguồn lực để đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và an ninh, quốc phòng. Một quốc gia mạnh không chỉ có nền kinh tế vững vàng, mà còn phải có một hệ thống an ninh, quốc phòng hiệu quả, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trước mọi thách thức. Nước mạnh là điều kiện để duy trì hòa bình, ổn định xã hội và bảo vệ các thành quả phát triển. Một quốc gia mạnh sẽ có tiếng nói và ảnh hưởng lớn trên trường quốc tế, tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế, đóng góp vào hòa bình và phát triển toàn cầu. Vị thế quốc tế cao giúp quốc gia dễ dàng đạt được các lợi ích về chính trị, kinh tế và an ninh, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác với các quốc gia khác.

 Giữa dân giàu và nước mạnh có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ. Dân giàu là điều kiện tiên quyết để nước mạnh, bởi một đất nước chỉ mạnh khi có nền tảng từ một xã hội với đa số người dân có cuộc sống sung túc và hạnh phúc. Ngược lại, nước mạnh sẽ tạo điều kiện để người dân có môi trường sống và phát triển tốt hơn, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững của quốc gia. Khát vọng dân giàu, nước mạnh là mục tiêu cao cả mà toàn thể dân tộc Việt Nam đang hướng tới. Đây là động lực để không ngừng nỗ lực, sáng tạo và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, từ đó xây dựng một đất nước giàu mạnh, phồn vinh và có vị thế cao trên thế giới. Việc hiện thực hóa các giá trị này không chỉ đảm bảo cho sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại, mà còn là sự bảo đảm cho tương lai bền vững của các thế hệ mai sau.

5. Kết luận

Tuyên ngôn độc lập là áng hùng văn của toàn thể dân tộc Việt Nam tuyên bố với thế giới về quyền độc lập, tự do, sự quyết tâm của toàn thể nhân dân Việt Nam trong việc bảo vệ và gìn giữ độc lập dân tộc. Giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập luôn sáng chói trong lịch sử dân tộc, định hướng, soi đường cho toàn Đảng, toàn dân ta đi theo con đường hướng đến thịnh vượng và chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên ngôn độc lập thể hiện rõ quyền độc lập, tự do của dân tộc; lên án mạnh mẽ chế độ thực dân phong kiến và khẳng định sự quyết tâm bảo vệ nền độc lập ấy. Bản Tuyên ngôn độc lập cho thấy khát vọng về độc lập dân tộc và phát triển đất nước hùng cường, giàu mạnh luôn được kết nối trong các chặng đường lịch sử của Việt Nam. Để khát vọng ấy được hiện thực hóa, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục lan tỏa và phát triển mạnh mẽ các giá trị quốc gia được xây dựng từ bản Tuyên ngôn độc lập, đó là: giá trị độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh.

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 7. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.

2. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. (2020). Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn độc lập 1945 – Giá trị và ý nghĩa thời đại. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

3. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 3,  Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.

4. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2020). Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp đổi mới, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

5. Ngọc Thanh, Hồng Vân, Bông Mai. (2022). Ý nghĩa Tuyên ngôn độc lập (https://special.nhandan.vn/ tuyenngondoclap_ynghia/index.html).

Tác giả: Nguyễn Thị Thọ - Trịnh Quang Dũng

Nguồn: Tạp chí Triết học

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1