Ngày 5 tháng 5
năm 1818 đã đi vào lịch sử nhân loại với tư cách Ngày sinh của một trong những vĩ
nhân nổi trội nhất trong những vĩ nhân của mọi thời đại – Các Henrích Mác. Và,
từ những năm 40 của thế kỷ XIX đến nay, C.Mác đã đi vào lịch sử nhân loại với
tư cách nhà tư tưởng thiên tài, nhà cách mạng vĩ đại, người sáng lập học thuyết
khoa học và cách mạng nhất trong mọi thời đại – học thuyết Mác – kim chỉ nam
cho mọi hành động của giai cấp công nhân cách mạng, các dân tộc bị áp bức và
nhân dân lao động toàn thế giới trong các cuộc đấu tranh cách mạng, đấu tranh
tự giải phóng. Nhân loại cùng với C.Mác, học thuyết Mác mà “linh hồn sống” là
triết học – chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật đã bước
sang thế kỷ XXI để giờ đây, chúng ta có thể khẳng định, cuộc đời và sự nghiệp
vĩ đại của C.Mác đã, đang và sẽ mãi đi vào lịch sử nhân loại không chỉ trong
thế kỷ XXI này, mà cả những thế kỷ sau nữa với tư cách một vĩ nhân, một tấm
gương mẫu mực về những cống hiến khoa học của một nhà bác học thiên tài, về
tình cảm cách mạng cao cả, trong sáng của một lãnh tụ cách mạng vĩ đại và, như
Ph.Ăngghen đã nói: “Tên tuổi và sự nghiệp của Mác đời đời sống mãi!”.
C.Mác và học
thuyết Mác
Nói về C.Mác và
vận mệnh lịch sử của học thuyết Mác, trước hết, chúng ta cần phải khẳng định
rằng, với những cống hiến lý luận mang ý nghĩa và giá trị vạch thời đại, với tư
cách một nhà cách mạng kiên định, một lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản –
giai cấp công nhân toàn thế giới, C.Mác đã đi vào lịch sử nhân loại như một
trong những vĩ nhân nổi trội nhất trong hàng ngũ những vĩ nhân của mọi thời
đại. Cùng với người bạn rất mực trung thành, người đồng tư tưởng, người cộng sự
đắc lực của mình là Ph.Ăngghen, C.Mác đã xây dựng nên học thuyết đấu tranh cách
mạng của giai cấp vô sản cho sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản tương lai. Với
cống hiến này, C.Mác đã đi vào lịch sử với tư cách người thầy, nhà tư tưởng
thiên tài của giai cấp vô sản toàn thế giới, người chiến sĩ vĩ đại đấu tranh
cho sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải phóng toàn thể
nhân loại của giai cấp vô sản. Không chỉ thế, với cống hiến này, C.Mác còn trở
thành lãnh tụ tinh thần, người cổ vũ nhiệt thành, nhà tổ chức xuất chúng của
phong trào đấu tranh cách mạng vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội của nhân loại tiến bộ trên phạm vi toàn thế giới.
Gắn liền với
tên tuổi của C.Mác và mang tên C.Mác là một thế giới quan tiên tiến nhất, thật
sự cách mạng, thật sự khoa học - thế giới quan duy vật biện chứng, thế giới
quan có khả năng đem lại cho nhân loại tiến bộ và giai cấp công nhân cách mạng
một “công cụ nhận thức vĩ đại” để “cải tạo thế giới” trong thời đại ngày nay.
Gắn liền với
tên tuổi và sự nghiệp của C.Mác là “sự giải thích một cách triệt để quan hệ
giữa tư bản và lao động”. Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã tìm ra bản chất
và quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, vạch rõ quá trình phát
sinh, phát triển và diệt vong của nó. Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đã
giúp nhân loại tiến bộ thấu hiểu bản chất bóc lột xuyên suốt, không thay đổi
của chủ nghĩa tư bản – đó là phát kiến vĩ đại thứ hai của C.Mác trong lịch sử
tư tưởng khoa học, sau quan niệm duy vật về lịch sử cũng của chính C.Mác. Và,
khi kế thừa có chọn lọc với một tinh thần phê phán các học thuyết kinh tế trước
đó, nhất là kinh tế chính trị cổ điển Anh, C.Mác đã làm nên cuộc cách mạng
trong lĩnh vực kinh tế chính trị học. Với học thuyết này, C.Mác đã để lại cho
nhân loại một kho tàng lý luận quý báu về kinh tế hàng hóa, về thị trường, về
tiền tệ,… Chính C.Mác đã chỉ ra rằng, quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị
trường tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội khác nhau và luôn chịu sự
chi phối của phương thức sản xuất thống trị.
Gắn liền với
tên tuổi và sự nghiệp của C.Mác còn là chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở
thành một khoa học, học thuyết luận chứng một cách toàn diện và sâu sắc về
phương diện lý luận cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới mà lịch sử của nó
thuộc về giai cấp công nhân cách mạng.
Với hai phát
kiến khoa học vĩ đại là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết về giá trị
thặng dư, thông qua vai trò tổ chức và giáo dục phong trào công nhân quốc tế,
trên cơ sở kế thừa có chọn lọc với một tinh thần phê phán các học thuyết trước
đó về chủ nghĩa xã hội, nhất là chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, C.Mác đã
sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học với tư cách học thuyết về sự giải phóng
giai cấp công nhân và giải phóng nhân loại khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột
và “tha hóa”.
Với phương pháp
luận khoa học và thế giới quan duy vật biện chứng, nhất là với quan niệm duy
vật về lịch sử, C.Mác đã tìm ra quy luật và tiến trình phát triển của xã hội
loài người là sự thay thế lẫn nhau của các phương thức sản xuất xã hội, hay sự
phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao theo con đường
lịch sử - tự nhiên mà quy luật nền tảng là quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và lực lượng xã hội có
thể xóa bỏ chế độ tư bản để trên cơ sở đó, thiết lập chế độ xã hội mới – xã hội
chủ nghĩa - là giai cấp vô sản với chính đảng cách mạng của nó.
Không chỉ thế, gắn liền với tên tuổi và sự
nghiệp của C.Mác còn là sự ra đời của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
là phong trào tự phát trở thành một cuộc đấu tranh tự giác nhằm cải tạo xã hội
bằng cách mạng, theo những nguyên lý nền tảng của một học thuyết thật sự khoa
học, dưới sự lãnh đạo của các chính đảng cách mạng của nó. Coi sự nghiệp giải
phóng nhân loại thống nhất với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân và giai
cấp công nhân là đội tiên phong của sự nghiệp giải phóng đó, C.Mác đã dành toàn
bộ sự nghiệp sáng tạo lý luận và đấu tranh cách mạng của mình cho việc giáo
dục, tổ chức giai cấp công nhân, làm cho họ có ý thức và nhận thức ngày càng rõ
hơn về những điều kiện, tiền đề giải phóng mình và giải phóng toàn nhân loại
khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột và “tha hóa”. Hơn nữa, C.Mác còn khẳng định
sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới và giải phóng nhân loại là sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân cách mạng và chính đảng của nó.
Trong toàn bộ
lịch sử tư tưởng cải biến xã hội suốt nhiều thế kỷ, không một tư tưởng nào, học
thuyết nào có thể sánh kịp tư tưởng, học thuyết của C.Mác về phương diện khoa
học và cách mạng. Ngay từ thời còn trẻ, C.Mác đã được ví với Prômêtê – một vị
thần trong thần thoại Hy Lạp cổ đại mà hình ảnh là hiện thân của trí tuệ anh
minh, của khả năng lao động và tài năng sáng tạo của con người, là ý chí đấu
tranh kiên cường và bất khuất cho tiến bộ, tự do và hạnh phúc của con người.
Bằng việc phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, lần
đầu tiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại, C.Mác đã chỉ ra cho giai cấp vô sản
và nhân loại tiến bộ toàn thế giới những con đường và biện pháp hiện thực để tự
giải phóng khỏi ách áp bức về mặt xã hội và tạo ra những điều kiện, tiền đề cho
một cuộc sống thật sự mang tính người – cuộc sống với chữ Người viết hoa, cho
hạnh phúc, cho sự phát triển tự do và toàn diện mọi năng khiếu thể chất và tinh
thần của mỗi người.
Sinh ra và lớn
lên khi phong trào giải phóng con người và xã hội đang phát triển và đòi hỏi
cấp thiết là phải có một lý luận khoa học dẫn đường, đồng thời những tiền đề
vật chất và tư tưởng nhất định cũng đã chín muồi cho một lý luận như vậy, với
trí tuệ anh minh của một nhà bác học, với nhãn quan chính trị của một nhà cách
mạng, C.Mác đã trở thành người khởi xướng và xây dựng nên học thuyết khoa học
và cách mạng về sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội.
Sự phát triển
nhanh chóng của lực lượng sản xuất gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp đã
tạo ra một cơ sở hiện thực để giải quyết nhiệm vụ lịch sử vĩ đại là thủ tiêu chế
độ người bóc lột người, giải phóng lao động, giải phóng con người và xã hội.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, một lực lượng xã hội có khả năng
giải quyết nhiệm vụ lịch sử vĩ đại đó đã xuất hiện. Lực lượng đó là giai cấp vô
sản cách mạng toàn thế giới và C.Mác chính là người đã phát hiện ra và luận
chứng khoa học cho sứ mệnh lịch sử đó của họ.
Khẳng định lịch
sử tất cả các xã hội có giai cấp “chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp” và “bất cứ
cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng là một cuộc đấu tranh chính trị”, song với
C.Mác, đấu tranh giai cấp chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích. Và,
khi xuất phát từ quan niệm coi sự vận động nội tại của phương thức sản xuất là
cái quyết định sự phát triển của toàn bộ lịch sử xã hội và đấu tranh giai cấp mà
đỉnh cao là thời kỳ cách mạng chính là đòn bẩy để thay đổi hình thái kinh tế -
xã hội, C.Mác đã khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch
sử các xã hội có giai cấp đối kháng. Rằng, trong xã hội có áp bức giai cấp, đấu
tranh giai cấp là phương thức để không những cải tạo xã hội, mà còn cải tạo cả
bản thân các giai cấp cách mạng và quần chúng lao động. Chỉ bằng cách thông qua
đấu tranh cho tự do, không cam chịu số phận nô lệ, các giai cấp bị áp bức, bóc
lột mới gột rửa được tinh thần nô lệ và những tập quán xấu do chế độ người áp
bức người, người bóc lột người sản sinh ra. Điều đó cho thấy, với C.Mác, đấu
tranh giai cấp không chỉ là đòn bẩy của lịch sử trong thời kỳ cách mạng, mà còn
là động lực thúc đẩy sự phát triển của đời sống xã hội trong thời kỳ phát triển
bình thường ở xã hội có giai cấp.
Khẳng định đấu
tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển quan trọng của các xã hội
có giai cấp, song C.Mác không cường điệu, không tuyệt đối hóa một hình thức nào
đó của đấu tranh giai cấp; và ông cũng chưa bao giờ cường điệu, tuyệt đối hóa
đấu tranh bạo lực. Với ông, đấu tranh giai cấp chỉ là phương tiện để “thiết lập
một tổ chức lao động mới” và bạo lực chỉ là “bà đỡ” cho sự ra đời một chế độ xã
hội mới. Không chỉ thế, ông còn luôn nhấn mạnh rằng, cuộc đấu tranh giai cấp do
giai cấp vô sản tiến hành là cuộc đấu tranh cuối cùng trong lịch sử nhân loại;
nó là phương tiện tất yếu để giải phóng nhân loại, giải phóng toàn nhân loại
khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Chính C.Mác cũng đã từng nói rằng, ông không phải là người đầu tiên phát hiện
vấn đề giai cấp, mà chỉ có công phát hiện ra quy luật tồn tại, phát triển và
tiêu vong của giai cấp và đấu tranh giai cấp; đấu tranh giai cấp là để đi đến
xóa bỏ giai cấp và lực lượng xã hội có sứ mệnh lịch sử này là giai cấp vô sản
cách mạng toàn thế giới.
Những cuộc cách
mạng bão táp, những cuộc đấu tranh trên quy mô rộng lớn của giai cấp vô sản và
kèm theo đó là sự sụp đổ của chế độ phong kiến và việc xác lập chủ nghĩa tư bản
trong thời đại của C.Mác đã làm lộ rõ những mâu thuẫn giai cấp và những vấn đề
xã hội đã chín muồi đến mức không thể không nhận thấy chúng. Tư tưởng tiên tiến
của nhân loại đã nắm được và, dưới hình thức này hay khác, đã phản ánh những
mâu thuẫn, những vấn đề xã hội ấy và cũng đã tìm tòi câu giải đáp cho những vấn
đề do lịch sử đặt ra. Song, không một ai khác ngoài C.Mác đã nắm bắt được, nhận
thức được một cách sâu sắc những mâu thuẫn, những vấn đề xã hội đó và tìm ra
lời giải đúng đắn cho chúng trên một quan điểm triệt để cách mạng và thật sự
khoa học.
Học thuyết khoa
học và cách mạng của C.Mác đã được hình thành và phát triển trong bối cảnh hiện
thực của châu Âu giữa thế kỷ XIX. Song, sự hình thành và phát triển của học
thuyết đó không phải là tách rời những trào lưu trước đó của tư tưởng xã hội,
không phải ở bên ngoài con đường phát triển của nền văn minh nhân loại. Nó là
sự kế thừa hợp pháp của tất cả những gì ưu tú nhất mà nhân loại đã sáng tạo ra
trong lĩnh vực nhận thức tự nhiên và đời sống xã hội. Nó đã dựa trên tất cả
những thành tựu của tư tưởng xã hội, đặc biệt là trên những thành tựu của triết
học cổ điển Đức (trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa duy
vật nhân bản của Phoiơbắc), kinh tế chính trị học Anh (đại biểu là A.Xmít và
Đ.Ricácđô) và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp (đại biểu là Xanh Ximông,
S.Phuriê và R.Ôoen). Tự bản thân chúng, những thành tựu này không thể đem lại
một nhận thức toàn diện, khoa học và cách mạng về tiến trình lịch sử nhân loại,
không thể cấu thành một thế giới quan hoàn chỉnh. Thực tiễn đòi hỏi phải có một
quan điểm hoàn toàn mới để xem xét tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại,
vai trò của các giai cấp xã hội, của quần chúng nhân dân và những cá nhân trong
tiến trình phát triển đó. Và, quan điểm mới đó, thế giới quan triệt để cách
mạng và thật sự khoa học đã được C.Mác đề xuất và phát triển.
Tất cả những gì
hợp lý trong các trào lưu tiên tiến của tư tưởng xã hội đều được C.Mác tiếp
thu, kế thừa một cách có phê phán và kiểm nghiệm chúng qua phong trào vô sản,
qua thực tiễn đấu tranh cách mạng của bản thân mình và xây dựng lại một cách
sáng tạo theo lập trường của giai cấp vô sản cách mạng. Đánh giá một cách rõ
ràng và sâu sắc ý nghĩa và giá trị trong những phát kiến khoa học của C.Mác đối
với phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và nhân loại tiến bộ,
V.I.Lênin đã quả quyết khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác
là đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường phải theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về
tinh thần, trong đó tất cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới
nay. Chỉ có học thuyết kinh tế của Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của
giai cấp vô sản trong toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa” [12, tr.57-58]. Rằng,
với học thuyết khoa học và cách mạng của C.Mác, trên toàn thế giới, “từ châu Mỹ
đến Nhật, từ Thụy Điển đến Nam Phi, những tổ chức độc lập của giai cấp vô sản
đang ngày càng tăng thêm nhiều” và trong đấu tranh giai cấp, họ đã tự giáo dục
và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, “đoàn kết với nhau ngày càng chặt chẽ hơn”,
“tôi luyện lực lượng của mình và lớn dần lên không gì ngăn nổi” [12, tr.58] .
Việc vạch trần
những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản đã đưa C.Mác đến kết luận khoa học
rằng, sự diệt vong của xã hội tư sản và sự ra đời của chế độ xã hội mới – xã
hội chủ nghĩa đều là tất yếu như nhau. Và, trên cơ sở phân tích một cách sâu
sắc quá trình phát triển của các quan hệ xã hội, C.Mác đã đi đến nhận thức đúng
đắn về vai trò lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư cách lực
lượng có khả năng cải tạo tận gốc các quan hệ xã hội, thủ tiêu tình trạng người
bóc lột người và xây dựng chế độ xã hội mới, tự giải phóng mình và qua đó, giải
phóng nhân loại. C.Mác coi đó là mục đích nhân đạo cao cả của cuộc đấu tranh
giai cấp của giai cấp vô sản, cuộc đấu tranh có sứ mệnh lịch sử là giải phóng
toàn thể nhân dân lao động khỏi những điều kiện sinh sống vô nhân đạo trong xã
hội tư sản.
Không chỉ khẳng
định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, bằng sự phân tích khoa học sâu sắc,
C.Mác đã chứng minh rằng, chủ nghĩa cộng sản không phải là điều mong ước của
những người mơ mộng, mà là một sự vận động lịch sử hiện thực nhằm xóa bỏ thể
chế xã hội hiện tồn. “Đối với chúng ta, - C.Mác nhấn mạnh, - chủ nghĩa cộng sản
không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng
mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào
hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay” [2, tr.51].
Trên thực tế,
lịch sử nhân loại từ giữa thế kỷ XIX đến nay là lịch sử đấu tranh vì hòa bình,
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của cả nhân loại tiến bộ. Đó là một phong
trào cách mạng hiện thực, mặc dù có lúc lâm vào thoái trào, phải trải qua những
bước quanh co, song chưa bao giờ nó ngừng lại, bởi đó là xu thế tất yếu của
lịch sử như C.Mác đã khẳng định. Lịch sử nhân loại kể từ sau sự sụp đổ của Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cuối thế kỷ XX đến nay, cộng với sự
chững lại của phong trào cộng sản quốc tế đã có ảnh hưởng tiêu cực tới sự
nghiệp cách mạng của nhân loại tiến bộ đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tổn thất lớn lao này đã làm chậm bước tiến
của nhân loại đi lên chủ nghĩa xã hội, khiến cho cách mạng xã hội chủ nghĩa rơi
vào giai đoạn thoái trào, song không vì thế mà phong trào cách mạng thế giới và
chủ nghĩa xã hội không còn khả năng phát triển. Bằng chứng lịch sử không thể
bác bỏ là, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu,
thông qua đường lối cải tổ, cải cách, đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới
sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các
nước xã hội chủ nghĩa còn lại vẫn đang được tiếp tục với những thành công bước
đầu mà cả thế giới đều thừa nhận. Một bằng chứng lịch sử nữa cũng không thể bác
bỏ - đó là sự ra đời của phong trào cánh tả và xu hướng đi lên chủ nghĩa xã hội
ở hàng loạt nước thuộc khu vực Mỹ Latinh trong những năm gần đây. Những hiện
thực lịch sử đó chứng minh rằng, mặc dù chủ nghĩa xã hội đang đứng trước nhiều
khó khăn, thử thách, song từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ
khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, nó vẫn có điều kiện và khả năng tạo
ra bước phát triển mới. Rằng, “cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó
khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của
lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” [14, tr.69].
Không ai khác
ngoài C.Mác đã phát hiện ra những quy luật tiến hóa đó của lịch sử nhân loại
đương đại. Và, cũng chính C.Mác đã luận giải một cách sâu sắc và chứng minh một
cách có luận cứ cho khả năng trở thành hiện thực của quy luật tiến hóa đó trong
một học thuyết cách mạng triệt để và khoa học thật sự mang tên ông, trên cơ sở
của thế giới quan duy vật biện chứng do ông cùng với Ph.Ăngghen sáng lập và
phát triển. Đúng như Ph.Ăngghen, khi khẳng định phát kiến lớn lao này của
C.Mác, đã viết: “Trên hành tinh của chúng ta, Sáclơ Đácuyn đã tìm ra quy luật
phát triển của thế giới hữu cơ. Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản chi phối sự
vận động và phát triển của lịch sử loài người. Mác cũng phát hiện ra quy luật
mà theo đó chế độ xã hội hiện nay của chúng ta được hình thành cùng với sự phân
chia giai cấp vĩ đại của nó thành những nhà tư bản và công nhân làm thuê; quy
luật mà theo đó xã hội này được hình thành và phát triển cho đến khi nó phải bị
diệt vong, giống như tất cả các giai đoạn lịch sử trước đây của xã hội” [4,
tr.496].
C.Mác, như
Ph.Ăngghen đã khẳng định, “là một trong những người lỗi lạc hiếm có trong suốt
cả một thế kỷ”. Nhìn lại sự nghiệp sáng tạo lý luận và cuộc đời hoạt động cách
mạng của C.Mác, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng, ông không chỉ là nhà
bác học anh minh, nhà tư tưởng thiên tài, mà còn là một nhà cách mạng triệt để,
đầy nhiệt huyết. Những phẩm chất cao quý đó thống nhất làm một trong suốt cuộc
đời hoạt động cách mạng và sáng tạo lý luận của C.Mác. Cống hiến lý luận và sức
sống tư tưởng của C.Mác cũng chính là cống hiến và sức sống của sự nghiệp cách
mạng mà ông suốt đời theo đuổi. Thúc đẩy sự nghiệp tổ chức phong trào công nhân
và cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản, giành thắng lợi cho
chủ nghĩa xã hội và qua đó, giải phóng con người, giải phóng giai cấp và toàn
thể nhân loại – đó là mục đích chủ yếu, là lý tưởng cao đẹp nhất của C.Mác. Đó
cũng là “sự nghiệp chân chính” của C.Mác. “Việc thành lập Hội liên hiệp công
nhân quốc tế, mà Mác đã được thừa nhận là lãnh tụ của hội này, từ năm 1864 đến
năm 1872 là vòng hoa vinh quang cho một bộ phận của sự nghiệp sáng tạo này của
ông” [4, tr.497]. Với khoa học – lĩnh vực mà C.Mác đặc biệt yêu thích, say mê,
mặc dù không thể dốc toàn bộ cuộc đời mình cho nó, “khi có một tiến bộ khoa học
mới, cho dù tiến bộ khoa học ấy có được ứng dụng vào thực tế hay không thì
không ai có được niềm vui thực sự bằng ông”, bởi với ông, “khoa học trước hết
như cái đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử, như một lực lượng cách mạng theo nghĩa hết
sức đúng đắn của từ này” [4, tr.497].
C.Mác, như
Ph.Ăngghen nhận xét, còn là “con người của khoa học”. Với C.Mác, khoa học là
“một động lực lịch sử, một lực lượng cách mạng” và do vậy, ông đã ra sức vận
dụng những kiến thức mà nhân loại tích lũy được vào tất cả các lĩnh vực mà ông
am hiểu, “đặc biệt là trong lịch sử”, với một khát vọng lớn lao là đem khoa học
phục vụ những người bị áp bức và biến khoa học đó thành một vũ khí trong tay
quần chúng nhân dân lao động. Song, điều đó hoàn toàn không phải là điều chủ
yếu đối với C.Mác. C.Mác còn là con người của sự nghiệp đấu tranh cách mạng của
giai cấp vô sản toàn thế giới. “Trước hết Mác là một nhà cách mạng”. Với tư
cách này, C.Mác đã tham gia một cách tích cực hơn bất cứ ai vào sự nghiệp giải
phóng giai cấp vô sản mà ông là người đầu tiên đã đem lại cho họ ý thức về địa
vị của bản thân mình và yêu cầu của mình, ý thức về điều kiện để giải phóng
mình. Đó mới thực sự là “sứ mệnh thiết thân” của C.Mác. “Đấu tranh là hành động
tự nhiên của Mác. Và Mác đã đấu tranh một cách say sưa, kiên cường và có kết
quả, không mấy người được như vậy” [4, tr.501].
Toàn bộ sự
nghiệp sáng tạo lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng với tư cách nhà bác học
anh minh, nhà tư tưởng thiên tài, nhà cách mạng vĩ đại đã đem lại cho C.Mác
vinh quang tột đỉnh của một vĩ nhân nổi trội nhất trong mọi thời đại và trở
thành một tấm gương mẫu mực về tính khoa học và tình cảm cách mạng hết sức cao
đẹp của một con người luôn lấy đấu tranh cho tự do và hạnh phúc của nhân loại
tiến bộ làm lẽ sống, lý tưởng và sứ mệnh của cả cuộc đời. Và thật vậy, C.Mác đã
trải qua một cuộc đời gian khổ. Gian khổ cả trong lao động khoa học lẫn trong
cuộc sống đời thường, nhưng không vì thế mà ông từ bỏ nó để đi tìm một con
đường dễ dàng, một cuộc sống nhàn hạ, sung sướng. Đấu tranh cho tự do, cho hạnh
phúc của người lao động, đấu tranh chống lại những kẻ bóc lột và tôi tớ của
chúng, đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội – đó là niềm vui, là
hạnh phúc, là sứ mệnh của cả cuộc đời ông. Ngay từ những năm còn trẻ, C.Mác đã
chiến đấu kiên cường, đấu tranh không khoan nhượng với chế độ chuyên chế, với
tệ ngu dân, với ách áp bức chính trị và nô dịch xã hội mà chế độ này chủ
trương, thực hiện. Trong suốt cả cuộc đời mình, ông không bao giờ buông lơi vũ
khí phê bình. Với vũ khí này, ông đã phê phán, chống lại những tư tưởng sai
lầm, những học thuyết giả khoa học, chống lại thái độ bảo thủ, sự giả dối, sự
nhút nhát và thách thức giai cấp thống trị, các nhà tư tưởng, nhà hoạt động
chính trị của giai cấp này.
Xuất thân từ
một gia đình quý tộc thượng lưu, nhưng C.Mác đã từ bỏ nấc thang danh vọng rực
rỡ của học đường, từ bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi của một nhà bác học đang
thành đạt, của một nhà tư tưởng thời thượng để lựa chọn cho mình số phận gian
nan của một người lưu vong chính trị, đoạn tuyệt với hoàn cảnh của mình để chấp
nhận cuộc sống tha hương, xa quê hương, đất nước, đẩy bản thân mình và gia đình
mình vào cảnh lận đận đó đây và thiếu thốn, vào sự săn đuổi, truy bức của cảnh
sát và các giới cầm quyền.
Trong lao động
khoa học, với C.Mác, “không có con đường cái quan nào ở trong khoa học cả, và
chỉ những người nào không sợ chồn chân, mỏi gối trèo lên những con đường nhỏ bé
gập ghềnh của nó thì mới hy vọng đạt tới đỉnh cao xán lạn của khoa học mà thôi”
[6, tr.39]. Trong lao động khoa học và sáng tạo lý luận, C.Mác chính là một
người như vậy. Dành suốt cả cuộc đời cho lao động khoa học và sáng tạo lý luận,
C.Mác đã để lại cho chúng ta một di sản đồ sộ mà không mấy người có được, trong
đó bộ Tư bản là công trình đồ sộ nhất, vĩ đại nhất và cùng với nhiều tác phẩm
khác của ông, của Ph.Ăngghen – người bạn hết mực trung thành, người cộng sự đắc
lực của ông, bộ Tư bản đã đi vào phong trào vô sản toàn thế giới với tư cách
“tác phẩm gối đầu giường”.
Cuộc đời sáng
tạo lý luận và hoạt động cách mạng của C.Mác đã bị đứt đoạn ở tuổi 65 do bệnh
tật, do lao động khoa học quá sức, do những điều kiện sinh hoạt hết sức nặng
nề, đôi lúc cùng khổ. C.Mác qua đời, nhưng ông đã có được niềm hạnh phúc lớn
lao là thấy được những thành quả đầu tiên của lao động khoa học, sáng tạo lý
luận và thực tiễn hoạt động cách mạng của mình. C.Mác đã được toàn thể giai cấp
vô sản cách mạng và nhân loại tiến bộ thừa nhận khi còn sống, tôn vinh khi đã
qua đời và cho đến nay, tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn tỏa sáng trong thời
đại chúng ta.
Nói về sự nghiệp sáng tạo lý luận của C.Mác,
trước hết cần phải khẳng định rằng, với tư cách nhà tư tưởng của giai cấp vô
sản cách mạng toàn thế giới, trong suốt cuộc đời tìm tòi và sáng tạo lý luận
cho giai cấp mà chính C.Mác đã trở thành lãnh tụ, C.Mác không chỉ kể thừa và
tiếp thu, mà còn phát triển sáng tạo tất cả những gì tiến bộ, hợp lý trong các
trào lưu tư tưởng xã hội tiên tiến của nhân loại, đồng thời luôn kiểm nghiệm
chúng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản thế giới và của
chính bản thân mình. Và, chính việc luôn tuân thủ một cách nghiêm ngặt sự thống
nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn này đã đem lại cho C.Mác vinh quang
của một người sáng lập học thuyết vừa mang tính khoa học, vừa mang bản chất
cách mạng, có khả năng làm thay đổi đời sống hiện thực của cả nhân loại trong thời
đại ngày nay. Cũng chính vì vậy mà học thuyết Mác không chỉ mang giá trị lịch
sử, mà còn mang ý nghĩa vạch thời đại, trở thành kim chỉ nam, thành vũ khí lý
luận sắc bén trong cuộc đấu tranh tự giải phóng và giải phóng nhân loại của
giai cấp vô sản toàn thế giới, thành cương lĩnh, nguyên tắc hành động của các
Đảng Cộng sản và Công nhân trên toàn thế giới.
Nói về cống
hiến vĩ đại này của C.Mác, V.I.Lênin đã khẳng định: “Toàn bộ thiên tài của Mác
chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân
loại nêu ra. Học thuyết của ông ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những
học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính
trị học và trong chủ nghĩa xã hội. Học thuyết C.Mác là học thuyết vạn năng vì nó
là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung
cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một
sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của
tư sản. Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà
loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX” [12, tr.49-50] . Và, khi nói về giá trị,
tính khoa học và bản chất cách mạng của học thuyết Mác, V.I.Lênin đã khẳng định
rằng, toàn bộ giá trị của học thuyết Mác là ở chỗ, lý luận đó “về bản chất là
một lý luận có tính chất phê phán và cách mạng”. Sự phê phán đó là “sự phê phán
duy vật chủ nghĩa”, sự phê phán duy nhất mà C.Mác coi là “có tính chất khoa
học” và do vậy, nó mang lại cho học thuyết Mác, về bản chất, là cách mạng. Tính
khoa học và tính cách mạng – đó là những cái “hoàn toàn và tuyệt đối vốn có của
chủ nghĩa Mác”. Rằng, “sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người
xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là ở chỗ nó kết
hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã
hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không
phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình
những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng, mà là kết hợp trong chính
bản thân lý luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít” [11, tr.421].
2. Vận mệnh
lịch sử của học thuyết Mác
Lịch sử nhân
loại hơn một thế kỷ rưỡi vừa qua, kể từ khi học thuyết Mác, chủ nghĩa Mác,
triết học Mác ra đời, đã diễn ra với biết bao nhiêu biến cố lịch sử lớn lao, từ
Công xã Pari đến Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, từ sự ra đời của hệ thống xã
hội chủ nghĩa thế giới đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Đông Âu để giờ đây là công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội với những thành tựu
không thể phủ nhận ở Việt Nam, Trung Quốc, Cuba,… Không chỉ các nhà khoa học
lớn, các nhà tư tưởng nổi tiếng, mà cả nhân loại tiến bộ đều thừa nhận một thực
tế lịch sử là thế kỷ XX đã đi vào lịch sử nhân loại với tư cách thế kỷ của Cách
mạng tháng Mười Nga – cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người, và
Cách mạng tháng Mười Nga chính là sản phẩm thực tiễn, trực tiếp của học thuyết
Mác. Rằng, toàn bộ những thành tựu to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội
của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội hiện thực, của phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn
thế giới và nói chung, những thành tựu trong sự phát triển theo hướng tiến bộ
xã hội của nhân loại suốt thế kỷ XX này đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền
với học thuyết Mác. Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên, một cuộc thăm dò dư
luận ở các nước phương Tây cuối thế kỷ XX đã khẳng định học thuyết Mác với tư
cách kết quả của một sự nghiên cứu khoa học nghiêm túc trên tinh thần phê phán,
tiếp thu có chọn lọc và vượt bỏ những tư tưởng thiên tài trong lịch sử tư tưởng
nhân loại, của sự khái quát lý luận và tổng kết thực tiễn lịch sử thế giới,
nhất là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản trong thời đại của
C.Mác, và trên hết là thành quả sáng tạo tuyệt vời của một bộ óc thiên tài, một
vĩ nhân vĩ đại nhất trong mọi thời đại là học thuyết, là lý luận có ảnh hưởng
to lớn nhất đến đời sống xã hội nhân loại.
Sự thừa nhận và
khẳng định đó cùng với thực tiễn lịch sử nhân loại hơn một thế kỷ rưỡi vừa qua
cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng, trong thời đại ngày nay, học thuyết
Mác, chủ nghĩa Mác mà cơ sở lý luận nền tảng, “linh hồn sống” của nó là triết
học duy vật biện chứng với những luận điểm, quan điểm, tư tưởng cơ bản của nó,
với bản chất cách mạng triệt để và tính khoa học sâu sắc của nó vẫn giữ nguyên
giá trị và vận mệnh lịch sử của một học thuyết về lý tưởng cao đẹp và về cách
thức thay đổi thế giới, cải tạo thế giới vì mục đích nhân đạo, vì giá trị nhân
văn là giải phóng con người, giải phóng nhân loại để mỗi con người và cả cộng
đồng nhân loại được tự do phát triển, được sống trong hòa bình, tự do và hạnh
phúc.
Do vậy mà ngày
nay, trên thế giới, không chỉ chúng ta – những người lấy học thuyết Mác, chủ
nghĩa Mác, triết học Mác làm cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
hành động, mà còn có cả nhiều học giả phương Tây thừa nhận rằng, nhân loại tiến
bộ, dù muốn hay không, dù biết hay không, “đều là những người thừa kế Mác và
chủ nghĩa Mác” ở một mức độ nhất định nào đó. Rằng, thời đại ngày nay không thể
thiếu C.Mác, triết học Mác, chủ nghĩa Mác, học thuyết Mác; tương lai của nhân
loại sẽ không có, nếu thiếu C.Mác, thiếu di sản lý luận của C.Mác; và thật là
sai lầm, thật là vô trách nhiệm đối với những ai không đọc, không nghiên cứu di
sản lý luận của C.Mác [Xem: 16, tr.42].
Với tư cách một
học thuyết cách mạng về bản chất, khoa học về thực chất, học thuyết Mác không
chỉ có giá trị lịch sử, mà còn mang ý nghĩa thời đại, mang hơi thở và sức sống
của thời đại và do vậy, nó không chỉ trường tồn trong thế kỷ XXI này, mà còn
mãi trường tồn với lịch sử nhân loại.
Ý nghĩa thời
đại và sức sống trường tồn của học thuyết Mác trước hết là ở chỗ, các giá trị
bền vững trong học thuyết này đã, đang và sẽ còn là cơ sở lý luận nền tảng,
phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới bằng cách mạng; còn
những hạn chế lịch sử trong một số luận điểm, quan điểm, tư tưởng cụ thể nào đó
thì tự thân tính khoa học và bản chất cách mạng của nó cũng đặt ra yêu cầu phải
bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện mới.
Thật vậy, trong
thời đại ngày nay – thời đại đầy những biến cố lịch sử khó lường, có thể nói,
chỉ có học thuyết Mác mà hạt nhân của nó là triết học với tư cách một khoa học
mới có khả năng giải đáp một cách khoa học những vấn đề mà tư tưởng tiến bộ của
nhân loại đã đặt ra, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của xã hội
loài người – giải phóng con người và nhân loại, cải biến và xây dựng chế độ xã
hội mới mà trong đó, tự do, công bằng, bình đẳng, dân chủ và văn minh là những
giá trị nền tảng. Bởi lẽ, những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật nền
tảng của học thuyết Mác là những cái mang tính phổ quát, tác động và chi phối
cả giới tự nhiên lẫn đời sống xã hội và tư duy con người ở mọi nơi và trong mọi
giai đoạn lịch sử và do vậy, chỉ duy nhất nó trở thành thế giới quan, phương
pháp luận khoa học cho việc nhận thức và cải tạo thế giới bằng cách mạng. Và,
cũng chỉ có học thuyết Mác mới có thể giúp chúng ta hiểu được “những điều bí ẩn
của lịch sử”, tìm ra “chìa khóa lịch sử đích thực”, xác định rõ “chủ thể của
lịch sử” - những người có khả năng sử dụng chiếc chìa khóa đó để giải mã những
biến cố lịch sử, mở toang cánh cửa lịch sử để hướng nhân loại tiến bộ đi theo
đúng quỹ đạo của nó.
Thêm nữa, cái
làm nên giá trị và sức sống trường tồn của học thuyết Mác không chỉ ở bản chất
cách mạng triệt để và tính khoa học thật sự sâu sắc của nó, ở vai trò thế giới
quan và phương pháp luận của nó – kim chỉ nam cho hoạt động nhận thức và cải
tạo thế giới của cả nhân loại tiến bộ, mà còn ở sự thống nhất hữu cơ giữa lý
luận và thực tiễn – cái mà C.Mác luôn coi là nguyên tắc nền tảng khi xây dựng
học thuyết của mình. Chính C.Mác, mỗi khi nói về học thuyết của mình, ông luôn nhấn
mạnh rằng, học thuyết của ông không phải là giáo điều, mà là kim chỉ nam cho
hành động. Và, như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lý luận của chúng tôi (của C.Mác
và ông – Đ.H.T.) là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều
mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc” [9, tr.796]. Do
vậy, có thể khẳng định, học thuyết Mác sẽ không thể trở nên lỗi thời, lạc hậu
với thời đại, nếu không bị tuyệt đối hóa, nếu nghiên cứu và vận dụng nó trên cơ
sở gắn kết nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn lịch sử nhân loại và thời
đại trên tinh thần của nguyên tắc thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn,
trên tinh thần biện chứng mà quan hệ hữu cơ giữa biện chứng khách quan và biện
chứng chủ quan đòi hỏi, chứ không phải một cách giáo điều, xơ cứng.
Học thuyết Mác
là một hệ thống mở và phát triển, chứ không phải là cái gì đó nhất thành bất
biến và do vậy, trong nó còn có những hạn chế nào đó cần phải khắc phục, bổ
sung, phát triển thêm thì đó cũng là tất yếu. C.Mác là một nhà bác học vĩ đại,
nhà tư tưởng thiên tài, nhưng ông cũng là “sản phẩm của thời đại của mình” và
do vậy, ông vẫn bị quy định bởi chính những điều kiện lịch sử của thời đại mình
nên không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định. Chúng ta có thể đòi hỏi ở
C.Mác rất nhiều, nhưng không thể đòi hỏi ông phải suy nghĩ thay cho các thế hệ
sau về những vấn đề mà trong thời đại của ông, chưa xuất hiện. Những hạn chế
nào đó trong học thuyết của C.Mác là tất yếu và do lịch sử thời đại quy định,
song những hạn chế đó tuyệt nhiên không làm giảm giá trị thế giới quan và
phương pháp luận, giá trị gợi mở và định hướng cũng như bản chất cách mạng và
tính khoa học của nó. Mặc dù hiện nay, do bối cảnh lịch sử quy định và do những
biến cố hiện thời của lịch sử nhân loại, một số luận điểm, quan điểm nào đó của
C.Mác đã trở nên không còn thích hợp với điều kiện lịch sử mới, song không phải
vì thế mà học thuyết Mác mất đi ý nghĩa thời đại của nó. Bản chất cách mạng và
tính khoa học của nó vẫn mãi trường tồn với lịch sử nhân loại, vẫn là cơ sở nền
tảng để chúng ta khẳng định việc “kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin” với “linh hồn
sống” của nó là triết học Mác vẫn là “vấn đề có tính nguyên tắc số một” đối với
chúng ta trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ý nghĩa thời
đại và sức sống trường tồn của học thuyết Mác chính là cơ sở để chúng ta khẳng
định “quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên
nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” mà Đảng ta đã xác định
khi lựa chọn con đường đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn có
cơ sở khoa học. Việc Đảng ta xác định kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của
Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước là hoàn toàn đúng đắn và có cơ sở khoa
học vững chắc. Sự đúng đắn và cơ sở khoa học đó bắt nguồn từ bản chất cách mạng
và tính khoa học của học thuyết Mác. Chúng ta kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin
nói chung, triết học Mác nói riêng không có nghĩa là áp dụng một cách nguyên
xi, máy móc, mà là vận dụng một cách khoa học và sáng tạo những tư tưởng,
nguyên lý, quy luật nền tảng của nó trong những điều kiện lịch sử mới và phù
hợp với thực tiễn đất nước. Những thành công rất đáng tự hào của hơn 30 năm đổi
mới đã chứng minh điều đó.
Do vậy, có thể
nói, đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với việc kiên trì chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở nhận thức lại, nhận thức
đúng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói
chung, thông qua nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn thời đại, thực tiễn
đổi mới ở Việt Nam không chỉ là quá trình thống nhất hữu cơ lý luận với thực
tiễn, là vấn đề hết sức cần thiết, mang cả ý nghĩa lý luận lẫn ý nghĩa thực
tiễn cấp bách, mà còn là phương thức đúng đắn để góp phần làm cho học thuyết Mác
luôn là một hệ thống lý luận mở và phát triển, mãi mang ý nghĩa thời đại và sức
sống trường tồn của nó với thời đại chúng ta, với nhân loại không chỉ trong thế
kỷ XXI này, mà còn trong nhiều thế kỷ tiếp theo nữa.
“Tên tuổi và sự
nghiệp của C.Mác đời đời sống mãi!”. Học thuyết Mác với tư cách hệ thống lý
luận mở và phát triển, mang bản chất cách mạng và khoa học, có sứ mệnh lịch sử
vĩ đại mãi trường tồn trong lịch sử tư tưởng nhân loại! Đó là kết luận mà chúng
tôi dành cho bài viết này nhân Kỷ niệm 200 năm Ngày sinh C.Mác
(5-5-1818/5-5-2018).
Tài liệu tham
khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995). Toàn tập,
t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.26, ph.II, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
[8] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.27, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[9] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.36, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[10] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,
t.42, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[11] V.I.Lênin (1980), Toàn tập, t.1, Nxb Tiến
bộ, Mátxcơva.
[12] V.I.Lênin (1980), Toàn tập, t.23, Nxb
Tiến bộ, Mátxcơva.
[13] V.I.Lênin (1980), Toàn tập, t.26, Nxb
Tiến bộ, Mátxcơva.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[16] Giắccơ Đêriđa (1994), Những bóng ma của
Mác. Nxb Chính trị Quốc gia và Tổng cục II Bộ quốc phòng, Hà Nội.