Tóm tắt: Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người về
quyền con người là một trong những giá trị cốt lõi và là cơ sở cho dân tộc Việt Nam lấy đó làm
mục tiêu hành động. Trong bài viết, tác giả đi sâu phân tích để thấy rõ những giá trị về quyền
con người mà Hồ Chí Minh đã tạo dựng cho dân tộc Việt Nam, đó là quyền sống, quyền tự do,
quyền độc lập và quyền mưu cầu hạnh phúc - những giá trị thiêng liêng bất khả xâm phạm của
mỗi con người.
Từ khóa: Hồ Chí Minh, quyền con người, tự do, độc lập, hạnh phúc.
Trong quá trình đi tìm đường cứu
nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu những tư
tưởng tích cực trong văn minh phương
Đông và phương Tây. Đồng thời, Người
còn được tiếp xúc và giao lưu với nhiều
nền văn hóa khác nhau. Qua đó, Người
tiếp thu, tích lũy và đưa ra những cách
thức để xây dựng và hoàn thiện đất nước
và con người Việt Nam. Bản thân Người
cũng đã góp phần tạo ra dòng tư tưởng,
triết lý hết sức quý báu cho nền triết học
Việt Nam.
Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, tư
tưởng về quyền con người là một nội
dung đáng được quan tâm, nhất là trong
bối cảnh hiện nay của Việt Nam. Có thể
khẳng định chính Người là người đầu
tiên đưa ra vấn đề quyền con người ở
Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người bắt nguồn sâu xa từ
lịch sử dân tộc và thực tiễn của đất
nước, kế thừa có chọn lọc những tư
tưởng nhân quyền tiến bộ của các nước
phương Tây và phương Đông. Những
khái niệm về quyền con người, tự do và
bác ái nảy nở trong Hồ Chí Minh từ rất
sớm. Mới mười ba tuổi, cái tuổi hồn
nhiên, vui tươi, thụ hưởng, nhưng với
Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh)
những từ ngữ hàn lâm, như “Tự do”,
“Bình đẳng”, “Bác ái” đã là nỗi trăn trở
mà Người muốn tìm hiểu cặn kẽ. Khi trả
lời câu hỏi của một nhà thơ Nga,
Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã nói
rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu
tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do,
Bình đẳng, Bác ái (…). Và từ thuở ấy,
tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng
sau những chữ ấy” [2, tr.461].
Trong quá khứ, khi thực dân Pháp đô
hộ Việt Nam, người dân An Nam bị
nhấn chìm trong cảnh lầm than, người
dân không có tiếng nói của mình, bị áp
bức bóc lột, bị đè nén ở mọi phương
diện. Hầu hết người dân sống trong cảnh
đói rét, thiếu thốn vật chất. Người nông
dân làm lụng vất vả, bị lý trưởng, cường
hào bắt đóng sưu cao thuế nặng. Phận tôi
đòi bị mạt sát, bị đối xử như cầm thú.
Thanh niên bị bắt đi phu, đi lính. Công
nhân trong các công xưởng bị hành hạ
thậm tệ. Họ bị bóc lột một cách dã man.
Các tiểu tư sản người Việt bị o ép không
ngóc đầu lên được, trẻ em thì ít có cơ
hội được đến trường.
Làng làng, nhà
nhà, người người “được” đầu độc bởi
thuốc phiện và rượu. Báo chí, lập hội,
hội họp, đi lại đều bị cấm. Cảnh lầm
than, đau thương xảy ra hàng ngày,
người dân không được chăm sóc y tế,
cảnh chết đói, chết rét diễn ra khắp mọi
nơi. Nếu nhìn vào bối cảnh ấy, chúng ta
sẽ nhận thấy ngay đó không phải là cuộc
sống. Đó là địa ngục. Nhưng, những
người Pháp cai trị lúc đó không phải
không nhận thấy điều đó. Họ biết, chắc
chắn biết, bởi chính họ đã có những
nhận thức về quyền con người. Còn
người Việt Nam khi đó thì sao.
Họ là
những nhân vật chính trong vở kịch ấy,
họ không biết vì không có đủ nhận thức
về quyền con người. Nhưng Hồ Chí
Minh nhận ra được điều đó.
Những hình ảnh thống khổ mất quyền
con người của người dân An Nam diễn ra
hằng ngày này đã hằn in lên tâm trí của
Hồ Chí Minh. Người đã thấy toàn bộ
cảnh bị đọa đầy của người dân An Nam.
Nhìn chung, về mọi mặt, người dân An
Nam sống mà như không sống. Về mặt
tinh thần thì bị khinh rẻ, coi thường, sống
trong sợ sệt và hoang mang. Về vật chất,
họ bị o ép, hành hạ, bị bóc lột đến tàn tạ,
một sự “bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt
nát và nghèo khốn của nhân dân” [2,
tr.12]. Hồ Chí Minh nhận thấy: “Chưa có
bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước
nào, người ta lại vi phạm mọi quyền làm
người một cách độc ác trắng trợn đến
thế” [3, tr.121].
Những hình ảnh đó đã thôi thúc tấm
lòng nhiệt huyết vì đất nước, nhân dân của
Hồ Chí Minh để rồi, Người đi tìm kiếm
những phương pháp, cách thức, cũng như
sáng tạo đường hướng riêng để giúp đỡ
dân tộc mình. Trong đó, Hồ Chí Minh đã
cố gắng đấu tranh đòi quyền tự quyết cho
dân tộc mình, đòi quyền được làm người
cho người dân Việt Nam. Người mong
muốn giải phóng cho dân tộc mình, “nhằm
vào những quyền tự do mà nếu không có
chúng thì con người ngày nay chỉ là một
kẻ nô lệ khốn nạn” [2, tr.14].
Trong tư tưởng về quyền con người
của Hồ Chí Minh nổi bật lên là quyền
sống, quyền độc lập, tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc. Ngay khi nước Việt Nam
giành được độc lập năm 1945, trong bản
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã dẫn
chứng ra các quyền cơ bản của con người
được viết trong Bản Tuyên ngôn độc lập
của Mỹ và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền của Cách mạng Pháp.
Người đã suy rộng ra các quyền đó không
chỉ có ở Pháp hay Mỹ, mà người Việt
Nam cũng như toàn thể các dân tộc trên
thế giới đều phải có quyền sống, quyền tự
do, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu
hạnh phúc. Quyền tự do, quyền bình đẳng,
quyền mưu cầu hạnh phúc là lẽ tự nhiên
của mỗi người khi sinh ra.
Kế thừa tư tưởng trong lịch sử, Hồ Chí
Minh không chỉ đấu tranh đòi quyền con
người ở phạm vi một dân tộc, một quốc
gia, mà còn mong muốn quyền đó trở
thành giá trị phổ quát cho toàn nhân loại
trên thế giới. Người nói: “Tất cả các dân
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng,
dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do” [4, tr.1].
Quyền sống không phải là chỉ tồn tại
trên cõi trần một cách vô nghĩa như một
sinh vật sống phù du, mà là sự tồn tại với
đúng nghĩa là con người. Không phải sống
như dân tộc Việt Nam từng sống dưới chế
độ Pháp thuộc, sự sống của con người là
một quá trình trở thành người. Một sự
sống có ý nghĩa là sống không phải chỉ là
tồn tại để rồi phải chịu sự áp bức, bóc lột
của kẻ khác, sống không phải là trong
trạng thái chịu đựng. Sống là phải được
đảm bảo về sức khỏe, độc lập và tự do,
luôn được tu dưỡng trí tuệ và tâm hồn.
Tức “sống” trong trạng thái khỏe mạnh,
được học hành, được làm việc, được lao
động và cống hiến, được nghỉ ngơi; không
có sự áp bức, bóc lột nào đối với thân thể
cũng như tư tưởng. Vì lẽ sống đó mà Hồ
Chí Minh cố gắng giành lấy độc lập cho
dân tộc Việt Nam.
Quyền sống, đó chính là quyền được
bảo toàn tính mạng, quyền được bảo vệ
và quyền có được một môi trường an
toàn, an ninh để có thể được tồn tại với ý
nghĩa là con người. Chuyện gì sẽ xảy ra,
nếu trạng thái mà ai cũng tự trao cho
mình cái quyền được phán quyết sinh
mạng người khác, ai cũng là quan tòa
trong các trường hợp riêng của họ, hoặc
trong trạng thái mà có một người đứng
trên tất cả có quyền phán quyết sự tồn
vong của người khác dựa vào tâm trạng,
tình cảm yêu mến của bản thân mà không
dựa vào một bộ luật đã được thiết lập ổn
định? Rõ ràng, quyền sống đó của mỗi
con người đang tồn tại sẽ bị đe dọa và sự
tồn tại của họ luôn luôn là mong manh.
Như vậy, quyền sống không thể tách
rời quyền độc lập, tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc.
Như chúng ta đều thấy, cả cuộc đời
Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc đấu tranh
giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Nhưng với Người, có phải chỉ giành độc
lập cho dân tộc là điều quan trọng nhất,
chắc chắn đó là mục đích mà Hồ Chí
Minh muốn đạt tới, nhưng không phải là
mục đích cuối cùng của Người. Ngay khi
nước Việt Nam giành được độc lập, Hồ
Chí Minh đã rất quan tâm đến các quyền
cơ bản của con người và Người cho rằng,
quyền được hưởng tự do và hạnh phúc là
mục đích cuối cùng và thiêng liêng nhất.
Mỗi người tồn tại mà không có tự do và
hạnh phúc thì dù dân tộc có giành được
độc lập, thoát khỏi ách thống trị của
ngoại bang thì độc lập đó cũng chả có ý
nghĩa gì. Nó sẽ không có giá trị gì, nếu
mỗi người dân vẫn không có tự do và
không được hưởng hạnh phúc. Người
nói: “Nếu nước độc lập mà dân không
hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng
chẳng có nghĩa lý gì” [4, tr.64]. Để xây
dựng một nước Việt Nam, thì trước hết,
phải “thực hiện nền dân chủ cộng hòa
Việt Nam, mang lại tự do hạnh phúc cho
dân tộc” [4, tr.233]. Độc lập - Tự do -
Hạnh phúc là giá trị phát triển, là mục
tiêu, là bước đi của cách mạng Việt Nam;
là nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí
Minh, là triết lý phát triển Việt Nam
trong thời đại mới. Đó là con đường giải
phóng và phát triển của dân tộc đúng quy
luật, hợp lòng dân.
Quyền sống, quyền độc lập, tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc được Hồ Chí
Minh cụ thể hóa bằng những quyền cơ
bản, như mỗi người dân đều “có quyền
làm việc, có quyền nghỉ ngơi, có quyền tự
do thân thể, có quyền tự do ngôn luận, báo
chí, hội họp, lập hội, biểu tình, có quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo
tôn giáo nào, có quyền bầu cử, ứng cử,
v.v.. Công dân đều bình đẳng trước pháp
luật. Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn
ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội và gia đình. Nhà nước chú trọng
đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức
dục, trí dục và thể dục” [6, tr.377].
Có thể thấy, quyền cốt lõi nhất trong tất
cả các quyền con người chính là quyền tự
do. Con người sống phải có tự do, có
quyền được hưởng tự do, tự do thân thể,
tự do ngôn luận, tự do báo chí, hội họp,
lập hội, tự do về tín ngưỡng tôn giáo, tự
do về chính trị... Nhìn chung, tự do tức là
tự do hành động theo ý chí tự do của riêng
mỗi người, hiện diện trong hành động của
mỗi người không phạm phải những điều
quy định chung và không phải làm theo ý
chí của người khác.
Như vậy, chúng ta cần phải nhận thức
sâu sắc về tự do. Nếu chưa có một nhận
thức sâu sắc về tự do, thì tự do ấy sẽ trở
nên thứ tự do như Plato đã từng thấy
trong thể chế dân chủ của ông thời đó.
Một sự “tự do” cổ vũ cho sự bất tuân
nhà cầm quyền. Nuông chiều “tự do”
mang lại sự coi thường trật tự xã hội, coi
thường đạo lý gia đình. Trong gia đình,
bề trên thì nuông chiều đám trẻ vì sợ
mang tiếng khó tính, trẻ nhỏ thì cãi lý,
đối địch với người già. “Tự do” làm cho
thầy sợ trò, trò rẻ rúng coi thường thầy
giáo. Chủ sợ đầy tớ, đầy tớ thì ngang
hàng với chủ. Con người trong xã hội
coi thường cả pháp luật. Dân chúng
không chịu ép mình trong bất kỳ một tổ
chức chính trị, tôn giáo hay đạo đức nào
[Xem: 7, tr.579-591]. Tuy nhiên, qua
những phân tích của Plato, chúng ta thấy
những hủ tục thiên kiến của truyền thống
đạo đức đôi khi kìm hãm sự tự do. Còn
theo Hồ Chí Minh, tự do không có nghĩa
là tự ý làm bừa, tự do vô tổ chức, tự do
quá trớn, tự do coi thường pháp luật.
Với Người, tự do cần đặt trong một
khuôn khổ pháp luật. Khi con người
trong một cộng đồng cùng chung một
khế ước xã hội, anh ta phải tuân thủ
những quy định chung ấy. Luật pháp
chính là nơi nuôi dưỡng tự do. Phải nói
thêm rằng, luật pháp, nơi ý niệm chân
thật, “với tư cách là phương hướng của
một tác nhân tự do”, với mục đích
“không phải là thủ tiêu hay kiểm tỏa tự
do, mà là bảo toàn và khuyếch trương
nó” là cơ sở để con người có quyền tự
do làm những điều mình thích mà không
phương hại đến người khác. Nơi nào có
luật pháp, nơi đó có tự do, vì chỉ có nơi
đó anh ta mới không phải chịu sự khuất
phục trước ý chí độc đoán của người
khác, mà là tự do tuân theo ý chí của
chính mình. Nói như John Locke: “Nơi
nào không có luật pháp, nơi đó không có
tự do” [1, tr.93].
Không chỉ dừng lại ở đây, Hồ Chí
Minh còn cho thấy quyền tự do của con
người không chỉ là quyền tự do đơn
thuần về mặt vật chất, mà là quyền được
tham gia một cách bình đẳng vào đời
sống văn hóa. Điều đó có nghĩa là, tự do
không dừng lại ở tự do chính trị, mà
quyền được phát triển hết tiềm năng của
mình, quyền tự do về tư tưởng. Con
người được giải phóng khỏi mọi sự kìm
hãm, áp bức về mặt tinh thần, kể cả
những hủ tục, thiên kiến lạc hậu. Con
người phải được tự do tư tưởng trong
sáng tác các giá trị văn hóa, trong tín
ngưỡng và tôn giáo. Về tự do tư tưởng,
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chế độ ta là
chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự
do” [5, tr.378]. Tự do tư tưởng không bị
kìm hãm bởi bất kể tác nhân nào, thế lực
nào. Tư tưởng con người hoàn toàn được
giải phóng. Tư tưởng phải được tự do,
tức sẽ không có một lối áp đặt trong tư
duy của mỗi người, không có sự độc
quyền về chân lý. Con người tự chủ
trong suy nghĩ, có quyền đưa ra những
suy nghĩ, phát kiến, niềm tin, sự yêu ghét
của mình. Quyền tự do, tức quyền được
phát huy hết năng lực vốn có của mình
và như vậy, nó là nền tảng để tạo dựng
con người.
Nhìn chung, tự do chính là nền tảng
của hạnh phúc, con người có quyền tự do
thì mới có hạnh phúc; ngược lại, quyền
mưu cầu hạnh phúc gắn chặt với quyền tự
do của mỗi người. Hạnh phúc là một hành
trình tự do đi tìm các giá trị và khi đạt
được những giá trị, thỏa mãn với những
thứ trở thành giá trị của mình, đó chính là
hạnh phúc.
Hồ Chí Minh là một người thầy vĩ đại
của dân tộc Việt Nam. Trước khi được
tiếp cận với những tư tưởng của Người,
người Việt Nam không có một chút nào về
khái niệm quyền con người, quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Họ phải sống kiếp nô lệ và lệ thuộc vào
chế độ thực dân nửa phong kiến. Chính
Hồ Chí Minh đã mang lại cho họ sự nhận
thức đúng đắn, đã khai sáng cho tâm trí
của người dân Việt Nam về quyền mà họ
được hưởng, khai trí cho họ nhận thức
được ý nghĩa của cuộc sống.
Hồ Chí Minh đã hiện thực hóa ham
muốn tột bậc suốt đời của Người, “là làm
sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học
hành” [4, tr.187]. Trong suốt những năm
tháng hoạt động cách mạng, đấu tranh
giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã dần thiết lập và hoàn
thiện các quyền con người cơ bản cho dân
tộc Việt Nam. Người đưa nó vào thực tiễn
đấu tranh để từng người dân có thể cảm
nhận và thấu hiểu về quyền con người mà
mình được hưởng. Và bản Tuyên ngôn
Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa năm 1945 chính là bản tuyên
ngôn nhân quyền đầu tiên của nước Việt
Nam. Từ đây, giá trị về độc lập, tự do, về
cuộc sống hạnh phúc đã trở thành giá trị
văn hóa trong sự nghiệp giải phóng con
người của Hồ Chí Minh và trở thành giá
trị sống của người Việt.
Những giá trị về quyền con người
trong sự nghiệp giải phóng con người đó
càng thêm sâu sắc, khi Hồ Chí Minh chủ
trương bắt đầu từ sự giác ngộ cho người
dân Việt Nam, làm cho nhân dân hiểu rõ
các quy luật phát triển của xã hội, nhận
rõ giá trị đích thực của quyền con người,
điều kiện phát triển toàn diện đối với con
người. Người khẳng định: “Muốn giữ
vững nền độc lập, muốn làm cho dân
mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam
phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn
phận của mình, phải có kiến thức mới để
có thể tham gia vào công cuộc xây dựng
nước nhà” [4, tr.40]. Giải phóng con
người là giá trị văn hóa cao cả nhất,
nhưng sự sâu sắc của giá trị văn hóa cao
cả đó là giúp con người tự đứng lên giải
phóng bằng chính sự phát triển và hoàn
thiện của mình. Quyền tự do tư tưởng
chính là một sự giải phóng con người ở
tầm cao văn hóa và như thế, nó tạo ra
nguồn năng lượng và động lực cực kỳ
mạnh mẽ cho sự phát triển. Đó chính là
bí quyết thành công của cách mạng Việt
Nam. Bí quyết do chính Hồ Chí Minh
đem lại cho cách mạng Việt Nam bằng tư
tưởng của Người về quyền con người.
Tài liệu tham khảo
[1] John Locke (2007), Khảo luận thứ hai về
chính quyền - chính quyền dân sự (Lê Tuấn
Huy dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội.
[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.1, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.2, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.4, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.10, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7] Plato (2013), Cộng hòa (dịch giả Đỗ Khánh
Hoan), Nxb Thế giới, Hà Nội.
Tác giả: TS. Đỗ Thị Kim Hoa-Viện Triết học