QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN VÀ VẤN ĐỀ TĂNG TRƯỞNG XANH, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU HIỆN NAY
Tóm tắt: Với quan niệm quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác đã khẳng định mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, đồng tiến hóa giữa con
người với tự nhiên. Đáng tiếc là, suốt một thời gian dài, các quốc gia trên thế
giới đã xem nhẹ vấn đề này và trên thực tế, việc áp dụng mô hình tăng
trưởng kinh tế truyền thống - chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên
và các năng lượng hóa thạch đã phải trả giá bằng sự ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, mất cân bằng sinh thái, suy giảm chất lượng sống… đe
dọa trực tiếp sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Trong bối cảnh như vậy, thực hiện tăng trưởng xanh gắn với bảo vệ môi
trường trên cơ sở nhận thức sâu sắc mối quan hệ mật thiết giữa con người và tự
nhiên cũng như tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với cuộc sống con
người và xã hội loài người - điều mà trước đây C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng chỉ
ra, được xem là một sự lựa chọn thông minh, một chiến lược phù hợp của xã hội
đương đại trên phạm vi toàn cầu nhằm không chỉ đạt được sự tăng trưởng kinh tế,
mà còn bảo vệ môi trường tự nhiên để phát triển bền vững.
Từ khóa: Chủ nghĩa Mác, quan hệ
giữa con người và tự nhiên, tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường.
Hiện nay, làm thế nào
để có thể tăng trưởng kinh tế nhưng lại không gây tổn hại đến môi trường sống
đang là vấn đề đặc biệt quan trọng được mọi quốc gia trên thế giới quan tâm,
bất kể đó là nước phát triển hay đang phát triển. Hiện tượng suy giảm chất lượng
môi trường sống với những biểu hiện ô nhiễm môi trường và các sự cố môi trường,
hiệu ứng nhà kính, những biến đổi khí hậu, băng tan và nước biển dâng… và những
bất lợi khác từ tự nhiên đang ảnh hưởng trực tiếp hằng ngày, hằng giờ tới cuộc
sống của con người. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải trở lại nghiên cứu một
cách nghiêm túc và sâu sắc tư tưởng của C.Mác về mối quan hệ biện chứng giữa
con người với tự nhiên để trên cơ sở đó, đưa ra những luận giải nhằm khẳng định
rằng thực hiện tăng trưởng xanh gắn với bảo vệ môi trường toàn cầu là một yêu
cầu tất yếu, khách quan và đặc biệt cấp thiết hiện nay.
1. Tư tưởng của C.Mác về mối quan hệ giữa
con người và tự nhiên
C.Mác đã từng
khẳng định rằng, tự nhiên
đóng vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế đối với sự tồn tại, phát
triển của con người cũng như của xã hội loài người. Nói về mối quan hệ khăng
khít, không thể tách rời giữa con người với tự nhiên, C.Mác đã coi giới tự
nhiên là thân thể vô cơ của con người: “Giới
tự nhiên cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa
là giới tự nhiên là thân thể của con
người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên
giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn
liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn
liền với bản thân tự nhiên, vì con người là một bộ phận của tự nhiên” [2,
tr.135]. Có thể nói, tư tưởng của C.Mác về mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên là vô cùng sâu sắc và độc đáo; bởi lẽ, trong lịch sử nhân loại, ngoài
C.Mác, chưa có ai coi giới tự nhiên là “thân
thể vô cơ” của con người. Với quan niệm này, C.Mác đã chỉ ra rằng,
về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của con người bắt nguồn từ sự tiến hóa
rất lâu dài của tự nhiên, chứ không phải là kết quả do sự “sáng tạo” hay “nhào
nặn” của một lực lượng siêu nhiên nào như chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo đã quan
niệm. Về mặt quan hệ với tự nhiên, con người chỉ là một bộ phận của giới tự
nhiên, chứ không phải là lực lượng đứng ngoài, tách khỏi giới tự nhiên. Xét về
mặt sản xuất vật chất - hoạt động căn bản và quyết định sự tồn tại, phát triển
của con người, giới tự nhiên đóng vai trò đặc biệt quan trọng và không thể
thiếu. C.Mác đã khẳng định: “Công nhân không thể
sáng tạo ra cái gì hết, nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu
hình bên ngoài. Đó là vật liệu, trong đó và nhờ đó lao động của anh ta sản xuất
ra sản phẩm” [2, tr.130]. Điều đó cho thấy, đời sống của con người không những được duy trì nhờ dựa vào giới tự nhiên
mà hơn thế nữa, giới tự nhiên còn là nguồn gốc của đời sống con người, là “thân
thể vô cơ” của con người, là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho quá trình sống,
tồn tại và phát triển của con người. Nói cách khác, con người không thể
tồn tại và phát triển nếu bị tách khỏi giới tự nhiên, khỏi môi trường sống của
mình. Do vậy, chừng nào mà con người còn tồn tại, muốn tồn tại và tiếp tục phát
triển thì chừng đó con người còn phải dựa vào giới tự nhiên, dựa vào môi
trường. Đó là một quy luật tất yếu khách quan mà con người không thể làm khác
được, không thể không tôn trọng và tuân thủ trong quan hệ tương tác với tự
nhiên.
Thực vậy, lịch sử xã hội loài người đã chỉ
ra rằng, đời sống của con người được duy trì và bảo đảm là nhờ dựa vào giới tự
nhiên, khai thác tự nhiên. “Ban đầu, - C.Mác viết, - bản thân giới tự nhiên là
cái kho chứa, mà trong đó con người - cũng là tiền đề với tính cách là sản phẩm
của tự nhiên, - kiếm được những sản phẩm có sẵn của tự nhiên để tiêu dùng, cũng
như con người tìm được trong những khí quan của cơ thể bản thân mình những tư
liệu sản xuất đầu tiên để chiếm hữu những sản phẩm đó” [3, tr.110]. Sau đó, do
con người ngày càng sinh sôi nảy nở và cùng với đó, nhu cầu cũng dần trở nên
ngày càng cao khiến môi trường tự nhiên thuần túy không đáp ứng được. Vì vậy,
để tồn tại, con người phải tiến hành lao động sản xuất. Trong quá trình này,
con người đã tác động vào môi trường tự nhiên, bắt giới tự nhiên cung cấp những
thứ thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của mình. Từ đây, con người dần tách
mình ra khỏi thế giới động vật, và cùng với môi trường tự nhiên vốn có, con
người còn tạo ra cho mình một môi trường sống mới - môi trường xã hội hay môi trường
tự nhiên đã được “người hóa” chỉ đặc trưng riêng cho loài người. Trong quá
trình sản xuất xã hội, thông qua lao động và tích lũy kinh nghiệm, con người
dần dần học được cách thuận theo và cải tạo môi trường tự nhiên trên cơ sở
những hiểu biết, những tri thức của mình về giới tự nhiên. Và do đó, con người
đã ngày càng giảm bớt sự phụ thuộc của họ vào “các thế lực không kiểm soát
được” và ngày càng gia tăng quyền lực của mình trước môi trường tự nhiên thông
qua hoạt động tác động vào tự nhiên. Nhờ vậy, như các nhà sáng lập chủ nghĩa
Mác đã chỉ rõ, “loài người đã có đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày
càng phức tạp hơn, có đủ khả năng tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càng
cao hơn” [4, tr.650]. Những “thắng lợi” trước tự nhiên cùng với sự gia tăng,
phát triển ngày càng cao các nhu cầu của con người đã kích thích họ tăng cường,
đẩy mạnh cả về quy mô và cường độ những hoạt động có mục đích nhằm chế ngự,
chinh phục tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ cho mình. Vậy là, từ chỗ lợi dụng tự
nhiên, dựa vào tự nhiên một cách thụ động để tồn tại, con người đã tiến đến chỗ
có khả năng biến đổi, cải tạo nó một cách chủ động nhờ sự phát triển của công
cụ sản xuất cũng như sự trợ giúp của tiến bộ khoa học - kỹ thuật. Nói cách
khác, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, đặc biệt là các công cụ sản
xuất và tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã “nối dài” cánh tay của con người, giúp
họ có thể với tới đáy đại dương mênh mông hay sâu thẳm trong lòng đất, vươn tới
các hành tinh xa xôi trong vũ trụ bao la... làm gia tăng cường độ, quy mô tác
động của con người vào tự nhiên, sáng tạo nên những giá trị vật chất mới và
biến những điều dường như không thể trở thành có thể. Cùng với thời gian, con
người mải miết theo đuổi những kế hoạch, những dự án cải tạo tự nhiên để đạt được
mục đích tăng trưởng kinh tế và họ say sưa với những thành tựu của mình. Có thể
nói, những thành tựu mà con người đạt được, xét riêng về phương diện kinh tế,
là hết sức vĩ đại. Nó thể hiện sức mạnh, năng lực cải biến tự nhiên để làm nên
lịch sử của con người.
Vấn đề ở chỗ, như Ph.Ăngghen đã chỉ rõ,
“trong giới tự nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả. Hiện tượng
này tác động đến hiện tượng khác và ngược lại” [4, tr.652]. Chính sự liên hệ,
gắn bó chặt chẽ giữa các yếu tố cấu thành đã quy định tính chất phản ứng dây
chuyền của môi trường tự nhiên khi sự tác động vào một yếu tố nào đó trong
hệ thống vượt quá giới hạn chịu đựng có thể của nó. Tính chất này khiến cho
những vấn đề môi trường ngày càng trở nên phức tạp và nghiêm trọng hơn. Do đó,
xét từ góc độ sinh thái học, dường như cái gọi là những thành tựu của con người
trong việc chinh phục tự nhiên, thực hiện mô hình tăng trưởng truyền thống lại
đang “chống lại” con người và trên thực tế, tự nhiên đã phải “oằn mình” chịu
đựng những tổn thương tích tụ ngày càng lớn do tác động của con người. Đây là
điều mà trước đây Ph.Ăngghen cũng đã từng cảnh báo rằng, chúng ta hoàn toàn
không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc
khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên; rằng, con người không nên quá
tự hào về thắng lợi của mình đối với giới tự nhiên, bởi mỗi kết quả mà con
người coi là một kỳ tích chinh phục tự nhiên, tới một lúc nào đó, có thể gây ra
những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được [Xem: 4, tr.654].
Vì vậy, phát triển kinh tế luôn phải gắn liền
với việc bảo vệ môi trường. Thay vì coi tự nhiên là nguồn của cải vô tận và chỉ
biết khai thác từ đó những gì có lợi cho mình như trước đây, con người ngày nay
đã dần nhận ra rằng, tự nhiên là một thể thống nhất và sức chịu đựng của nó
trước những tác động của con người không phải là vô hạn; rằng, bên cạnh việc sử
dụng, khai thác tự nhiên, con người còn phải bảo vệ tự nhiên và cải thiện chất
lượng môi trường, phải “chung sống hài hòa” và thân thiện với tự nhiên.
Hiện nay, cần chống lại hai khuynh hướng
hoặc là tuyệt đối hóa yêu cầu bảo vệ môi trường đến mức cực đoan, hoặc là chỉ
quan tâm đến tăng trưởng kinh tế mà bất chấp những hiểm họa về mặt môi trường.
Trong điều kiện hiện tại, kết hợp, gắn liền mục tiêu tăng trưởng kinh tế xanh
với bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên nhằm tạo nên sự chung sống hòa
bình, cùng phát triển giữa con người với tự nhiên là phương án hữu hiệu hơn,
thực tế hơn, thể hiện sự khôn khéo, thông minh của con người. Và, hướng đến mục
tiêu đó, phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng xanh là một sự lựa chọn tối ưu
thể hiện quan điểm về mối quan hệ hài hòa, đồng tiến hóa giữa con người và tự
nhiên mà C.Mác đã đặt nền móng.
2. Tăng trưởng xanh và bảo vệ môi trường toàn cầu
Tăng trưởng kinh tế
là yêu cầu khách quan đối với tất cả các nước, nhất là các nước đang phát
triển. Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao, các nước đang phát triển mới rút ngắn,
thu hẹp được khoảng cách so với các nước phát triển, mới nhanh chóng thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu và từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất của xã
hội.
Lý thuyết kinh tế
truyền thống ra đời từ thế kỷ XIX và được phát triển kể từ sau đại suy thoái
những năm 30 của thế kỷ XX để giải quyết các vấn đề kinh tế ở thời kỳ đó. Tăng
trưởng kinh tế truyền thống là cách thức tăng trưởng chủ yếu dựa vào tài nguyên
thiên nhiên, nhiên liệu hóa thạch và những nguồn năng lượng có sẵn trong tự
nhiên. Nền kinh tế với mô hình tăng trưởng gắn liền việc khai thác và sử dụng
các nhiên liệu hóa thạch được coi là nền “kinh tế nâu”. Mô hình tăng trưởng này
thoạt đầu giúp các nước nhanh chóng đạt được những kết quả nhất định trong việc
giải quyết bài toán phát triển, nhưng dần dần nó bắt đầu bộc lộ những khiếm
khuyết lớn và thể hiện sự thiếu bền vững do không tính đến, thậm chí không quan
tâm đến các yếu tố môi trường và xã hội. Hậu quả của quá trình tăng trưởng kinh
tế truyền thống là loài người đã và đang phải đương đầu với hàng loạt các vấn
đề về môi trường hết sức nghiêm trọng và đe dọa trực tiếp sự tồn tại của con
người, như sự hủy hoại tầng ôzôn, thời tiết thay đổi bất thường, mưa axít, mưa
đá, suy giảm đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái, đất đai bị sa mạc hóa,
lũ lụt, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, băng tan, nước biển dâng, thảm
họa động đất, sóng thần, núi lửa, v.v.. Tất cả những hiện tượng đó trên thế
giới là những biểu hiện, bằng chứng của việc tự nhiên đang “trả thù” con người
vì chính những hành động mang tính “tước đoạt”, “bóc lột” của con người đối với
giới tự nhiên mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã từng cảnh báo từ hơn 100 năm
trước.
Nhằm đối phó với thực trạng đó, đồng thời
xuất phát từ những yêu cầu tất yếu khách quan về sự cần thiết phải thay đổi cả
nhận thức lẫn hành động của con người trong mối quan hệ với tự nhiên, trước hết
là trong hoạt động kinh tế, lý thuyết về tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế
xanh đã dần được hình thành trên cơ sở đánh giá lại sự thay đổi của xã hội và
môi trường trên thế giới trong những thập niên gần đây, góp phần sửa chữa những
sai lầm trước đây mà con người mắc phải trong xử lý mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên, cụ thể là khắc phục những hạn chế, bất cập của mô hình tăng trưởng
kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và sử dụng năng lượng
hóa thạch, Chương trình môi trường của
Liên hợp quốc (UNEP) đã đưa ra mô hình kinh tế xanh, tăng trưởng xanh như
là một trong những giải pháp tích cực nhất để phát triển bền vững.
Về mặt khái niệm, thuật ngữ “tăng trưởng
xanh” (Green Growth) được biết đến tại cuộc Hội thảo về phát triển môi trường tổ chức năm 2005 tại Thành phố Seoul, Hàn
Quốc. Đây là một trong những tiếp cận ưu tiên của quá trình
phát triển theo mô hình “kinh tế sinh thái hiện đại”. Thuật ngữ tăng trưởng
xanh được hiểu là con đường, phương thức tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng
tài nguyên thiên nhiên một cách tiết kiệm, hợp lý và bền vững. Khái niệm này hiện
đang được sử dụng một cách phổ biến trên toàn cầu. Tăng trưởng xanh là sự tăng
trưởng dựa trên cơ sở khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn
tài nguyên và năng lượng tái tạo, cũng như dựa trên việc nghiên cứu phát triển
và ứng dụng rộng rãi các công nghệ xanh, sạch và thân thiện với môi trường nhằm
giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiệt hại môi trường [Xem: 7].
Về bản chất, tăng trưởng xanh thể
hiện một hướng tiếp cận mới so với mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống,
không chỉ giúp đạt được những lợi ích kinh tế mà còn hướng tới bảo vệ môi trường
và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu,
góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững. Trong mô hình tăng trưởng kinh tế truyền
thống, bên cạnh những kết quả kinh tế thuần túy là những hậu quả nghiêm trọng
như biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và làm suy giảm đa dạng sinh học, mất
cân bằng sinh thái… thì trong mô hình tăng trưởng xanh cho thấy khả năng đạt được
mục tiêu kép trong phát triển - vừa có tăng trưởng kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu
bảo vệ môi trường. Với ý nghĩa đó, tăng trưởng xanh là con đường, cách thức
phát triển kinh tế để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Về mặt nội dung, tăng trưởng xanh bao gồm các nội dung cơ bản sau: Sản xuất và tiêu dùng bền
vững, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; xanh hóa
các hoạt động sản xuất và kinh doanh bằng cách ưu tiên phát triển và sử dụng
công nghệ xanh, thân thiện với môi trường; phát triển các ngành kinh tế công
nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên, áp dụng công nghệ sản xuất sạch; xây dựng cơ sở
hạ tầng bền vững; cải tổ và áp dụng các công cụ kinh tế, như áp dụng thuế xanh
(thuế môi trường), đầu tư vào vốn tự nhiên (bao gồm các nguồn cung tài nguyên
hoặc dịch vụ có nguồn gốc từ thiên nhiên); xây dựng và thực hiện các chỉ số
sinh thái… Đây được xem là biện pháp cần thiết và hiệu quả để hướng tới thúc đẩy
phát triển kinh tế xanh, có quan hệ chặt chẽ với kinh tế xanh. Kinh tế xanh có
mục tiêu chủ đạo là hướng vào con người (nâng cao chất lượng sống của con người),
hướng vào tự nhiên (bảo vệ môi trường và đa dạng sinh thái) và hướng vào xã hội
(tạo ra những việc làm mới, xóa đói giảm nghèo bền vững…). Như vậy, kinh tế
xanh biểu hiện một thái độ ứng xử đúng đắn hơn, khôn ngoan hơn của con người
trong mối quan hệ với tự nhiên - chung sống hài hòa, thay vì “bóc lột” kiểu
“chiếm đoạt” tự nhiên như trước đây. Kinh tế xanh “hài hòa với môi trường”, tìm
kiếm lợi nhuận một cách thân thiện với môi trường. Với những mục tiêu chủ đạo
đó, kinh tế xanh được Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)
xem là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và sự công bằng xã hội,
vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và khủng hoảng sinh thái.
Về
mặt đặc trưng, tăng
trưởng xanh có một số đặc trưng lớn và cơ bản sau:
Một là, phát triển nền kinh tế ít phát thải cácbon, giảm phát thải nhà kính, tiết kiệm tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là quá trình con người tái cấu trúc (tổ
chức) lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng nhằm tận dụng những lợi thế so sánh vốn có, nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế thông qua việc nghiên cứu,
triển khai và ứng dụng rộng rãi các công nghệ tiên tiến và thân thiện với môi
trường, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, thông qua đó làm giảm phát thải khí nhà kính, khai
thác và sử dụng tiết kiệm, hợp lý tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất
thải hơn, phù hợp hơn với khí hậu và môi trường tự nhiên.
Hai là, giải quyết các vấn đề xã hội, như giảm xung đột môi trường, giảm chênh lệch
giàu nghèo, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm bình đẳng giới. Điều này
thể hiện ở chỗ tăng trưởng xanh làm giảm phát thải cácbon, giảm phát thải nhà
kính, tiết kiệm tài nguyên, sẽ góp phần làm giảm các xung đột
môi trường và các mâu thuẫn trong xã hội nảy sinh từ các hoạt động kinh tế. Từ
đó góp phần làm giảm chênh lệch giàu nghèo, đồng thời thực hiện công bằng xã
hội. Theo đó, trong xã hội không còn tình trạng một số người có đặc quyền sở
hữu những nguồn tài nguyên siêu lợi nhuận, như dầu mỏ, khoáng sản..., và do
vậy, thu hẹp khoảng cách và làm giảm mức độ chênh lệch về thu nhập. Với mô hình
tăng trưởng xanh, tất cả mọi người trong xã hội đều có cơ hội được hưởng những
tài nguyên thiên nhiên mà tạo hóa ban tặng. Nó cũng sẽ tạo ra nhiều việc làm
hơn, nhất là những việc làm hài hòa với thiên nhiên, theo đó, sự công bằng xã
hội, bình đẳng giới... cũng có cơ hội được thực hiện.
Ba
là, tăng trưởng xanh lấy con người làm trung tâm, mọi chủ
trương, chính sách phải xuất phát từ con người nhằm đạt các mục tiêu phát triển
bền vững. Giữa con người và môi trường tự nhiên luôn có mối quan hệ biện
chứng với nhau, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người, “con người
sống dựa vào tự nhiên”. Khác với mô hình tăng trưởng kinh tế truyền thống, tăng
trưởng xanh - như trên đã đề cập - trong khi hướng tới các giá trị kinh tế còn
đồng thời nhắm đến mục đích giữ gìn, bảo tồn và cải thiện chất lượng môi
trường, qua đó bảo vệ môi trường sống - cái nôi của sự tồn tại, phát triển của
con người và xã hội loài người. Vì vậy, như một tất yếu trong nền kinh tế xanh,
mọi chủ trương và chính sách phát triển kinh tế của các chính phủ phải nhằm mục
tiêu phát triển con người, vì môi trường sống trong sạch, lành mạnh của mỗi
người cũng như của toàn cộng đồng.
Như vậy, tăng
trưởng xanh là sự tăng trưởng đạt được bằng cách tiết kiệm và sử dụng hợp lý,
hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn năng lượng để bảo tồn
tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu biến đổi khí hậu, tạo ra các động lực tăng
trưởng mới thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh, tạo các cơ hội
việc làm mới, bảo đảm công bằng cũng như đạt được sự hài hòa giữa phát triển
kinh tế với cân bằng sinh thái [Xem: 1, tr.1].
Có thể khẳng định rằng, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững là xu thế tất yếu của thời
đại. Trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với những thách
thức - sự gia tăng dân số nhanh và áp lực môi trường ngày càng lớn, phương châm
“phát triển trước, xử lý hậu quả sau” không còn phù hợp nữa, nếu nó không được
thay đổi thì hậu quả sẽ không thể lường hết, thậm chí cái được cho là “phát
triển” sẽ trở thành “phản phát triển”. Các quốc gia cần có sự lựa chọn chiến
lược phát triển thông minh hơn và tăng trưởng xanh được xem là chiến lược phát
triển hữu hiệu và phù hợp hơn cả - thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng
trưởng bền vững, đồng thời bảo đảm môi trường để duy trì bền vững các nguồn lực
cần thiết cho phát triển cũng như môi trường sống có chất lượng.
Hiện nay, nhiều nước công nghiệp phát
triển trên thế giới, như Mỹ, Đức, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc... đang đi đầu trong
việc phát triển kinh tế xanh; họ đã dành những khoản kinh phí khổng lồ tới hàng
trăm tỷ USD cho chính sách tăng trưởng xanh, coi đó là sự đầu tư tốt nhất đối
với phát triển bền vững của quốc gia, vừa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định,
vừa góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và tạo việc làm. Bên
cạnh đó, nhiều sáng kiến đã được các tổ chức của Liên hợp quốc đề xuất và thúc
đẩy thực hiện nhằm hướng tới tăng trưởng kinh tế xanh, chẳng hạn sáng kiến về
phát triển nền nông nghiệp thông minh với khí hậu của Tổ chức Lương thực và
Nông nghiệp thuộc Liên hợp quốc (FAO), đầu tư công nghệ sạch của Ngân hàng Thế
giới (WB), việc làm xanh của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), kinh tế xanh của
UNEP, giáo dục vì sự phát triển bền vững của Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn
hóa của Liên hợp quốc (UNESCO)… đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp theo hướng
ngày càng thân thiện với môi trường.
Châu Á - Thái Bình Dương,
nơi được đánh giá tiếp tục là khu vực kinh tế năng động của thế giới cũng đã có
những động thái tích cực trong việc hiện thực hóa mô hình tăng trưởng xanh. Đặc biệt, năm 2012, Hàn
Quốc đã thành lập Viện Nghiên cứu tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI - Global
Green Growth Institue) với mục tiêu phổ biến mô hình tăng trưởng xanh như một
cách thức tăng trưởng mới và hỗ trợ các nước đang phát triển xây dựng chiến
lược tăng trưởng xanh phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước [Xem: 4]. Ngay
từ năm 2008, Hàn Quốc đã dành 80% của gói kích cầu kinh tế khoảng 38,1 tỷ USD
để tiến hành chuyển đổi từ nền kinh tế nâu sang nền kinh tế xanh. Chiến lược
quốc gia của Hàn Quốc về “tăng trưởng xanh, cácbon thấp” đã xác định tỷ lệ năng
lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng là 2,7% (năm 2009), 3,78% (năm 2013)
và dự kiến 6,08% (năm 2020); đồng thời đề ra mục tiêu trung hạn giảm phát thải
khí nhà kính dự kiến xuống còn 30% vào trước năm 2020. Một số nước trong khu
vực, như Trung Quốc, Lào và Campuchia cũng đang nỗ lực xây dựng những kế hoạch
hành động chi tiết với những biện pháp, bước đi cụ thể sau khi ban hành lộ
trình tăng trưởng xanh của quốc gia. Tại Hội nghị Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu
Á - Thái Bình Dương (APEC) diễn ra đầu tháng 11 năm 2011, các nhà lãnh đạo APEC
đã quyết định hướng tới nền kinh tế xanh, cácbon thấp, nâng cao an ninh năng
lượng tích cực tạo nguồn mới cho tăng trưởng kinh tế và việc làm. Để thúc đẩy
các mục tiêu tăng trưởng xanh, các nước APEC sẽ thực hiện các biện pháp cắt
giảm 45% cường độ sử dụng năng lượng của APEC vào năm 2035 so với năm 2005, kết
hợp các chiến lược phát triển về thải cácbon thấp vào các kế hoạch tăng trưởng
kinh tế... [Xem: 6].
Đối với các nước đang
phát triển, thực hiện mô hình tăng trưởng xanh trong bối cảnh hiện nay có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng, đó là bước đi tắt, đón đầu nhằm tạo ra sự nhảy vọt
trong tiến trình phát triển kinh tế của đất nước mà không phải tuần tự đi theo
con đường phát triển kinh tế nâu - nền kinh tế vốn chứa đựng những hạn chế về
mặt bảo vệ môi trường tự nhiên mà các nước phát triển đã phải trải qua trước
đây. Do
đó, cải cách cơ cấu, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tăng trưởng kinh tế
xanh và cải tổ quản lý môi trường được xem là hai nhân tố căn bản, có tính đột
phá để đảm bảo tiến trình phát triển bền vững của mỗi nước nói riêng và trên
phạm vi toàn cầu nói chung.
Từ sự phân tích ở trên, có thể thấy, tư
tưởng của C.Mác về mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên có một ý nghĩa sâu
sắc và giá trị to lớn không chỉ về mặt lý luận, mà còn về mặt thực tiễn. Môi
trường tự nhiên là ngôi nhà chung mà tất cả các quốc gia dù phát triển hay đang
phát triển cũng như tất cả mọi người, không phân biệt màu da, sang hèn, giàu
nghèo,... đều có lợi ích của mình ở đó. Thực hiện tăng trưởng xanh, góp phần
bảo vệ môi trường nhằm phát triển triển xã hội một cách bền vững trên cơ sở
quan hệ chung sống hài hòa, đồng
tiến hóa giữa con người và tự nhiên - như C.Mác đã từng chỉ ra, là mục tiêu
chung mà thế giới đương đại đang hướng đến.
Tài liệu tham khảo
[1] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Trung tâm Nghiên cứu phát triển bền vững, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tạp chí Kinh
tế và Dự báo (2017), Tăng trưởng xanh,
phát triển bền vững: Thời cơ và thách thức đối với Việt Nam và cộng đồng doanh
nghiệp (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb Tài chính, Hà Nội.
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd., t.47.
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd., t.20.
[5] https://baomoi.com/tang-truong-xanh-phat-trien-ben-vung-la-xu-the-tat-yeu-cua-thoi-dai/c/23869789.epi.
[6] Nguyệt Minh, Thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh nhằm xanh hóa nền kinh tế toàn cầu,
http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=
Th% C3%BAc%C4%91%E1%BA%A9y-m%C3%B4h%C3%ACnht%C4%83ngtr%C6%B0%E1%BB%9Fngxanhnh%E1%BA%B1mxanhh%C3%B3an%E1%BB%81nkinht%E1%BA%BF-to%C3%A0nc%E1%BA%A7u46298
[7] http://www.tinmoitruong.vn/hoi-va-dap/tang-truong-xanh-la-gi_70_36056_1.html.
Tác giả: TS. Nguyễn Đình Hòa - Viện Triết học