image banner
            VI | EN
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG KỶ NGUYÊN SỐ HIỆN NAY
Lượt xem: 7

Tóm tắt: Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định, là nền tảng, cơ sở của nền sản xuất ấy. Bước vào kỷ nguyên số, lực lượng sản xuất đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ mô hình sản xuất truyền thống sang sản xuất dựa trên tri thức, công nghệ cao và dữ liệu số. Đây là thời kỳ sẽ tạo ra những cơ hội và thách thức không nhỏ đối với sự phát triển lực lượng sản xuất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích sự biến đổi của các yếu tố trong lực lượng sản xuất, bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất; nhận diện những thời cơ và thách thức đối với lực lượng sản xuất. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra nhận định, cho rằng để phát triển lực lượng sản xuất bền vững trong kỷ nguyên số cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn, như: (1) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; (2) Phát triển hạ tầng số và ứng dụng công nghệ số vào sản xuất; (3) Xây dựng thể chế, chính sách phù hợp để phát triển lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số.

Từ khóa: Lực lượng sản xuất, người lao động, tư liệu sản xuất, kỷ nguyên số.

Abstract: In the mode of production, productive forces play a decisive role, acting as the foundation and basis of production. Entering the digital era, the productive forces are undergoing a robust transformation from traditional production models to knowledgebased, high-tech, and data-driven forms of production. This period will create significant opportunities and challenges for the development of productive forces. Within the scope of this article, the author focuses on analyzing the transformation of elements within productive forces, including laborers and means of production, and identifying the opportunities and challenges for productive forces. On that basis, the author posits that in order to sustainably develop productive forces in the digital era, stronger solutions are needed, such as: (1) Developing high-quality human resources; (2) Developing digital infrastructure and applying digital technology in production; (3) Building suitable institutions and policies to develop productive forces in the digital era.

Keywords: Productive forces, laborers, means of production, digital era. 


        1. Mở đầu

Theo Tổng Bí thư Tô Lâm, “chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới” (Tô Lâm, 2024). Trong bối cảnh đó, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn... đang trở thành những tư liệu sản xuất mới, làm thay đổi sâu sắc vai trò của con người và phương thức lao động. Kỷ nguyên số đã mở ra những cơ hội lớn để phát triển trình độ của lực lượng sản xuất, nhằm nâng cao năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và hội nhập toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, quá trình chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và sự lạc hậu của hạ tầng kỹ thuật số sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động của nền sản xuất. Trong kỷ nguyên số, “đặc trưng của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng; đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số” (Tô Lâm, 2024). Ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ vào phát triển lực lượng sản xuất, nhằm nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các quốc gia. Việc tận dụng tốt các cơ hội, đồng thời chủ động vượt qua thách thức để xây dựng một lực lượng sản xuất hiện đại, thông minh và bền vững, làm nền tảng cho sự phát triển của các quốc gia trong giai đoạn mới.

2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Về cách tiếp cận.

Bài viết dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội; trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất và giữ vai trò quyết định sự phát triển của lịch sử, đánh giá vai trò hạt nhân của người lao động cũng như tính tất yếu trong sự biến đổi của công cụ lao động (tư liệu sản xuất). Bên cạnh đó, cách tiếp cận thực tiễn gắn với bối cảnh chuyển đổi số đã được sử dụng khi đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh thực tiễn của kỷ nguyên số, nơi các công nghệ mới như AI, IoT, Big Data đang định hình lại phương thức sản xuất. Đồng thời, bài viết đã bám sát các quan điểm, chủ trương của Đảng về việc lấy chuyển đổi số làm động lực phát triển lực lượng sản xuất.

Về phương pháp nghiên cứu.

Bài viết đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất như một quá trình thay đổi mang tính quy luật từ mô hình sản xuất truyền thống sang sản xuất dựa trên tri thức và dữ liệu số. Đồng thời, để đạt được hiệu quả nghiên cứu, bài viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, thu thập và phân tích tài liệu…

3. Lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất, là sự thống nhất giữa người lao động với tư liệu sản xuất tạo thành sức sản xuất của xã hội. Lực lượng sản xuất còn được biểu hiện là trình độ chinh phục, cải biến tự nhiên của con người (Xem: Nguyễn Trọng Chuẩn, 2024). Nghĩa là, trong quá trình sản xuất xã hội, con người chinh phục giới tự nhiên bằng tổng hợp sức mạnh của mình, bắt tự nhiên bộc lộ những thuộc tính của nó để con người có thể nhận thức và biến đổi nó nhằm đáp ứng nhu cầu của mình. Cùng với quá trình đó, con người không ngừng hoàn thiện kỹ năng lao động của mình và sáng tạo ra nhiều tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động. C.Mác đã dự báo về sự thay đổi của lực lượng sản xuất cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội của loài người. Ông viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào. Các tư liệu lao động không những là cái thước đo sự phát triển của sức lao động của con người, mà còn là một chỉ tiêu của những quan hệ xã hội trong đó lao động được tiến hành” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1993, tập 23: 338).

Đúng như nhận định của C.Mác, lực lượng sản xuất luôn là yếu tố năng động nhất trong nền sản xuất xã hội và là nhân tố quyết định sự phát triển của lịch sử. Ngày nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ và đặc biệt là sự bùng nổ của kỷ nguyên số, mỗi bước tiến công nghệ đều kéo theo sự thay đổi sâu sắc và căn bản trong cấu trúc của lực lượng sản xuất. Những thay đổi này không chỉ làm biến đổi cách thức sản xuất, mà còn định hình lại toàn bộ nền tảng của đời sống kinh tế - xã hội. Những thay đổi này không chỉ là sự kế thừa của các giai đoạn trước, mà còn mang tính đột phá, định hình một nền sản xuất hoàn toàn mới.

3.1. Sự thay đổi của người lao động trong kỷ nguyên số

Ngay từ thế kỷ XIX, C.Mác đã chỉ ra: “Bồi dưỡng tất cả những phẩm chất của con người mang tính xã hội và sự sản xuất ra con người, với tư cách là con người, có những phẩm chất và những mối liên hệ, do đó, có những nhu cầu hết sức phong phú, sự sản xuất ra con người với tư cách là sản phẩm mang tính chất chính thể nhất và vạn năng nhất của xã hội (bởi vì muốn sử dụng được nhiều vật dụng, con người phải có năng lực sử dụng chúng nghĩa là con người phải trở thành con người hết sức có văn hóa), đó cũng là những điều kiện của một nền sản xuất dựa trên tư bản” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1998, tập 46, phần 1: 627628). Điều đó cho thấy, con người luôn là vấn đề trung tâm và là động lực cơ bản nhất cho sự phát triển xã hội. Tiếp đến, V.I.Lênin cũng nhấn mạnh: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là người công nhân, người lao động” (V.I.Lênin, 1977, tập 38: 430). Kế thừa và phát triển quan điểm đó, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã khẳng định: “xét cho đến cùng thì trong lực lượng sản xuất của xã hội thì nguồn lực con người là quan trọng nhất” (Nguyễn Phú Trọng, 2022: 52). Như vậy, người lao động đóng vai trò quyết định đến mọi sự thay đổi của lực lượng sản xuất và cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh, kỹ năng lao động của con người ngày càng được tăng thêm, đặc biệt trí tuệ của con người không ngừng được phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao.

Để xây dựng một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, cần phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong đó, động lực quan trọng nhất cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là con người, là nguồn nhân lực chất lượng cao. Các nguồn lực khác dù “phong phú, đa dạng đến bao nhiêu mà không có con người tác động để khai thác, sử dụng thì mãi vẫn ở dạng tiềm ẩn, nằm im trong miền sâu thẳm” (Nguyễn Thị Quyết, 2025: 29); “nguồn lực con người với óc sáng tạo, nhạy bén và tri thức cao mới thực sự là quan trong nhất” (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2024). Trong kỷ nguyên số, tri thức khoa học đã được tích hợp và kết tinh trong hoạt động lao động trực tiếp của người lao động. Tri thức khoa học dần thay thế cho thói quen và kinh nghiệm thông thường. Chức năng của con người trong quá trình sản xuất đã có những biến đổi to lớn, con người không còn thực hiện các thao tác trực tiếp mà chủ yếu là sáng tạo và điều khiển các quy trình sản xuất. Do đó, nếu khoa học công nghệ là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động, thì người lao động là hạt nhân của khoa học công nghệ đó. V.I.Lênin đã khẳng định: “Trong khi vật chất có thể bị phá hủy hoàn toàn thì các kỹ năng của con người như công nghệ, bí quyết tổ chức và nghị lực làm việc sẽ còn mãi” (V.I.Lênin, 1977, tập 38: 30).

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, các ngành nghề gắn liền với công nghệ thông tin, kỹ thuật số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển và trở nên phổ biến. Quá trình đó đòi hỏi trình độ của người lao động cũng phải thay đổi để thích ứng. Người lao động hiện đại không chỉ cần có trình độ chuyên môn mà còn phải chủ động cập nhật và sử dụng thành thạo các công cụ kỹ thuật số như phần mềm quản lý công việc, nền tảng giao tiếp trực tuyến, lưu trữ đám mây và trí tuệ nhân tạo. Sự linh hoạt trong tiếp cận công nghệ trở thành yếu tố quan trọng để duy trì năng suất và hiệu quả làm việc. Để trở thành nhân tố tích cực nhất trong việc thúc đẩy chuyển đổi số, người lao động cần phải có tư duy linh hoạt và sáng tạo, có khả năng thích ứng trong môi trường làm việc đầy biến động, có kỹ năng giải quyết vấn đề đáp ứng yêu cầu không ngừng thay đổi của thị trường và công nghệ. Đồng thời, người lao động cần có các kỹ năng mềm, như: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời gian, tư duy phản biện và khả năng thích nghi. Đây được xem là những yếu tố không thể thiếu trong môi trường làm việc số; nền tảng để phối hợp hiệu quả giữa con người với con người, ngay cả khi làm việc trong môi trường số hóa. Nhìn chung, thị trường lao động hiện đại đang dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng số hóa, linh hoạt và toàn cầu hóa. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho người lao động, đặc biệt là thế hệ trẻ, phải chủ động cập nhật kiến thức công nghệ, rèn luyện kỹ năng số, tư duy sáng tạo và khả năng thích nghi cao. Chỉ khi nắm bắt được xu hướng này, người lao động mới có thể tận dụng được cơ hội mà nền kinh tế số mang lại và khẳng định vị thế trong thị trường việc làm đầy biến động hiện nay.

3.2. Sự biến đổi của tư liệu sản xuất trong kỷ nguyên số

Trong suốt chiều dài lịch sử, sự phát triển của lực lượng sản xuất luôn gắn liền với sự thay đổi của tư liệu sản xuất. Sự phát triển của khoa học, công nghệ đã làm cho công cụ lao động không chỉ được cải tiến ngày càng tinh xảo hơn, từ công cụ lao động thủ công đến công cụ cơ khí hóa, tự động hóa. Trong kỷ nguyên số, khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất. Trong nền sản xuất hiện đại, máy móc, kỹ thuật và công nghệ sẽ dần thay thế cho lao động cơ bắp, lao động trực tiếp sẽ trở thành lao động thứ yếu so với lao động khoa học, sản phẩm làm ra ít phụ thuộc vào thời gian lao động, số lượng lao động, mà phụ thuộc nhiều vào trình độ của khoa học và sự tiến bộ của kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất. Hiện nay, những thành quả về công nghệ số, công nghệ đám mây, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật và dữ liệu lớn… đã biến thành tư liệu sản xuất và tài nguyên. Trong nền kinh tế số, dữ liệu được ví như “dầu mỏ mới” của thế kỷ XXI. Đây là nguyên liệu đầu vào quan trọng cho các hệ thống trí tuệ nhân tạo, là cơ sở để ra quyết định, phân tích thị trường và tối ưu hóa quá trình sản xuất. Khác với nguyên vật liệu truyền thống, dữ liệu có thể được tái sử dụng, sao chép và phân tích để tạo ra giá trị không giới hạn. Theo Thomas M.Siebel, “điều khác biệt nữa về dữ liệu lớn, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số hiện tại là việc giờ đây chúng ta có thể lưu trữ và phân tích toàn bộ dữ liệu mà chúng ta tạo ra - cho dù nó đến từ nguồn nào, có định dạng gì, tần suất thế nào, có cấu trúc hay phi cấu trúc. Nhờ vào năng lực lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn, các tập dữ liệu riêng biệt có thể được ghép nối với nhau thành những tập hợp dữ liệu với kích thước rất lớn dùng cho một số thuật toán AI vô cùng phức tạp” (Thomas M.Siebel, 2019: 103).

Nếu như trong các thời kỳ trước, tư liệu sản xuất chủ yếu mang tính vật chất như công cụ lao động, máy móc cơ khí, nhà xưởng, đất đai hay nguyên vật liệu vật lý, thì bước sang kỷ nguyên số - thời đại của công nghệ thông tin và truyền thông phát triển vượt bậc - tư liệu sản xuất đã có sự biến đổi sâu sắc cả về bản chất lẫn hình thức biểu hiện. Công nghệ số không chỉ đơn thuần là sự ứng dụng các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing) hay chuỗi khối (Blockchain), mà đã trở thành nguồn tài sản số được pháp luật quy định. Điều 46 của Luật Công nghiệp công nghệ số đã nêu rõ: “Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử”. Hơn nữa, kỷ nguyên số là quá trình chuyển đổi toàn diện từ mô hình hoạt động truyền thống sang môi trường số hóa, nơi mà các phương thức quản lý, điều hành và vận hành công việc được tái thiết lập trên nền tảng công nghệ. Trong kỷ nguyên số, xu hướng này không phải là một phương án lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan. Công nghệ số đang định hình lại cách con người tương tác với thế giới xung quanh - từ cách chúng ta giao tiếp, học tập, làm việc cho đến cách chúng ta tiêu dùng và giải trí. Nó mở ra những cơ hội to lớn để nâng cao năng suất lao động, mở rộng thị trường và cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, để không bị tụt lại phía sau trong dòng chảy chuyển đổi này, các cá nhân và tổ chức cần chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng số phù hợp. Việc hiểu và sử dụng hiệu quả công nghệ số chính là chìa khóa giúp mỗi người, mỗi doanh nghiệp phát triển bền vững trong một thế giới đang biến đổi nhanh chóng - nơi mà khả năng thích ứng trở thành năng lực sống còn, và không ai bị bỏ lại phía sau.

4. Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số

Kỷ nguyên số là giai đoạn mà mọi thông tin đều được số hóa; trong đó, các công nghệ số như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), blockchain, dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây và các nền tảng số đang góp phần định hình một dạng thức mới của lực lượng sản xuất  (Xem: Trần Thọ Đạt, 2025: 53). Công nghệ số đã trở thành nền tảng cho hầu hết các hoạt động của con người và tổ chức. Kỷ nguyên số vừa mở ra những cơ hội lớn, vừa đặt ra không ít thách thức đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Thứ nhất, những cơ hội đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số.

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), tự động hóa, robot... đã giúp cho lực lượng sản xuất ngày càng có điều kiện tiếp cận với các công nghệ hiện đại để tạo ra giá trị cao hơn trong thời gian ngắn hơn. Theo Tổ chức World Manufacturing Foundation, chuyển đổi số sẽ có tác động sâu rộng đến các ngành công nghiệp - không chỉ đơn thuần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và việc làm, mà còn tạo ra nhiều lợi ích về môi trường. Cụ thể là, thị trường chuyển đổi số trong sản xuất ước tính đạt 1,38 nghìn tỷ USD năm 2024 và dự kiến lên 3,62 nghìn tỷ USD vào năm 2029 (Xem: World Manufacturing Foundation, 2024: 36); Digital twins có thể mở khóa giá trị kinh tế lên đến 1,3 nghìn tỷ USD (Xem: World Manufacturing Foundation 2024: 39), tiết kiệm chi phí nguyên liệu thô lên đến 131 tỷ USD, giảm chi phí phát triển sản phẩm 6 tỷ USD và giảm phát thải CO2 khoảng 281 triệu tấn (Xem: World Manufacturing Foundation 2024: 39). Ở một nghiên cứu khác, Thomas M.Siebel cho rằng chuyển đổi số vừa là cơ hội lớn nhất để các tổ chức đổi mới và nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa là một trong những thách thức lớn nhất mà các tổ chức phải đối mặt trong bối cảnh phát triển hiện nay. Việc không thích nghi kịp thời có thể dẫn đến sự tụt hậu hoặc thậm chí là biến mất khỏi thị trường. Sự chuyển đổi này không chỉ giới hạn trong khía cạnh kỹ thuật, mà còn tác động sâu rộng đến văn hóa tổ chức, tư duy lãnh đạo và thói quen làm việc. Một doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số không chỉ là doanh nghiệp biết dùng phần mềm hay hệ thống số hóa, mà còn là một tổ chức có khả năng thích nghi nhanh, ra quyết định dựa trên dữ liệu và luôn hướng tới đổi mới sáng tạo. Do đó, chuyển đổi số là tất yếu, bởi “chuyển đổi số có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp ở mọi quy mô, đặc biệt doanh nghiệp có nguy cơ bị xóa sổ nếu không chịu chuyển đổi số” (Thomas M.Siebel, 2019: 38).

Ở nước ta, tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh: “Chúng ta phải coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ chốt. Đây chính là “chìa khóa vàng”, là yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu, đồng thời hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc ta” (Dẫn theo: Báo Điện tử Chính phủ, 2025). Điều này chứng tỏ, chuyển đổi số đã mang lại cơ hội to lớn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Một là, cơ hội đối với người lao động.

Trong kỷ nguyên số, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số và nền kinh tế tri thức, đòi hỏi người lao động không chỉ cần có trình độ chuyên môn cao mà còn phải có nhiều kỹ năng mềm. Đồng thời, việc  ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ vào quá trình sản xuất đã tạo động lực quan trọng thúc đẩy người lao động không ngừng học tập, nâng cao trình độ để có thể chiếm lĩnh và làm chủ được các công nghệ, thiết bị hiện đại. Kỷ nguyên số đang mang đến những thay đổi sâu rộng cho thị trường lao động toàn cầu. Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa, người lao động ngày nay đang đứng trước nhiều cơ hội mới để phát triển toàn diện cả về năng lực, kỹ năng và con đường nghề nghiệp. Trong đó, người lao động có cơ hội tiếp cận tri thức và nâng cao trình độ chuyên môn dễ dàng hơn bao giờ hết. Nhờ vào internet và các nền tảng học trực tuyến, mỗi cá nhân có thể tự học và phát triển kỹ năng ở bất kỳ đâu và bất kỳ thời điểm nào. Các khóa học từ cơ bản đến nâng cao trong nhiều lĩnh vực như công nghệ, quản lý, marketing, tài chính… được cung cấp bởi các trường đại học và tổ chức quốc tế uy tín, giúp người lao động không ngừng nâng cao trình độ mà không cần rời khỏi công việc hiện tại. Đồng thời, người lao động có cơ hội phát triển kỹ năng số và kỹ năng mềm thiết yếu trong thời đại mới.

Bên cạnh kiến thức chuyên môn, các kỹ năng như tư duy phản biện, giao tiếp hiệu quả, khả năng làm việc nhóm từ xa, thích nghi nhanh với công nghệ mới… ngày càng trở nên quan trọng. Việc rèn luyện và sở hữu những kỹ năng này giúp người lao động trở nên linh hoạt, dễ dàng chuyển đổi công việc hoặc thích nghi với nhiều môi trường làm việc khác nhau. Sự thay đổi về chất lượng và trình độ của người lao động trong nền kinh tế số cũng đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh cơ cấu tiền lương và chính sách đãi ngộ cho phù hợp, tạo động lực thúc đẩy năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Kỷ nguyên số giúp lực lượng sản xuất kết nối dễ dàng với các chuỗi giá trị toàn cầu thông qua nền tảng số. Điều này không chỉ mở rộng thị trường tiêu thụ mà còn giúp các doanh nghiệp và người lao động học hỏi, tiếp thu tri thức và kỹ năng từ những nền kinh tế phát triển.

Hai là, cơ hội đối với tư liệu sản xuất.

 Trong kỷ nguyên số, việc số hóa và tự động hóa thiết bị sản xuất nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin, Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI), máy móc và dây chuyền sản xuất truyền thống đã được tích hợp với cảm biến, phần mềm điều khiển, điều này không chỉ nâng cao năng suất mà còn giúp tiết kiệm chi phí vận hành và bảo trì. Các nhà máy thông minh (smart factory) đang dần trở thành hiện thực, nơi mà thiết bị tự giao tiếp, tự điều chỉnh và phối hợp với nhau một cách linh hoạt và tối ưu.

Bên cạnh đó, tư liệu sản xuất không còn giới hạn ở máy móc hay nhà xưởng, mà mở rộng sang các yếu tố phi vật chất như phần mềm, dữ liệu và nền tảng kỹ thuật số. Đây là những công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, tối ưu hóa quy trình và gia tăng khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, theo Thomas M.Siebel, chuyển đổi số không chỉ đơn thuần là số hóa các quy trình hiện tại mà là một cuộc cách mạng toàn diện trong cách thức cạnh tranh và hoạt động của doanh nghiệp. Ông cảnh báo rằng, việc chỉ đầu tư vào công nghệ mà không thay đổi mô hình kinh doanh cốt lõi sẽ không đem lại hiệu quả thực sự (Xem: Thomas M.Siebel, 2019: 209226). Thông tin, dữ liệu lớn (Big Data), hành vi người dùng, dữ liệu thị trường… trở thành đối tượng lao động chính của các nhà phân tích dữ liệu, lập trình viên, kỹ sư trí tuệ nhân tạo. Thay vì làm việc với các vật liệu cụ thể, con người trong kỷ nguyên số tương tác, xử lý, phân tích và tạo ra giá trị từ thông tin – một loại tài nguyên vô hình nhưng vô cùng quý giá.

Thứ hai, những thách thức đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số.

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang làm thay đổi căn bản cấu trúc của nền kinh tế, đặc biệt là lực lượng sản xuất - yếu tố then chốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội lớn, kỷ nguyên số cũng đặt ra nhiều thách thức phức tạp đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, cả về phương diện người lao động lẫn tư liệu sản xuất. Điều này tác động trực tiếp đến sự tồn vong của các doanh nghiệp trong nền kinh tế số. Theo Thomas M.Siebel, “doanh nghiệp có thể phải trả một cái giá rất đắt nếu bỏ qua ngã rẽ chiến lược dẫn đến hành trình chuyển đổi. Nơi chôn cất của doanh nghiệp đầy rẫy những công ty một thời đình đám nhưng thất bại trong việc thay đổi...” (Thomas M.Siebel, 2019: 209).

Một là, những thách thức đối với người lao động trong kỷ nguyên số.

 Một trong những thách thức lớn hiện nay là vấn đề trình độ và kỹ năng của người lao động, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong khi khoa học - công nghệ phát triển với tốc độ rất nhanh, nhiều người lao động hiện nay vẫn còn hạn chế về trình độ, kỹ năng số, khả năng sử dụng công nghệ và tư duy đổi mới. Sự chênh lệch lớn giữa yêu cầu của nền sản xuất hiện đại và năng lực thực tế của người lao động đã tạo ra khoảng cách kỹ năng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và năng suất lao động.

Xu thế sản xuất hiện đại trong kỷ nguyên số với quy mô lớn và tính phức tạp ngày càng tăng đòi hỏi người lao động phải có những phẩm chất mới như: tính linh hoạt, phản ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ, thị trường, có sức khỏe tốt, có khả năng chịu được áp lực của cường độ làm việc cao. Đặc biệt, người lao động cần phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn để có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động. Trong bối cảnh cạnh tranh về lao động trình độ cao ngày càng gay gắt; đội ngũ chuyên gia, kỹ sư có trình độ cao của các nước nhỏ đang phải cạnh tranh với đội ngũ kỹ sư có trình độ chuyên môn được tiếp xúc với công nghệ tiên tiến, hiện đại của các nước phát triển. Điều này đòi hỏi các nước nhỏ phải không ngừng nâng cao trình độ và chất lượng nguồn nhân lực.

Hai là, những thách thức đối với tư liệu sản xuất.

Trong kỷ nguyên số, một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất đó chính là vấn đề hạ tầng công nghệ và công nghệ sản xuất hiện đại. Sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện nay gắn liền với việc ứng dụng công nghệ mới như IoT, AI, blockchain, in 3D, sản xuất thông minh… Tuy nhiên, không phải quốc gia hay doanh nghiệp nào cũng có điều kiện để tiếp cận, đầu tư và triển khai các công nghệ này một cách hiệu quả. Ở nhiều nơi, hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, công nghệ lỗi thời, thiết bị sản xuất lạc hậu, dẫn đến năng suất thấp và không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Điều này khiến lực lượng sản xuất không thể phát huy hết tiềm năng trong thời đại mới. Trong kỷ nguyên số, mọi lĩnh vực sản xuất đều phải đối mặt với yêu cầu đổi mới liên tục và áp lực cạnh tranh gay gắt trên toàn cầu. Công nghệ thay đổi nhanh chóng đồng nghĩa với việc các công cụ, phương pháp và quy trình sản xuất cũng phải liên tục cập nhật.

5. Giải pháp phát triển lực lượng sản xuất số trong kỷ nguyên số

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, lực lượng sản xuất của các quốc gia và khu vực đang chịu sự tác động sâu sắc bởi công nghệ số. Vì vậy, để thích ứng và phát triển một cách bền vững trong kỷ nguyên số, việc phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế không chỉ đòi hỏi sự đầu tư về công nghệ mà còn cần một chiến lược toàn diện, dài hạn và phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng quốc gia.

Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Để phát triển nguồn nhân lực có khả năng thích ứng với những biến đổi của lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số, cần chú trọng vào việc hình thành đội ngũ lao động có trình độ cao, am hiểu công nghệ và có khả năng thích ứng nhanh với các mô hình sản xuất hiện đại. Trước hết, cần xây dựng hệ thống giáo dục – đào tạo gắn liền với yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó lấy kỹ năng số, tư duy đổi mới sáng tạo và khả năng làm việc nhóm là trục chính. Là hạt nhân của lực lượng sản xuất hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ đòi hỏi nền tảng kiến thức chuyên môn vững chắc, mà còn phải có năng lực thích ứng, làm chủ và đổi mới công nghệ, qua đó trở thành động lực then chốt nhằm nâng cao năng suất và tạo ra giá trị gia tăng đột phá cho nền sản xuất.

Bên cạnh đào tạo, cần đầu tư vào môi trường làm việc hiện đại, khuyến khích nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới trong doanh nghiệp, nơi người lao động có cơ hội tham gia trực tiếp vào các chuỗi giá trị mới dựa trên dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đánh giá, đãi ngộ và thăng tiến dựa trên năng lực thực tế, tạo động lực cho người lao động không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý. Khi nguồn nhân lực hội tụ đủ năng lực chuyên môn, kỹ năng số và tư duy đổi mới, họ sẽ trở thành “đầu tàu” của lực lượng sản xuất mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh toàn cầu.

Thứ hai, phát triển hạ tầng số và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào sản xuất.

Trong môi trường sản xuất hiện đại, các hoạt động quản lý, thiết kế, vận hành dây chuyền, giám sát chất lượng và logistics đều phụ thuộc chặt chẽ vào các giải pháp số. Nếu không có hạ tầng số mạnh mẽ và đồng bộ, quá trình chuyển đổi số trong sản xuất sẽ bị gián đoạn, không hiệu quả hoặc không thể triển khai ở quy mô lớn. Trong thời đại số, hạ tầng số không chỉ là phương tiện kỹ thuật mà đã trở thành “mạch máu” của lực lượng sản xuất hiện đại. Việc đầu tư phát triển đồng bộ, toàn diện và bền vững hạ tầng số là điều kiện tiên quyết để các quốc gia, khu vực và doanh nghiệp vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Đây là một chiến lược lâu dài, đòi hỏi tầm nhìn rộng, sự quyết tâm và sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, kiến tạo và dẫn dắt trong quá trình phát triển hạ tầng số. Hoạch định chiến lược quốc gia về chuyển đổi số, trong đó hạ tầng số là trụ cột trọng tâm. Đầu tư công vào phát triển hạ tầng viễn thông, đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa, để đảm bảo tính toàn diện và công bằng trong tiếp cận công nghệ. Khuyến khích khu vực tư nhân và doanh nghiệp khởi nghiệp đầu tư vào hạ tầng số, thông qua các chính sách ưu đãi thuế, tín dụng và hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Xây dựng hệ thống pháp lý và chuẩn hóa kỹ thuật cho việc vận hành, tích hợp và bảo vệ hạ tầng số, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế để tiếp thu công nghệ tiên tiến và mô hình quản lý hiệu quả.

Thứ ba, xây dựng thể chế và chính sách phù hợp để phát triển lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên số.

Xây dựng thể chế và chính sách phù hợp với nền kinh tế số không chỉ là điều kiện để thích ứng với kỷ nguyên số, mà còn là đòn bẩy quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất một cách chủ động, sáng tạo và bền vững. Đây là nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội trong hành trình chuyển đổi số quốc gia. Quá trình này cần bám sát định hướng không ngừng hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật gắn liền với việc kiên định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, trọng tâm cốt lõi là phải đổi mới tư duy, khẩn trương xây dựng hành lang pháp lý cho nền kinh tế số để tạo tiền đề cho nước ta tận dụng triệt để những cơ hội to lớn mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại.

Theo đó, “chuyển đổi số thì cần thể chế số. Thể chế cho chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Thể chế số thì cần vừa theo kịp vừa kiến tạo phát triển. Cách mạng chuyển đổi số thì chủ yếu là cách mạng về thể chế” (Nguyễn Mạnh Hùng, 2024); do đó, cần phải hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số, chuyển đổi số và dữ liệu mở. Một khung pháp lý minh bạch, cập nhật sẽ tạo nền tảng pháp lý vững chắc để các cá nhân và doanh nghiệp yên tâm đầu tư, sáng tạo và phát triển. Đồng thời, bảo đảm an ninh mạng, bảo mật thông tin và quyền riêng tư trở thành yêu cầu sống còn. Sự gia tăng của các cuộc tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu cá nhân và lạm dụng thông tin nếu không được kiểm soát sẽ làm suy giảm niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào môi trường số. Do đó, cần xây dựng các chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân chặt chẽ, đầu tư vào hạ tầng an ninh mạng, cũng như nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho toàn xã hội.

       6. Kết luận

Kỷ nguyên số mở ra một giai đoạn mới đầy hứa hẹn nhưng cũng không ít thách thức đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quá trình đó tất yếu sẽ diễn ra sự biến đổi mạnh mẽ của các yếu tố, từ người lao động cho đến tư liệu sản xuất. Việc tận dụng hiệu quả các cơ hội và vượt qua thách thức sẽ là chìa khóa để các quốc gia, doanh nghiệp và người lao động không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh toàn cầu hóa và số hóa hiện nay. Để làm được điều đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và xã hội trong việc hoạch định chính sách, đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm an ninh số.

 

Tài liệu tham khảo

1. Báo Điện tử Chính phủ. (2025). “Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. (https:// baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tongbithu-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quocve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-congnghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyendoiso-quoc-gia-102250113125610712.

htm). Truy cập ngày 13/01/2025.

2. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1993). Toàn tập. Tập 23. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.

3. C.Mác và Ph.Ăngghen. (1998). Toàn tập. Tập 46. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.

4.  Nguyễn Mạnh Hùng. (2024).“Chuyển đổi số cần thể chế số, hạ tầng số và cán bộ số”. (https://vietnamnet.vn/ chuyen-doi-so-thi-can-the-che-so-hatang-so-va-can-bo-so-2337580.html). Truy cập ngày 01/11/2024.

5. Nguyễn Phú Trọng. (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb.

Chính trị quốc gia sự thật.

6. Nguyễn Thị Quyết, Lại Văn Nam. (2025). “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện theo quan điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”. Tạp chí Nghiên cứu Triết học, số 20 (3-2025).

7. Nguyễn Trọng Chuẩn. (2024). “Lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Tạp chí Triết học, số 11 (395), tháng 11 năm 2024.

8.  Siebel, Thomas M. (2019). Chuyển đổi số – Sống sót và bứt phá trong kỷ nguyên sụp đổ hàng loạt. (Phạm Anh Tuấn dịch). Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản lần 1.

9. Tô Lâm. (2024). “Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”. (https://www. tapchicongsan.org.vn/media-story/-/ asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/ content/chuyen-doi-so-dong-luc-quantrong-phat-trien-luc-luong-san-xuathoan-thien-quan-he-san-xuat-dua-datnuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi). Truy cập ngày 02/9/2024.

10. Trần Thọ Đạt. (2025). “Cấu trúc lại lực lượng sản xuất và chuyển đổi quan hệ sản xuất trong kỷ nguyên số: Tiếp cận lý luận Mác-xít và hàm ý chính sách” (Kỳ I). Tạp chí Cộng sản, số 1.069 (tháng 9 năm 2025).

11.  V.I.Lênin. (1977). Toàn tập. Tập. 38. Mátxcơva: Nxb. Tiến bộ.

12. World Manufacturing Foundation. (2024). 2024 World Manufacturing Report – New Perspectives for the Future of Manufacturing: Outlook 2030. (https:// worldmanufacturing.org/wp-content/ uploads/14/6-WM-REPORT_2024_

LD_E-Book_b_Final.pdf).

 

Tấc giả: Đỗ Thị Thùy Trang - đăng trên Tạp chí Triết học số 5 năm 2026.

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1