MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA VIỆT NAM HƯỚNG TỚI SỰ VƯƠN MÌNH MẠNH MẼ CỦA DÂN TỘC TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
Sau khi làm rõ tầm quan trọng của văn hóa, các giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc, coi văn hóa là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và con người, tác giả bài viết nhấn mạnh sự cần thiết phải có các giải pháp thiết thực và thật sự hiệu quả nhằm phát huy các giá trị đó trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên dân tộc vươn mình hiện nay.
1. Đặt vấn đề
Thế giới đang thay đổi rất nhanh, cùng với thời gian, các giá trị văn
hóa, cả giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần, cũng không ngừng
vận động, biến đổi. Những giá trị này vừa được bổ sung, vừa được phát triển và
nâng cao, đồng thời một số giá trị có nguy cơ bị mai một hoặc bị vượt qua trước
những thay đổi của thời đại. Trong bối cảnh đó, việc lưu giữ, bảo tồn, lan tỏa
các giá trị ấy trở thành nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của hệ thống chính
trị, của giới nghiên cứu khoa học và của toàn thể dân tộc. Để thực thi các nhiệm
vụ này, cần phải có những giải pháp đồng bộ, thiết thực và thật sự hiệu quả,
phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Các giá trị văn hóa luôn được bổ sung, nâng cao trong
tiến trình lịch sử, cho nên, cách tiếp cận duy vật lịch sử được sử dụng. Cách
tiếp cận này giúp làm rõ quá trình “gạn đục khơi trong”, giải thích tại sao một
số giá trị cũ mất đi trong khi những giá trị mới được hình thành và tích hợp, đảm
bảo tính kế thừa và sự thích nghi của văn hóa trước những yêu cầu khách quan của
thực tiễn xã hội.
Trên
cơ sở đó, phương pháp phân tích được sử dụng để bóc tách từ việc giữ gìn bản sắc
truyền thống đến việc tích hợp các yếu tố hiện đại như chuyển đổi số và quản trị
văn hóa thông minh. Đồng thời, phương pháp tổng hợp cho phép đúc kết thành hệ
thống giải pháp đồng bộ, vừa củng cố nền tảng tư tưởng chính trị, vừa khơi
thông các nguồn lực vật chất để văn hóa thực sự trở thành động lực trực tiếp
cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự kết hợp các phương pháp này khẳng định rằng,
giải pháp phát triển văn hóa không tồn tại biệt lập mà là kết quả của quá trình
chắt lọc tinh hoa quá khứ và thích ứng linh hoạt với yêu cầu vươn mình của dân
tộc trong tương lai.
3.
Khái quát một số khái niệm: văn hóa, vai trò của văn hóa và phát huy các giá
trị văn hóa trong đời sống xã hội
Trên thế giới, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa
khác nhau về khái niệm hay phạm trù văn
hóa.
Chẳng hạn, vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà
nghiên cứu đã thống kê được 256 định nghĩa khác nhau về văn hóa (Xem: D.Paul
Scheffer, 1976). Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc
(UNESCO) cũng đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa phản ánh và
thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và
các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại,
qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống,
thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của
mình” (Ủy ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa, 1992: 23).
Không
có tham vọng đạt được sự nhất trí, đồng thuận và thừa nhận của tất cả mọi người,
song chúng tôi cho rằng, “văn
hóa chính là trình độ phát triển lịch sử của xã hội và của con người biểu hiện
trong các kiểu, trong các cách thức tổ chức đời sống và hành động của con
người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra, được tích lũy lại trong quá trình cải biến và tương tác với thiên nhiên
cũng như trong quan hệ với nhau trong xã hội” (Nguyễn Trọng Chuẩn,
2024: 43).
Như chúng ta đều biết, trong Thư gửi Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về văn hóa và vai trò của văn hóa trong đời
sống của xã hội như sau: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân
tộc ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5: 577).
Người đã khẳng định rất cụ thể và rõ ràng về trọng trách cao cả của văn hóa mới
đối với đất nước và đồng bào ta như sau: “Văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh
phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở” (Báo Cứu quốc, 1946, số 416); “Văn
hóa phải soi đường cho quốc dân đi” (Báo Cứu quốc, 1946, số 416). Điều mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhấn mạnh có nghĩa là phải coi văn
hóa là một mặt trận; coi văn
hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đồng thời đòi hỏi ý chí cách mạng
kiên trì và thận trọng trong cách
ứng xử với văn hóa, nhất là với các giá trị văn hóa tiêu biểu của
dân tộc đã được lịch sử thẩm định.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã từng nhiều lần
nói và viết về văn hóa, về các giá trị và vai trò của văn hóa trong lịch sử
ngàn đời của dân tộc ta từ xưa đến nay. Theo ông, “văn hóa Việt Nam là sản phẩm
của cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, là kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất,
lâu bền nhất của dân tộc, và chính nó đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản
lĩnh Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” (Nguyễn Phú Trọng,
2024: 96). Ông còn khẳng định rất mạnh mẽ, rằng “Văn hóa là hồn cốt của Dân tộc,
nói lên bản sắc của dân tộc”; “Văn hóa còn thì Dân tộc còn” (TG. in đậm – NTC.)
(Nguyễn Phú Trọng, 2022: 157).
Với tầm quan trọng đặc biệt như vậy của văn hóa dân tộc,
cần khẳng định rằng, trong bối cảnh hiện nay, muốn phát huy được các giá trị của văn hóa, trước hết
chúng ta phải có những giải
pháp thật hiệu quả. Trong các giải pháp ấy, trước nhất, cần phải bảo tồn và giữ gìn bằng mọi giá các di
sản văn hóa quý báu, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, theo hướng
bền vững; từ đó văn hóa mới có thể lan tỏa được sức sống, góp phần thúc đẩy một
cách mạnh mẽ, hiệu quả sự phát triển trên tất cả các mặt khác như kinh tế, xã hội,
các sinh hoạt văn hóa cộng đồng; đồng thời
củng cố sự cố kết của toàn thể dân tộc và đất nước. Để thực hiện tốt những nhiệm
vụ này, điều quan trọng là phải thực hiện cho bằng được mấy việc sau đây:
Thứ
nhất, nâng cao nhận thức và ý thức của cộng đồng về vai trò đặc biệt
quan trọng của văn hóa trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước vô
cùng gian khổ của dân tộc ta qua các thế hệ.
Thứ
hai, nâng cao trình độ và khả năng lưu giữ, khả năng bảo tồn, trình
độ quản lý mọi mặt về văn hóa của nước nhà một cách khoa học; phải biết kết hợp
khéo léo giữa nhiệm vụ bảo tồn và nhiệm vụ nâng cao thêm các giá trị văn hóa bằng
các biện pháp, phương pháp, cách thức hiện đại.
Thứ
ba, đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa phải biết cách thức khai thác hợp
lý, biết quảng bá ra thế giới một cách có hiệu quả cao và có trách nhiệm cao nhất
đối với các di sản văn hóa vô cùng quý giá của dân tộc.
Thứ
tư, do nước ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh chống xâm lược,
bảo vệ Tổ quốc, nên sự thất thoát các di sản văn hóa quý báu là rất lớn; vì vậy,
cần có chính sách hiệu quả, bằng nhiều hình thức phù hợp, nhằm thu hồi và bảo vệ
các di sản này.
Như vậy, có thể nói, nhiệm vụ thu thập, bảo
tồn và quản lý hiệu quả các di sản văn hóa là một bước rất
quan trọng, là tiền đề không thể thiếu trước khi nói đến việc thực thi các giải pháp cụ thể nhằm khai
thác, phát huy ở mức cao nhất các giá trị văn hóa vô cùng quý giá của dân tộc
còn lưu giữ được cho đến ngày nay, sau khi đã phải trải qua rất nhiều biến động
của lịch sử. Có thể kể đến một trong những biến động điển hình nhất đó là âm
mưu thủ tiêu các giá trị ấy của các thế lực ngoại bang khi xâm lược nước ta.
Trong các cuộc xâm lược từ phương Bắc, kẻ thù luôn tìm đủ mọi cách để hủy diệt
cho bằng được các di sản trong nền văn hóa của dân tộc ta. Điển hình là vào thế
kỷ XV, trong Chỉ dụ gửi
Chu Năng và Trương Phụ là những tướng tài của mình ngày 21-8-1406, Minh Thành Tổ (
Minh Thành Tổ (hay Vĩnh Lạc, tên thật là Chu Đệ, 1360-1424), người con thứ 4
của người sáng lập vương triều nhà Minh. Minh Thành Tổ là người chủ trương, lập
kế hoạch và chủ trì xây dựng Tử Cấm Thành nổi tiếng ở Bắc Kinh) viết:
“Một khi binh lính đã vào nước Nam … thì hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến
các loại ca lý dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ … một mảnh, một chữ phải đốt hết.
Khắp trong nước … các bia do An Nam dựng thì phải phá hủy tất cả, một chữ chớ để
sót lại”. Thế rồi, chín tháng sau đó, trong một Chỉ dụ khác, cũng chính Minh Thành Tổ lại tiếp tục
thúc giục quân sĩ của y như sau: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng, phàm An Nam
có tất cả sách vở văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, và
tất cả các bia mà xứ ấy dựng lên, thì dù một mảnh, một chữ, hễ trông thấy là
phá hủy ngay lập tức, chớ để sót lại” (Dẫn theo: Trần Ngọc Thêm, 1996: 485).
Ý đồ tận diệt cho bằng được tất cả các giá trị văn hóa
của dân tộc ta từ phía quân xâm lược phương Bắc thể hiện rõ tính chất nham hiểm
và thâm độc. Tuy nhiên, chính điều này càng chứng tỏ rõ ràng rằng, sức mạnh của
bản sắc và các giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam thực sự đã làm cho quân thù vô
cùng khiếp đảm và cũng là nguồn động lực tinh thần to lớn giúp dân tộc ta vượt
qua mọi thử thách lịch sử để tồn tại và phát triển.
4. Cần xây dựng chiến lược bài bản và
triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phát huy cao nhất các giá trị văn hóa dân
tộc trong kỷ nguyên mới của dân tộc
Do văn hóa chứa đựng trong bản thân nó rất nhiều các
thang bậc giá trị khác nhau, đã được chọn lọc, hun đúc và trao truyền qua các
giai đoạn lịch sử của dân tộc, cho nên chúng ta cần có chiến lược thật sự bài bản,
cần thực hiện đồng bộ các giải pháp căn cơ từ việc nghiên cứu, phân loại, đánh giá, bảo tồn, cách thức tổ chức,
tuyên truyền, giáo dục; tổ chức các hoạt động giao lưu và quảng bá các giá trị
ấy ra thế giới; tạo điều kiện thuận lợi cho những người hoạt động
trong lĩnh vực văn hóa phát huy tốt nhất mọi khả năng và tài năng vốn có của họ
trong điều kiện toàn cầu hóa đang cạnh tranh vô cùng khốc liệt và diễn biến hết
sức phức tạp, khó lường như hiện nay.
Có thể nói, các
nhà khoa học và nghiên cứu văn hóa có sự nhất trí khá cao về các giá trị cốt
lõi nổi bật trong văn hóa nước nhà qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc.
Trong lịch sử hình thành, trưởng thành và phát triển, cùng với việc phải chống
chọi với những điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên để tồn tại và phát triển, dân
tộc Việt Nam cũng đồng thời phải đấu tranh hết sức gian khổ với các thế lực xâm
lược, bành trướng và thôn tính hung bạo trên thế giới. Từ sự thật lịch sử đó, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ nhiệm vụ mang tính quy luật là: “Dựng nước đi đôi với giữ nước – là quy
luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta”(Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, 2003: 23).
Lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước
của dân tộc đã hình thành nên đất nước và con người Việt Nam với đời sống văn
hóa tinh thần phong phú, đa dạng, nhiều sắc màu. Nói đến giá trị văn hóa của
dân tộc ta, trước hết phải nhắc đến các
giá trị tinh thần, các giá trị đạo đức thể hiện trong phong tục, tập
quán, vật thể và phi vật thể đã được hình thành, bồi đắp và lưu truyền rộng rãi
dưới nhiều hình thức và mang bản sắc riêng. Trong đó, có những giá trị văn hóa
phản ánh khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng, tiến bộ, nhân tục, tập
quán, vật thể và phi vật thể đã được hình thành, bồi đắp và lưu truyền rộng rãi
dưới nhiều hình thức và mang bản sắc riêng. Trong đó, có những giá trị văn hóa
phản ánh khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng, tiến bộ, nhân văn được
kết tinh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành những truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, như: lòng yêu nước, thương nòi; tinh thần bất khuất, kiên
trung chống giặc ngoại xâm; đạo lý tôn sư trọng đạo; lòng hiếu thảo đối với ông
bà, cha mẹ; tính cần cù, chịu thương, chịu khó; sự hiếu học; tinh thần đoàn kết
cộng đồng;… Tất cả các giá trị đó có thể gói lại ở lòng yêu nước hay tinh thần yêu nước thiết tha; là tinh thần đoàn kết dân tộc hay sự cố
kết dân tộc chặt chẽ trong mọi hoàn cảnh; là tinh thần hiếu học, lòng tôn sư trọng đạo; sự siêng năng cần cù; tinh thần sáng tạo
trong tất cả các lĩnh vực của đời sống và hoạt động xã hội; là đạo đức uống nước nhớ nguồn, v.v.. Mặc dù có không ít
những điểm chung với các nền văn hóa khác, song tất cả các giá trị đó của văn
hóa đã kết tinh thành bản
sắc không phai mờ của văn
hóa Việt Nam và không thể trộn lẫn với bất cứ nền văn hóa nào
khác.
Trước hết, chúng ta cần nói về giá trị của tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, tinh
thần đoàn kết và ý thức gắn kết cộng đồng của dân tộc ta suốt chiều dài lịch sử.
Như Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, lòng yêu nước, yêu quê hương là giá trị cơ
bản nhất của dân tộc ta (Xem: Trần Văn Giàu, 1980: 72), bên cạnh đó còn có những
giá trị khác, như lòng nhân ái, sự gắn bó cộng đồng, trọng đạo đức, trọng học
thức và tình yêu cái đẹp. Cùng với các giá trị lâu đời ấy, Giáo sư Nguyễn Hồng
Phong cũng đã nhìn thấy những giá trị mới đang hình thành và ngày càng rõ nét
trong xã hội Việt Nam, như sự bình
đẳng, công bằng xã hội, vai trò của cá nhân trong sự phát triển và sự
thành công của xã hội. Theo ông, đây là những giá trị mới trong một xã hội Việt
Nam mà không lâu trước đó vốn là xã hội phong kiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã đúc kết một cách rất
cô đọng và vô cùng sâu sắc tinh thần yêu nước ấy như sau: “Dân ta có một lòng nồng
nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ
quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô
cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất
cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 7: 38). Chính nhờ có
tinh thần yêu nước, kiên cường, dũng cảm, cùng ý chí tự lực, tự cường, tinh thần
đoàn kết của cả dân tộc đã tạo nên sức mạnh giúp chúng ta đánh thắng tất cả các
cuộc xâm lược của những thế lực quân sự hùng mạnh qua các thời kỳ lịch sử khác
nhau.
Đặc biệt,
tinh thần yêu nước không chỉ được phát huy mạnh mẽ và hiệu quả trong các cuộc
kháng chiến chống xâm lược trước đây, tiêu biểu là trong thế kỷ XX, mà trong bối
cảnh hiện nay, tinh thần ấy cũng đang được khơi dậy và phát huy vô cùng mạnh mẽ,
thật sự hiệu quả trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nhằm “đưa đất
nước vững bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng,
phát triển” (Tô Lâm, 2025: 7), kỷ nguyên “dân tộc vươn mình”.
Đáng chú ý, truyền thống và ý thức cộng đồng, tinh thần
tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm bọc lá rách nhiều”,
sẵn sàng giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn, không những không bị mai một mà
còn được phát huy trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa hiện nay. Điều này được thể hiện rõ nét qua các phong trào quần chúng
vô cùng quý giá như giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát
đang diễn ra sôi nổi trên khắp cả nước hiện nay. Như vậy, có thể nói, tinh thần,
truyền thống cộng đồng, làng xã, sự gắn kết các cá nhân, gia đình, làng xã với
Tổ quốc thân yêu đã có hàng nghìn năm vẫn là một trong những giá trị nổi bật
trong giai đoạn thực thi nền kinh tế thị trường hiện nay.
Cùng với các giá trị trên, những giá trị như chăm chỉ,
chí thú, cần cù, nhẫn nại, chịu thương, chịu khó và đặc biệt là tinh thần đổi mới,
sáng tạo trong học tập và trong lao động, trong nghiên cứu khoa học và trong
các lĩnh vực sản xuất phục vụ đời sống của dân tộc ta đã trở thành những giá trị
quan trọng của con người Việt Nam. Có thể nói, trong mọi lĩnh vực hoạt động,
tinh thần đổi mới và sáng tạo của con người Việt Nam là nền tảng quan trọng có
tính quyết định đối với sự phát triển và thành công trong mọi công việc của đất
nước.
Tuy nhiên, khi đề cao tính sáng tạo của thế hệ hôm nay
không có nghĩa là chúng ta được phép coi nhẹ những gì mà tổ tiên ta từ ngàn đời
trước để lại. Vì rằng, các giá trị văn hóa truyền thống được kết tinh cả trong
văn hóa vật chất, lẫn văn hóa tinh thần hoặc trong các nghi lễ văn hóa dân
gian, kể cả việc đề cao tinh thần tôn kính tổ tiên thông qua các tác phẩm văn học
hoặc những hình tượng nghệ thuật được lưu giữ trong các đền thờ, miếu mạo ở nhiều
vùng trên khắp cả nước.
Khi bàn đến các giá trị văn hóa của dân tộc, không thể
bỏ qua các giá trị văn hóa truyền thống vô cùng phong phú nằm trong các loại ẩm
thực và cách thưởng thức ẩm thực rất đa dạng và đặc sắc tại khắp các vùng, miền
của đất nước. Phải nói rằng, trong điều kiện giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở
của thời đại toàn cầu hóa, các giá trị văn hóa ẩm thực qua các món ăn cổ truyền
như phở, bánh mì, bún chả, các loại bánh bột lọc, một số món ăn phổ biến trong
cung đình ngày xưa, v.v. cũng ngày càng được nhiều khách quốc tế ưa chuộng,
đánh giá cao, qua đó góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa
Việt Nam ra thế giới.
Khi đề cập đến các giá trị văn hóa truyền thống, nhất
định phải nhắc đến những loại hình nghệ
thuật truyền thống phi
vật thể vô cùng phong phú, phổ biến khắp cả nước, đã tồn tại ở nhiều
vùng khác nhau, qua nhiều thế kỷ thăng trầm nhưng vốn có sức sống mạnh mẽ và được
nhân dân ta hết sức quý trọng, giữ gìn, cải biến, phát triển và nâng cao. Đó là
các điệu hát xoan, hát quan họ, hát ca trù, hát then, hát chầu văn, v.v.. Đây
là các loại hình nghệ thuật phổ biến, đã và đang được ưa chuộng, được trình diễn
nhiều hơn cả là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ. Trong khi đó, ở các tỉnh
Nam Bộ, đờn ca tài tử là thứ âm nhạc không thể thiếu trong sinh hoạt thường
ngày và tại các lễ hội dân gian. Sự phong phú các loại hình nghệ thuật này, cả
vật thể và phi vật thể, ở các vùng miền khác nhau, bổ sung và làm phong phú
thêm các giá trị văn hóa của đất nước.
Bên cạnh đó, sẽ là thiếu sót khi nói đến các giá trị của
văn hóa vật thể mà không đề cập đến các kiểu cách kiến trúc đình làng, chùa chiền, miếu mạo, nhà ở
vô cùng độc đáo của đồng bào miền xuôi hoặc kiến trúc nhà rông cực kỳ tinh tế của
đồng bào Tây Nguyên đang thu hút rất nhiều khách du lịch cả trong và ngoài nước.
Nói đến di sản văn hóa vật thể thì không thể bỏ qua các kiểu trang phục truyền thống vô cùng đẹp mắt
và độc đáo của đồng bào các dân tộc, các tộc người trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Chẳng hạn, tấm áo dài với nhiều kiểu cách khác nhau của phụ nữ miền
xuôi; những bộ trang phục thêu thùa hết sức công phu, tinh xảo của phụ nữ các
dân tộc miền sơn cước;… tất cả đều là những sản phẩm nghệ thuật độc đáo, có một
không hai, thể hiện sự tinh tế và mang bản sắc riêng của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam.
Như vậy, nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam chứa
đựng trong nó những giá trị đặc sắc, được xem như “hồn cốt của dân tộc”. Tuy
nhiên, thời gian qua, việc đầu tư khai thác và phát huy các giá trị này có lúc
có chỗ vẫn chưa thực sự tương xứng, chưa kịp thời và chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Do đó, cần thiết phải xác định và triển khai đồng bộ những giải pháp phù hợp
trong giai đoạn dân tộc Việt Nam vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới sau đây:
Trước
hết, mọi giải pháp đều phải bắt đầu từ nhận thức, trong đó có sự tự nhận thức về trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo,
của những người được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phụ trách lĩnh vực
công tác văn hóa; đồng thời, đây cũng là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống
chính trị, mà nòng cốt là các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp.
Thứ
hai, cần tổ chức tổng
kiểm kê, nghiên
cứu, phân loại, đánh giá, bảo
tồn, xác định cách thức tổ chức, khôi phục, tuyên truyền, giáo dục
sao cho thật hiệu quả về hệ thống các giá trị văn hóa. Trong đó, hệ giá trị gia
đình Việt Nam cần được đặc biệt quan tâm, bảo tồn và truyền bá rộng rãi trong đời
sống xã hội.
Thứ
ba, cần đổi mới đồng bộ hệ thống quản lý văn hóa, chuyển từ quản lý theo mệnh
lệnh hành chính sang quản
lý bằng luật pháp và các công cụ điều tiết vĩ mô khác; tạo điều kiện
để phát huy sáng kiến và sự sáng tạo của những người có trách nhiệm và có thực
tài trong lĩnh vực văn hóa.
Thứ
tư, cần hoàn
thiện thể chế quản
lý văn hóa, giảm thiểu tính áp đặt hành chính, tạo điều kiện thuận lợi
cho sự sáng tạo và sự hưởng thụ văn hóa chính đáng của người dân, đồng thời chủ
động phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện lệch chuẩn, thái quá, nhất là trong
một bộ phận giới trẻ, trái với thuần phong mỹ tục và các giá trị cốt lõi của
văn hóa dân tộc.
Thứ
năm, xây dựng và phát huy hiệu quả văn hóa trong chính trị, văn hóa trong kinh tế, đặc biệt là văn hóa trong kinh doanh và
văn hóa trong Đảng phù hợp với nhu cầu phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa để văn hóa trở thành tấm gương đạo đức cho toàn xã hội,
thành cơ chế điều tiết sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững.
Thứ
sáu, điều kiện không thể thiếu, nếu không nói là quan trọng bậc nhất,
chính là phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao cho ngành văn hóa, trong đó có nguồn nhân lực
cho công tác lãnh đạo, quản lý cùng các lĩnh vực then chốt và đặc thù.
Thứ
bảy, các sản phẩm văn hóa có giá trị cao vừa phải được mang ra phục
vụ nhu cầu thưởng thức của nhân dân, vừa phải góp phần quảng bá rộng rãi các
giá trị ấy ra thế giới. Muốn vậy, cần phải phát triển thật tốt thị trường văn
hóa và các ngành công nghiệp văn hóa.
Thứ
tám, tiếp thu có chọn lọc những giá trị phù hợp của văn hóa thế giới,
cả quá khứ lẫn hiện tại, góp phần làm giàu văn hóa nước nhà trong điều kiện
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Thứ
chín, mục tiêu cao nhất của việc phát triển và nâng tầm các giá trị
của văn hóa là góp phần thực hiện yêu cầu “phát triển con người toàn diện”, “để
văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát
triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” theo tinh thần của Đại hội lần thứ XIII của Đảng
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 115-116); từ đó, góp phần xây dựng và thực
hiện đồng bộ, hiệu quả hệ
giá trị quốc gia: Hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ,
giàu mạnh, nhân dân hạnh phúc; hệ
giá trị văn hóa Việt Nam: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; hệ giá trị gia đình Việt
Nam: Văn minh, ấm no, hạnh phúc; và chuẩn
mực con người mới Việt Nam: Yêu nước, đoàn kết, nghĩa tình, trung thực,
trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo. Tất cả các hệ giá trị đó đều nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển của đất nước trong “kỷ nguyên dân tộc vươn mình”.
5. Kết luận
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt của các giá trị
văn hóa dân tộc, cần khẳng định rằng, muốn
phát huy được các giá trị của văn hóa trong bối cảnh hiện nay, chúng
ta phải có những giải pháp thiết thực
và thật hiệu quả. Trong số đó, việc bảo tồn và giữ
gìn các di sản văn hóa, bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể, theo hướng bền vững giữ vai trò đặc biệt quan trọng; từ đó, văn hóa mới có
thể lan tỏa sức sống, góp phần thúc đẩy một cách mạnh mẽ và hiệu quả sự phát
triển tất cả các mặt khác như kinh tế, xã hội, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng
nói chung nhằm tạo nên sự cố kết của toàn thể dân tộc, của đất nước. Để thực hiện
tốt những nhiệm vụ này, điều quan trọng là phải triển khai đồng bộ và hiệu quả
các giải pháp đã nêu. Tất cả các giải pháp đó đều hướng tới một cái đích chung
là phát triển con người toàn diện, để văn hóa và con người Việt Nam thực sự trở
thành sức mạnh nội sinh, thành động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc
trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”./.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
(2003).
Nghị quyết Hội nghị
lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
2. Báo
Cứu quốc. (1946). Số 416, ngày 25-11-1946.
3. D.Paul Scheffer. (1976). Aspects of Canadian cultural policy. UNESCO.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021).
Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật.
5. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 5. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
6. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 7. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
7. Nguyễn Phú Trọng. (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Chính trị
quốc gia sự thật.
8. Nguyễn Phú Trọng. (2024). Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia sự thật.
9. Nguyễn Trọng Chuẩn. (2024). Trụ cột văn hóa – một góc nhìn. Hà Nội: Nxb.
Chính trị quốc gia sự thật.
10. Tô Lâm. (2025). Đột phá thể chế, pháp luật để đất nước vươn mình.
Tạp chí Cộng sản,
số 1.061 (5-2025).
11. Trần Ngọc Thêm. (1996). Bản sắc văn hóa Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh: Nxb.
Tp. Hồ Chí Minh.
12. Trần Văn Giàu. (1980). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Hà Nội: Nxb. Giáo dục.
13. Ủy ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển
văn hóa. (1992). Thập kỷ thế giới phát
triển văn hóa. Hà Nội:
Bộ Văn hóa - Thông tin.
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Giáo sư, tiến sĩ, Phó Chủ tịch Hội Triết học
Việt Nam.
Email: nguyentrongchuan@yahoo.com