image banner
            VI | EN
MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG TRONG NHẬN THỨC LUẬN CỦA ADORNO
Lượt xem: 7

Tóm tắt: Theodor W.Adorno (1903 - 1969) là nhà tư tưởng có vị trí quan trọng trong trường phái Frankfurt. Ông đã kế thừa những tư tưởng có giá trị trong phép biện chứng của C.Mác, phép biện chứng của Hêghen cũng như các tư tưởng có giá trị khác của các nhà triết học phương Tây hiện đại để xây dựng nên một phép biện chứng mới mà ông gọi là phép biện chứng phủ định. Nhận thức luận của ông mang tính phê phán tất cả những gì đang áp đặt, kìm hãm nhận thức của con người, và mang những đặc trưng riêng: Thứ nhất, nhận thức luận của ông được xây dựng trên nguyên lý phi đồng nhất; thứ hai, nhấn mạnh chủ thể hữu sinh của nhận thức; thứ ba, nhấn mạnh đến nội dung kinh nghiệm của nhận thức.

Từ khóa: Theodor W.Adorno, phép phủ định biện chứng, nguyên lý phi đồng nhất, chủ thể hữu sinh.

 

Để xây dựng nên nhận thức luận của mình, Adorno đã tiếp thu những tư tưởng của người đồng nghiệp Horkheimer rằng nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý lúc đầu mang tính khai sáng, song về sau lại mang tính bảo thủ và áp đặt quan niệm chủ quan của một số người vào tự nhiên cũng như xã hội. Nhận thức luận đó đã góp phần hình thành nên tri thức công cụ mà người ta dùng để thống trị tự nhiên cũng như xã hội, làm tha hóa con người. Adorno cho rằng, nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý hình thành nên tri thức công cụ và đi ngược lại tinh thần khai sáng ban đầu, bởi nhận thức luận đó được xây dựng trên nguyên lý đồng nhất và những khiếm khuyết trong mối quan hệ chủ khách thể của nó. Trên tinh thần phê phán đó, Adorno đã xây dựng nên nhận thức luận của mình với ba đặc trưng cơ bản, đó là:

         Thứ nhất, nguyên lý phi đồng nhất.

Từ việc phê phán cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý là nguyên lý đồng nhất (khái niệm đồng nhất với sự vật), Adorno đã xây dựng nên nhận thức luận của mình dựa trên nguyên lý phi đồng nhất. Theo ông, nguyên lý đồng nhất là sự áp đặt chủ quan ý chí của chủ thể lên khách thể. Vì vậy, để xây dựng nhận thức luận của mình, ông đã kiên quyết bác bỏ nguyên lý đồng nhất. Ông viết: “Một lần nữa chúng tôi gạt bỏ sự đồng nhất về mặt nguyên lý, sự tĩnh tại của khái niệm sẽ bị nhấn chìm trong sự sụp đổ của nguyên lý đồng nhất. Khi mà những thuộc tính của mỗi khái niệm chung làm mất đi sự khác biệt của các thực thể thì một triết học tuyệt đối sẽ không còn gì để hy vọng nữa” [2, tr.136]. Sâu xa hơn, Adorno cho rằng nguyên lý đồng nhất của chủ nghĩa duy lý đã dẫn tới sự áp đặt khái niệm, quan niệm của chủ nghĩa duy lý cho mọi người, biến họ thành những người có ý thức một chiều. Từ đó, Adorno đã xây dựng nhận thức luận của mình dựa trên nguyên lý phi đồng nhất, ở đó luôn nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa sự vật và khái niệm.

Sự không đồng nhất giữa sự vật và khái niệm, theo Adorno, mới là thực tại chân chính của nhận thức; nguyên lý phi đồng nhất đó mới là cơ sở đúng đắn của nhận thức luận. Nếu như nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý chủ trương nhấn mạnh đến sự đồng nhất trong sự khác biệt; thì ngược lại, Adorno chủ trương nhấn mạnh đến sự khác biệt trong sự đồng nhất và cho rằng chính mâu thuẫn đó mới là động lực để nhận thức của con người không ngừng phát triển. Trong nhận thức luận của mình, Adorno đặt tầm quan trọng của nguyên lý phi đồng nhất lên vị trí hàng đầu. Ông cho rằng, trong quá trình nhận thức, những khái niệm phải phản ánh và nắm bắt những thuộc tính, bản chất của sự vật; song  về mặt nguyên tắc những khái niệm sẽ không bao giờ phản ánh được toàn bộ, trọn vẹn bản chất của sự vật vào trong nội hàm của nó. Vì vậy, người ta luôn luôn phải tự ý thức về sự chưa đầy đủ, chưa trọn vẹn của khái niệm để không ngừng hoàn thiện tri thức của mình. Ông lập luận rằng, nếu nhận thức xuất phát từ nguyên lý đồng nhất thì người ta chỉ cần nhận thức một lần là đã nắm bắt được hoàn toàn bản chất của đối tượng và như vậy, quá trình nhận thức sẽ dừng lại bởi không còn gì cần phải nhận thức sâu hơn nữa. “Nhận thức sẽ mất đi vai trò của nó trong việc nắm bắt khách thể một khi khách thể được quy về khái niệm của nó” [2, tr.139]. Ông cho rằng siêu hình học cũ dựa trên sự đồng nhất tuyệt đối giữa khái niệm và sự vật, đã làm mất đi vai trò của chủ thể; chủ thể bị giam hãm trong sự sùng bái và mất đi khả năng nhận thức thực sự. Ngược lại với nguyên lý đồng nhất của chủ nghĩa duy lý, Adorno luôn khẳng định nguyên lý phi đồng nhất giữa sự vật và khái niệm khi cho rằng, khái niệm là sản phẩm của quá trình nhận thức nhưng nó không bao giờ đồng nhất hoàn toàn với sự vật và trong quá trình nhận thức khái niệm cũng luôn được phát triển. Ông viết: “Khái niệm về sự vật không phải là một tri thức hoàn thiện; mà sự đi sâu của nhận thức về đối tượng đó có thể dẫn tới khái niệm sâu sắc hơn” [2, tr.135].

Adorno cũng luôn nhấn mạnh đến những thuộc tính, tính chất của đối tượng mà người ta chưa nhận thức được, ông cho rằng đó chính là phần không đồng nhất giữa khái niệm và sự vật, mà ông gọi là phần phi khái niệm đang “lẩn trốn” khỏi khái niệm. Nếu theo chủ nghĩa thực chứng hay chủ nghĩa duy lý thì sẽ chỉ có một khái niệm có quan hệ với sự vật duy nhất (đã được nhận thức hoàn toàn); còn theo nhận thức luận của Adorno sẽ có hai bộ phận cùng tồn tại trong cùng sự vật đó: Một là, những thuộc tính của sự vật đã được phản ánh vào trong khái niệm của tư duy và hai là, những tính chất chưa được tư duy phản ánh vào trong khái niệm đó. Trong tư duy của con người, hai lĩnh vực này có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng tạo nên mâu thuẫn của tư duy, và đây chính là động lực để tư duy phát triển. Như vậy, nguyên lý phi đồng nhất giúp tư duy ý thức được rằng những gì đã nhận thức được vẫn còn khiếm khuyết, chưa đầy đủ và nhiệm vụ của tư duy là tiếp tục tiến sâu hơn nữa để nắm bắt những thuộc tính chưa được phản ánh vào trong khái niệm. Trong khi đó, những khái niệm, theo truyền thống của chủ nghĩa duy lý, được tư duy xem xét trong cái đối lập với nó là những thuộc tính chưa được phản ánh trong nội hàm của chúng. Khi vượt bỏ khái niệm cũ, tư duy phải phản ánh được những thuộc tính mới mà nhận thức trước đây chưa phản ánh được chúng trong nội hàm của những khái niệm đó, còn phần nằm bên ngoài khái niệm cũ, chính là cái không đồng nhất của khái niệm. Như vậy, khác với nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý mang tính áp đặt và đồng nhất hóa, nhận thức luận của Adorno luôn tự ý thức về những khiếm khuyết của tư duy, luôn quan tâm và hướng đến những gì chưa được khái niệm hóa.

Theo Adorno, nguyên lý đồng nhất của chủ nghĩa duy lý là sự phản ánh khát vọng cực đoan của một tầng lớp xã hội muốn áp đặt quan niệm của họ lên toàn bộ xã hội, vì thế nó đè nén và tước đi khát vọng nhận thức của những người khác. Và chính nguyên lý đó đã làm cho chủ nghĩa duy lý đi ngược lại tinh thần khai sáng của nó, biến những tri thức, chân lý khoa học thành công cụ để củng cố quyền lực cho giai cấp tư sản cầm quyền và họ dùng nó để đè nén và áp đặt quan niệm của mình cho những người khác, làm tha hóa con người. Ông cũng cho rằng, nguyên lý đồng nhất là sự kỳ vọng thái quá của chủ nghĩa duy lý về sức mạnh của tư duy. Nó cũng chính là giấc mơ hư ảo, là sự bóp méo hiện thực khi mà chủ nghĩa duy lý không nhận thức thế giới hiện thực trong tính chỉnh thể phong phú và toàn diện của nó. Nó thể hiện giấc mơ của chủ nghĩa duy lý muốn đồng nhất hoàn toàn khái niệm với sự vật. Song trên thực tế, điều đó là không thể thực hiện được. Ở đây, thực chất, nguyên lý đồng nhất của chủ nghĩa duy lý là một sự né tránh, không dám đối diện với tính vô cùng, vô tận của thế giới, với sự phong phú và đa dạng của đối tượng nhận thức. Nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý đã đồng nhất tuyệt đối tất cả những đối tượng đa dạng vào một khách thể mà họ coi là đối tượng nhận thức của họ. Đây là một sự khiếm khuyết cần phải khắc phục để tránh sự áp đặt chủ quan. Ông nhấn mạnh: “Bản thân sự vật thì không có chút nào là sản phẩm của tư duy, nó là sự phi đồng nhất thông qua sự đồng nhất” [2, tr.189]. Ông phê phán chủ nghĩa duy lý khi nó thu hẹp đối tượng nhận thức song, thậm chí ngay cả với đối tượng nhận thức đã bị thu hẹp đó, thì người ta cũng không thể nhận thức được hoàn toàn đối tượng. Chủ nghĩa duy lý đã không dám thừa nhận khái niệm về sự vật chỉ phản ánh một phần bản chất sự vật và vẫn còn những thuộc tính khác chưa nhận thức được. Khái niệm về sự vật là sự đồng nhất trong sự khác biệt chứ không phải là sự đồng nhất tuyệt đối. Chính vì vậy, Adorno đã đặt ra nhiệm vụ cho nhận thức luận, đó là phải nắm bắt được những thuộc tính, những tính chất chưa được phản ánh vào trong nội hàm khái niệm, là phải vượt bỏ những khái niệm lôgíc.

         Thứ hai, chủ thể hữu sinh của nhận thức.

Bên cạnh việc phê phán nguyên lý đồng nhất của chủ nghĩa duy lý, Adorno cũng phê phán hệ hình “chủ - khách thể” với tư cách cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý. Ông cho rằng, hệ hình này chứa đựng những khiếm khuyết. Sở dĩ như vậy là vì, chủ nghĩa duy lý đã thực hiện một sự trừu tượng hóa về những đối tượng nhận thức cũng như chủ thể nhận thức. Như vậy, chủ nghĩa duy lý đã tách tư duy, nhận thức ra khỏi con người hữu sinh, thay vào đó là một chủ thể nhận thức mang tính lý tưởng, có thể đứng ra thay những người khác nhận thức chân lý và áp đặt chân lý đó cho mọi người, đó là chủ thể đại diện. Chính điều này đã làm cho nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý thiếu đi tính chủ thể đích thực. Mặt khác, chủ thể nhận thức quy giảm tính đa dạng của đối tượng nhận thức thành những thuộc tính giống nhau, có thể so sánh được với nhau. Các đối tượng đa dạng được quy về những thuộc tính mà chủ thể nhận thức cho là bản chất, còn tư duy thì tiếp thu những hiện tượng như những hiện tượng được suy tưởng. Ở đây, việc loại trừ sự dị biệt của đối tượng là một khuyết tật nữa trong nhận thức luận của khoa học cận đại nói riêng và trong nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý nói chung. Việc chọn những khách thể lý tưởng, mặc dù có những hiệu quả nhất định trong nghiên cứu đối tượng, nhưng những khái niệm mà nhận thức đó mang lại sẽ bỏ sót những thuộc tính khác biệt của lớp đối tượng đó, nhất là những thuộc tính không biểu hiện một cách rõ ràng trong đối tượng nghiên cứu được chọn.

Theo Adorno, mô hình chủ thể nhận thức mang tính đại diện và đối tượng nhận thức như cái được suy tưởng là hai khuyết tật của chủ nghĩa duy lý. Nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của xã hội hiện đại và được thừa nhận như là những chuẩn mực. Đây chính là mầm mống, nguyên nhân dẫn đến những phát triển lệch lạc của chủ nghĩa duy lý, biến chủ nghĩa duy lý từ lý tính khai sáng trở thành lý tính công cụ của giai cấp tư sản cầm quyền củng cố quyền lực để áp đặt con người, làm tha hóa con người.

Adorno phê phán mô hình khách – chủ thể mang tính lý tưởng của chủ nghĩa duy lý là không tưởng: “Sự giả định một mô hình tuyệt đối về khách thể mà nó có thể cho phép tư duy thoát khỏi chủ thể là một điều ảo tưởng” [2, tr.135]. Nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý đã loại bỏ những dấu ấn của những con người hữu sinh, đồng thời lấy chủ thể trừu tượng làm trung tâm của nhận thức luận. Ông phản đối việc lấy chủ thể nào đó để làm đại diện cho những chủ thể khác, cho dù chủ thể đó có ưu việt đến đâu chăng nữa, thì vẫn là một sai lầm. Ông viết: “Một chủ thể hữu hạn, như Husserl đã nói rằng nó là một phần của thế giới. Bản thân nó đã hủy hoại cùng với tính tương đối, nó không thể được sử dụng để làm nền cho cái tuyệt đối” [1, tr.15]. Trong lịch sử triết học, từ sau Descarters, chủ thể nhận thức của chủ nghĩa duy lý là chủ thể của tư duy vượt ra khỏi tính đa tạp của con người để đảm bảo mang lại chân lý cho mọi người: Sự trừu tượng hóa ấy đồng thời là sự quy giảm con người vào thuộc tính cơ bản có thể so sánh được giữa mọi người – một điển hình của thuyết cơ giới: “Thuyết cơ giới thể hiện qua sự ép buộc này đã làm đui mù chủ thể tính và tư duy trở thành cái khách quan, cái mà đứng đối lập với nó” [2, tr.17]. Việc chủ nghĩa duy lý quy những con người hữu sinh có năng lực nhận thức khác nhau về một chủ thể tư duy mang tính đại diện là một sự áp đặt. Làm như vậy nó đã bóp chết sự đa dạng, phong phú về nhận thức của con người. Khi đó, những con người hữu sinh bị tách ra khỏi thực tiễn và chỉ còn cách học lại, thừa nhận và sử dụng những khái niệm mà chủ thể đại diện đã mang lại. Điều này đã biến những con người vốn hết sức năng động trở thành những kẻ thụ động trong hoạt động thực tiễn, phải công nhận chân lý của kẻ khác. Những con người hữu sinh đã bị chủ nghĩa duy lý biến thành những con người một chiều.

Để khắc phục những hạn chế trong hệ hình nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý, Adorno đã tiếp thu tư tưởng hết sức quý giá của C.Mác về phạm trù thực tiễn để xây dựng nhận thức luận của mình. Ông đánh giá rất cao phạm trù này, vì “chính ở đó, con người có điều kiện để khám phá, nhận thức và không ngừng hoàn thiện bản thân mình” [2, tr.3]. Adorno khẳng định: “Tiêu chuẩn thực tiễn là bắt buộc đối với mọi lý thuyết, nó là tiêu chuẩn để cấp thị thực cho lý thuyết” [2, tr.143].

 Hơn thế, Adorno luôn nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của chủ thể tính trong quá trình hoạt động thực tiễn nói chung và trong nhận thức nói riêng. Ông khẳng định: “Chủ thể tính, bản thân tư duy được giải thích không chỉ bởi bản thân nó mà còn bởi thực tiễn, bởi những sự thật xã hội; nhưng tính chủ thể của nhận thức cho thấy nó không tồn tại ngoài tư duy, ngoài chủ thể tính” [2, tr.140]. Chính sự đa dạng, đa chiều của nhận thức mang dấu ấn chủ thể ở những góc độ khác nhau mới giúp tri thức nhân loại về một vấn đề trở nên sâu sắc và toàn diện hơn, tránh được sự phiến diện, một chiều của tri thức. Sự độc đáo của nhận thức được thể hiện qua những chiều cạnh khác nhau về hiện thực mới giúp tri thức con người ngày càng hoàn thiện hơn. Điều quan trọng là chủ thể tính trong nhận thức sẽ giúp người ta tránh được việc bị nhồi sọ bằng những tri thức một chiều. Mô hình nhận thức của chủ nghĩa duy lý với chủ thể đại diện đã làm mất đi chủ thể tính, chính vì vậy nó mang lại những tri thức một chiều, đơn điệu và mang tính áp đặt.

Để khắc phục những hạn chế trong hệ hình nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý, Adorno đã kế thừa tư tưởng của Husserl trong “Hiện tượng học”, nhấn mạnh đến mối quan hệ khăng khít hữu cơ giữa khách thể và chủ thể trong quá trình nhận thức. Theo ông, mối quan hệ đó hết sức khăng khít; chứ không phải là mối quan hệ một chiều khách - chủ thể như trong mô hình nhận thức của khoa học cận đại nói riêng và chủ nghĩa duy lý nói chung. “Đối với Adorno, không có chủ thể mà không nằm trong mối quan hệ với khách thể, cũng không có khách thể mà không có quan hệ với chủ thể - một khách thể là một khách thể đang được nhận thức – chủ thể có mối quan hệ mật thiết với khách thể, sự nhận thức mang dấu ấn chủ thể được đánh dấu bởi sự phụ thuộc chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể” [4, tr.108]. Adorno nhấn mạnh rằng, “nếu khách thể thiếu đi tính ý hướng của chủ thể tính thì bản thân những thuộc tính của khách thể trở nên vô nghĩa” [3, tr.509]. Chỉ trong mối quan hệ khăng khít đó chủ thể mới có thể nắm bắt, nhận thức về đối tượng một cách sâu sắc và độc đáo. Theo ông, trong mối quan hệ đó thì tính ý hướng của chủ thể không đơn thuần độc lập và khách quan với đối tượng như trong nhận thức luận của chủ nghĩa duy lý. Ông khẳng định: “Một khách thể trở thành một khách thể của nhận thức, khía cạnh vật lý của nó được tinh thần hóa từ sự bắt đầu bằng cách chuyển vào nhận thức luận, bằng một sự quy định theo cách phương pháp luận nhờ hiện tượng học của Husserl” [2, tr.192]. Cùng một khách thể nhưng mỗi chủ thể khác nhau, bằng tính ý hướng của mình sẽ nhận thức đối tượng theo những chiều cạnh khác nhau. Những tri thức có được đó mang đậm dấu ấn của kinh nghiệm chủ thể và tính ý hướng của ý thức. Điều đó giúp cho tri thức con người bớt đi cái nhìn phiến diện của chủ nghĩa duy lý. Nhờ tính ý hướng của ý thức, chủ thể mới có khả năng theo đuổi những khía cạnh khác nhau của đối tượng, từ đó, mỗi chủ thể mới có những tri thức độc đáo, khác biệt về đối tượng. Vì vậy, khái niệm của các chủ thể khác nhau về sự vật, ngoài những thuộc tính chung nhất, còn chứa đựng những tri thức độc đáo, khác biệt, mang dấu ấn của mỗi chủ thể nhận thức.

Adorno luôn nhấn mạnh đến mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể và khách thể trong nhận thức. Theo Adorno, mỗi sự vật có vô vàn các mối liên hệ khác nhau, nhưng khái niệm về sự vật chỉ phản ánh được những thuộc tính bản chất trong một mối quan hệ nhất định với chủ thể nhận thức mà thôi. Cho nên, mỗi chủ thể nhận thức, từ quan hệ của mình với đối tượng nhận thức, bằng kinh nghiệm độc đáo của mình sẽ có những tri thức khác nhau về đối tượng. Chính điều đó làm nên sự đa dạng, phong phú và toàn diện của tri thức con người. Ngược lại, sự phong phú, đa dạng và toàn diện của tri thức sẽ biến mất nếu những tri thức đó không còn mang dấu ấn, kinh nghiệm sống động của các chủ thể khác nhau. Vì vậy, mô hình nhận thức không gắn với những chủ thể hữu sinh của chủ nghĩa duy lý sẽ chỉ thu được những tri thức, khái niệm hết sức phiến diện và nghèo nàn về đối tượng.

              Thứ ba, dấu ấn kinh nghiệm của chủ thể trong nhận thức.

Do nhận thức luận của Adorno được xây dựng trên nguyên lý phi đồng nhất, luôn nhấn mạnh đến sự không đồng nhất, sự khác biệt trong sự đồng nhất giữa sự vật và khái niệm, vì vậy, ông đặc biệt nhấn mạnh đến dấu ấn kinh nghiệm của chủ thể trong nhận thức. Khi nghiên cứu phép biện chứng của Hêghen, Adorno đã đánh giá rất cao vai trò quan trọng của ý niệm trong quá trình nhận thức, đó là tính chủ động sáng tạo của ý thức. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì sẽ là không đủ, bởi đó chỉ là sự suy đoán và nó cần được bổ sung bằng nội dung kinh nghiệm của chủ thể nhận thức trong hoạt động thực tiễn. Nếu thiếu đi những nội dung kinh nghiệm của chủ thể, khái niệm sẽ trở thành thứ tuyệt đối không thể thâm nhập được đối với đa số những con người hiện thực.

Adorno đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò và kinh nghiệm của chủ thể trong việc hình thành các tri thức. Ông khẳng định tính độc đáo, đa dạng và phong phú của tri thức luôn gắn liền với chủ thể tính. Đối với ông, tất cả những khái niệm, tri thức được coi là tuyệt đối đều trái ngược với tinh thần của phép biện chứng. Do vậy, những khái niệm lôgíc, theo ông, là những tri thức nằm ngoài thời gian và nếu nhận thức người ta chỉ dừng lại ở khái niệm lôgíc sẽ là không đầy đủ, do tính phi mâu thuẫn của chúng. Trong nhận thức luôn có sự phát sinh và giải quyết những mâu thuẫn của các tri thức. Nhờ những mâu thuẫn xuất hiện trong nhận thức mà chủ thể nhận thức tìm cách khắc phục và vượt qua được những mâu thuẫn đó, để nhận thức sâu hơn về đối tượng. Khắc phục mâu thuẫn bao giờ cũng là sự nhảy vọt, là sự phá vỡ và phủ định khái niệm cũ, đồng thời cũng là “sự ra đời khái niệm mới sâu sắc và toàn diện hơn, đó là đạt đến sự không đồng nhất của khái niệm” [2, tr.9]. Sự nhảy vọt về chất trong nhận thức diễn ra khi chủ thể đưa ra một khái niệm mới, những tri thức mới trong đó mâu thuẫn của lý luận xuất phát được giải quyết và vượt bỏ; còn đối với quá trình hoạt động thực tiễn thì đó là việc hình thành một chỉnh thể mới của tri thức mang tính bao quát và toàn diện hơn với tư cách là sự phát triển và kế thừa những tri thức cũ. Dấu ấn kinh nghiệm của chủ thể nhận thức góp phần khắc phục tư duy một chiều của con người. Đây cũng là là một lý do nữa giải thích tại sao Adorno phê phán hệ hình chủ thể đại diện của chủ nghĩa duy lý.

Trái với Hêghen, Adorno không thừa nhận đạt được chân lý tuyệt đối trong nhận thức. Bởi, ông quan niệm nhận thức là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn, mà trong đó những chủ thể hữu sinh không ngừng khắc phục những mâu thuẫn giữa tư duy và tồn tại, nhờ đó tri thức con người ngày càng sâu sắc và hoàn thiện hơn. Con đường biện chứng của nhận thức không kết thúc ở chân lý tuyệt đối. Việc chủ nghĩa duy lý luôn khẳng định rằng con người hoàn toàn có thể nhận thức được chân lý tuyệt đối, theo Adorno, là họ đã áp đặt ý chí của mình, khái niệm của mình lên đối tượng. Ông khẳng định: “Không có sự vật nào có thể được nhận thức hoàn toàn; tri thức của con người không bao giờ có thể phản ánh được hoàn toàn bản chất sự vật” [2, tr.14]. Trong quá trình nhận thức những chân lý cũ sẽ bị phủ định bằng chân lý mới sâu sắc và toàn diện hơn. Vì thế giới là vô cùng, vô tận, nên nhận thức của con người ngày càng tiệm cận đến bản chất đó, cho nên không thể đồng nhất khái niệm với sự vật.

    Tóm lại, đối với Adorno, nhận thức là một quá trình hoạt động thực tiễn mà con người không ngừng giải quyết các mâu thuẫn giữa sự vật và khái niệm nhằm nắm bắt cái chưa được khái niệm hóa. Tư duy cũng như nhận thức của con người phải dựa trên nguyên lý phi đồng nhất, tránh sự áp đặt chủ quan, phải tự ý thức được sự khiếm khuyết, hạn chế của bản thân nó để không ngừng hoàn thiện tri thức. Mỗi chủ thể người trong hoạt động thực tiễn của mình sẽ có những tri thức độc đáo khác nhau về đối tượng. Như vậy, mới có thể góp phần mang lại sự toàn diện của tri thức con người về khái niệm và điều đó sẽ tránh được sự đơn điệu một chiều trong nhận thức. Các khái niệm luôn ở trong quá trình vận động và phát triển nhờ giải quyết các mâu thuẫn giữa khái niệm và phi khái niệm trong nhận thức. Việc giải quyết các mâu thuẫn đó trong hoạt động thực tiễn của con người sẽ góp phần mở rộng nội hàm của khái niệm cũ, đồng thời làm cho quá trình nhận thức con người ngày càng tiến sâu vào nhận thức bản chất đối tượng hơn.

 

Tài liệu tham khảo

[1] Adorno (1993), Hegel three studies  (Trasnlated by Shierry Weber Nicholsen with an introduction by Shierry Weber Nicholsen and Jeremy J.Shapio), The MET Press, Cambrige.

[2] Theodor W. Adorno (1973), Negative Dialectics (Trans. E. B. Ashton), New YorkSeabury Press.

[3] Theodor W. Adorno (1997), Subject and Object, In Arato and Gebhardt, eds, The Essential Frankfurt School Reader, New York: Continuum.

[4] Jonh Drabinsky (2008), Reconsidering Adorno, Klesis – Revuephilosophique/ April 2008.

 

Tác giả: ThS. Phạm Văn Dương-Viện Triết học.


                 

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1