THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
Tóm tắt: Thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta hiện nay là
một yêu cầu cấp thiết. Trên cơ sở làm rõ một số khái niệm cơ bản, bài viết luận
giải vai trò và nội dung cơ bản của thực hiện dân chủ cơ sở ở vùng đồng bào dân
tộc thiểu số. Có thể nói, biết, bàn, làm và kiểm tra là 4 nội dung của một thể
thống nhất biện chứng - quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở. “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” xuất phát từ yêu cầu của chế độ dân chủ và nó cũng chỉ
có thể được thực hiện một cách đầy đủ nhất trong điều kiện của nền dân chủ xã
hội chủ nghĩa.
Từ khóa:
Thực hiện dân chủ cơ sở, vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, vấn đề lý luận.
1. Dân chủ, theo Từ
điển Triết học, là một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là
việc thực hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do,
bình đẳng của mọi công dân [Xem: 4, tr.118]. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, dân chủ được hiểu là “hình thức tổ chức
thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc
của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận
dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất
định” [3, tr.653].
Dân chủ hóa đời sống xã hội là một chủ trương rất
quan trọng và đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi nước Việt Nam mới
ra đời, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới toàn diện và xây dựng, phát triển
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (năm 1986) với dấu mốc là Đại hội VI
của Đảng. Dân chủ hóa là một
cuộc vận động xã hội rộng lớn về quy mô và thể hiện tính chất cách mạng, nhân
văn của chế độ xã hội mới; là quá trình hiện thực hóa các giá trị dân chủ trong
thực tiễn đời sống xã hội trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến
văn hóa, xã hội... Đó không chỉ là sự thừa nhận, khẳng định quyền dân chủ,
quyền làm chủ của nhân dân về mặt pháp lý, mà quan trọng hơn - còn là sự xác
lập quyền lực tối cao của nhân dân trên thực tế. Thực hiện dân chủ, dân chủ
hóa, mở rộng và phát huy dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội được
Đảng Cộng sản Việt Nam coi là mục tiêu và động lực thúc đẩy sự phát triển và
tiến bộ xã hội. Thấm nhuần lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò sáng
tạo nên lịch sử của quần chúng nhân dân và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò và
sức mạnh vô địch của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra những bài học
quan trọng trong tiến trình cách mạng, trong đó có bài học lấy dân làm gốc. Xuất phát từ quan điểm đó, kết hợp với việc tổng
kết và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng ta đã nhận thấy rằng việc thực hiện
dân chủ trước hết và chủ yếu phải bắt đầu từ cơ sở, hướng
đến cơ sở. Điều này thể hiện sự sáng tạo của Đảng ta trong việc lãnh đạo, chỉ
đạo thực hiện dân chủ trong xã hội.
Khái niệm cơ sở có nhiều nghĩa khác nhau: Chỗ dựa,
căn cứ, nền móng… Xét từ góc độ quản lý hành chính nhà nước, cơ sở được hiểu là một cấp trong hệ thống quản lý bốn
cấp của tổ chức hành chính nước ta hiện nay, bao gồm nhiều loại hình khác nhau,
như xã, phường, thị trấn; doanh nghiệp, trường học, bệnh viện… Theo đó, có thể
hiểu, cơ sở là cấp độ cuối cùng, ở tầng
sâu nhất trong cấu trúc của hệ thống tổ chức xã hội - nhà nước của
Việt Nam; là địa bàn nhân dân sinh sống, làm việc, nơi diễn ra sự tương tác
thông qua các mối quan hệ trực tiếp về nhiều mặt giữa nhân dân với chính quyền. Trong bài viết này, cơ sở được chúng tôi đề cập tới ở đây là xã, phường và thị
trấn - cấp hành chính thấp nhất trong cấu trúc của tổ chức xã hội với tư cách một chỉnh thể.
Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện, đồng thời cũng là nơi kiểm nghiệm, đánh
giá một cách khách quan và chính xác nhất đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật
của Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Do đó, mặc
dù là cấp thấp nhất trong hệ thống tổ chức quản lý nhà nước, song cơ sở có vị
trí và tầm quan trọng đặc biệt, nó là hình ảnh thu nhỏ của xã hội. Thực tế cho
thấy, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội chính là dựa trên sự ổn định
và phát triển bền vững của cơ sở.
Dân chủ cơ sở thể hiện một cách tập trung nhất, rõ ràng nhất mọi quyền lực
nhà nước đều thuộc về nhân dân. Có thể hiểu, dân chủ cơ sở là sự bảo đảm và thực thi trên thực tế quyền làm chủ của
nhân dân ngay tại chính nơi họ sinh sống và làm việc. Thông qua bảo đảm
quyền dân chủ và thực hiện dân chủ cơ sở, người dân tham gia một cách tối đa
vào việc quản lý xã hội, kiểm tra và giám sát các hoạt động để thể hiện sự minh
bạch của chính quyền nhà nước các cấp, trước hết là chính quyền ở cơ sở. Nói
cách khác, dân chủ cơ sở là sự phản ánh
vị thế quyền lực của nhân dân ở cơ sở.
Dân chủ cơ sở được xem là nền tảng của một cộng đồng, một nhà
nước dân chủ; đồng thời là
nội dung cốt lõi của việc thực hiện dân chủ. Thực hiện dân chủ cơ sở chính là giải quyết đúng đắn những vấn đề
dân chủ được đặt ra từ thực tiễn cuộc sống: Mở rộng dân chủ và phát huy quyền
làm chủ của người dân ở cơ sở, thực hiện dân chủ có chiều sâu và trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Về cơ bản, thực hiện dân chủ là quá trình đưa
những giá trị dân chủ thành hiện thực trong cuộc sống. Thực hiện dân chủ “chính
là cơ chế, chính sách , những quy định, nguyên tắc... để đảm bảo cho mọi người
dân thực hiện quyền dân chủ của mình, là hiện thực hóa phương châm mà Đảng đã
xác định: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” [2,
tr.52-53]. Với quan niệm về dân chủ cơ sở
đã trình
bày ở trên, theo
chúng tôi, có thể hiểu thực hiện dân chủ cơ sở là quá trình hiện thực hóa những giá trị
dân chủ trong đời sống thực tiễn một cách trực tiếp và rộng rãi nhất tại chính
nơi người dân sinh sống và làm
việc hàng ngày. Nói cách khác, đó là quá trình hiện thực hóa quyền là chủ và
làm chủ của người dân thông qua thực hiện một cách trực tiếp và rộng rãi phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra” tại chính nơi họ sinh sống, làm việc.
Việt Nam là quốc gia đa dân
tộc, ngoài dân tộc Kinh là dân tộc chiếm đa số, còn có các dân tộc thiểu số
cùng tồn tại và phát triển. Trong Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc năm 2011 đã đưa ra định nghĩa: “Dân tộc thiểu số” là những dân
tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cũng trong Nghị định đó, khái niệm vùng dân tộc thiểu số được hiểu là “địa bàn có đông các dân tộc
thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Từ việc trình bày các khái niệm có liên quan như trên, có
thể hiểu thực hiện dân chủ cơ sở trong vùng dân tộc thiểu
số là quá trình hiện thực hóa những giá trị dân chủ trong đời sống thực tiễn
một cách trực tiếp và rộng rãi nhất tại chính nơi đồng
bào dân tộc thiểu số sinh sống và làm việc hàng ngày. Đó là
tổng thể các hoạt động của hệ thống chính trị và của nhân dân vùng dân tộc
thiểu số nhằm thực thi quyền làm chủ của đồng bào dân tộc thiểu số trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội trên cơ sở pháp luật của Nhà nước; quyền làm chủ
của nhân dân (các dân tộc thiểu số) được thực hiện trước hết và chủ yếu bằng
cách trực tiếp thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình tại nơi họ sống và làm
việc, thông qua những cơ chế,
chính sách và nguyên tắc theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm và
dân kiểm tra.
2. Như chúng ta đã biết,
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc; ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số dân cư còn
có hàng chục dân tộc thiểu số. Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở
các vùng miền núi, trung du, vùng sâu, vùng xa - những nơi mà điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội còn rất khó khăn, nhưng lại có vị trí, vai trò quan
trọng về phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng... Thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng Việt Nam với những dấu mốc: Cách mạng tháng Tám thành công, từ
1975 cả nước thống nhất và cùng bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội... đã đem lại một diện mạo mới cho đất nước. Đặc biệt, đời sống chính trị,
kinh tế, văn hóa và xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số đã có những thay
đổi theo hướng tích cực, tiến bộ; tuy nhiên, so với yêu cầu thì những kết quả
đạt được vẫn còn khá khiêm tốn. Trong điều kiện như vậy, có thể nói, với sự ra
đời của Chỉ thị 30/CT-TW về xây dựng và
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở do Bộ Chính trị ban hành ngày 18/2/1986
và sau đó là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ban hành ngày 20/4/2007, việc thực hiện dân chủ cơ sở ở nước ta
có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống chính trị, nhất là vùng đồng bào
dân tộc thiểu số - nơi mà trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó
khăn. Có thể khẳng định, việc thực hiện dân chủ cơ sở đã góp phần to lớn vào
việc giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, tạo điều kiện phát triển bền
vững vùng dân tộc thiểu số. Cụ thể là:
Thứ nhất, thực hiện dân chủ cơ sở tạo động lực
thúc đẩy tính tự giác, tích cực và sáng tạo của đồng bào các dân tộc thiểu số
với tư cách chủ thể của sự phát
triển.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam nói
chung và đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng đã và đang ra sức đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, xây dựng cuộc sống mới ngày càng ấm no, tự do và hạnh phúc, vì sự
phát triển toàn diện con người. Sự nghiệp cách mạng vĩ đại ấy trước hết và chủ
yếu do chính nhân dân thực hiện. Chủ trương của Đảng về thực hiện dân chủ ở cơ
sở là một trong những phương thức quan trọng, tạo động lực thúc đẩy công cuộc
cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, hướng
tới đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất và tinh thần của đồng bào
các dân tộc thiểu số. Việc xác lập một cách thực chất vị thế là chủ và làm chủ
của đồng bào trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua thực hiện dân
chủ ở cơ sở sẽ kích thích, huy động được cao nhất mọi năng lực của họ, bao gồm
cả tâm lực, trí lực lẫn sức lực, cả sức mạnh vật chất lẫn sức mạnh tinh thần,
cả vai trò của cá nhân lẫn vai trò của cộng đồng..., để lao động sáng tạo, tham
gia quản lý xã hội vì lợi ích của mình và đóng góp cho cộng đồng, xã hội. Có
thể nói, thực hiện dân chủ cơ sở tạo động lực quan trọng thúc đẩy tính tích
cực, tự giác và sáng tạo của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc phát triển
kinh tế - xã hội tại chính địa bàn mà họ sống và làm việc.
Thứ hai, thực hiện dân chủ cơ sở góp phần thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới tại các vùng dân tộc
thiểu số.
Thực hiện dân chủ cơ sở tức là trực tiếp phát huy quyền làm chủ của nhân
dân các dân tộc thiểu số nước ta trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không
chỉ là quyền làm chủ về chính trị, mà cả quyền làm chủ về kinh tế, văn hóa, xã
hội và bảo vệ trật tự, an ninh, quốc phòng... Sự tham gia tích cực và ngày càng
rộng rãi của họ góp phần giải quyết mọi vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của
đất nước cũng như của địa phương, từ quốc kế dân sinh đến những vấn đề liên
quan trực tiếp đến cuộc sống của cộng đồng dân cư ở cơ sở. Những việc làm của
họ - tích cực lao động sản xuất, bảo vệ an ninh, quốc phòng, môi trường, hăng
hái tham gia bàn bạc và đóng góp ý kiến vào các công việc chung... - không chỉ
thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của một công dân, mà trước hết và quan trọng
không kém - đó còn là quyền lợi trực tiếp, thiết thực của họ với tư cách người
chủ đích thực. Sự kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm là một phương thức giải
quyết nhanh chóng và hiệu quả cao trong giải quyết nhiều vấn đè kinh tế - xã
hội của địa phương.
Thứ ba, thực hiện dân chủ ở cơ sở góp phần tạo
sự đồng thuận, thống nhất và gắn kết sức mạnh cộng đồng.
Thực hiện dân chủ cơ sở là phương thức quan trọng để không chỉ bảo đảm, mà
còn không ngừng mở rộng và phát huy quyền làm chủ của đồng bào các dân tộc
thiểu số. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra vừa là phương châm, vừa là
quy trình thực hiện dân chủ. Bởi lẽ, để có thể thực hiện quyền làm chủ, dân chủ
của mình, trước hết đồng bào dân tộc thiểu số phải được cung cấp những thông
tin cần thiết về vấn đề nào đó, hiểu và nắm vững nó, tức là họ phải được “biết”. Trên cơ sở “biết”, đồng bào mới có thể tham gia
bàn bạc để lựa chọn, quyết định trong một số trường hợp cụ thể (hoặc bàn bạc để
tham mưu cho cấp có thẩm quyền ra quyết định) về một vấn đề hoặc công việc nào
đó liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ ngay tại nơi sinh sống và làm việc.
Người dân không chỉ được biết, bàn, mà còn là chủ thể trực tiếp thực hiện, tức
là “làm”. Đồng thời, họ cũng là lực
lượng tham gia “kiểm tra”, giám sát hoạt động của các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước cũng như đội
ngũ cán bộ tại cơ sở, như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã..., nhằm bảo
đảm tính công khai, minh bạch. Nói tóm lại, việc người dân được trực tiếp “biết, bàn, làm, kiểm tra”, tức là gắn với lợi ích của
họ, sẽ tạo nên sự đồng thuận, nhất trí cao và do vậy, tạo nên sức mạnh đoàn kết
để giải quyết những vấn đề đặt ra và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại
cơ sở. Đây rõ ràng là một vai trò hết sức quan trọng của việc thực hiện dân chủ
cơ sở trong vùng dân tộc thiểu số.
Thứ tư, thực hiện dân chủ cơ
sở góp phần ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực; đồng thời xây dựng hệ thống chính
trị ở cơ sở theo hướng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, được nhân dân ủy quyền, trao
cho nhà nước thông qua cơ chế đại diện. Tuy nhiên, khi quyền lực nhà nước tập
trung trong tay một số ít người, nếu không có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu
quả, thì nó rất dễ bị lạm dụng, dẫn đến tình trạng lộng quyền, độc đoán, quan
liêu, xa rời nhân dân, trở thành phương tiện để mưu lợi cá nhân. Việc thực hiện
dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân biết, bàn, làm và kiểm tra
chắc chắn sẽ góp phần quan trọng, hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, ức hiếp người dân của một bộ phận cán bộ có chức quyền nhưng
đã thoái hóa, biến chất; đồng thời ngăn chặn sự tha hóa của quyền lực nhà nước.
Mặt khác, đó cũng là biện pháp để xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng
trong sạch, vững mạnh, thực sự là của dân, do dân và vì dân.
3. Xã hội xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta đã và đang ra sức xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam mang đặc trưng khái quát là “dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh”. Tất nhiên, nền dân chủ mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ
lực hiện thực hóa từng bước, trước hết là ở cơ sở và trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội là dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tham gia một cách bình đẳng và
rộng rãi của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động vào các công việc quản lý
của Nhà nước và của xã hội. Sự tham gia một cách bình đẳng và rộng rãi của nhân
dân sẽ tạo nên chất lượng mới của nền dân chủ, làm thay đổi căn bản toàn bộ các
lĩnh vực của đời sống xã hội, thay đổi cả vị thế của người dân lẫn tính chất
của Nhà nước cũng như mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của công dân trong
quan hệ với Nhà nước, xã hội và cộng đồng. Theo đó, dân chủ không chỉ là mục
tiêu, mà còn là động lực, thước đo sự phát triển và tiến bộ xã hội. Đây chính
là ý nghĩa gấp triệu lần của nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa so với nền dân chủ tư sản mà V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh trước
đây.
Dân chủ ở cơ sở không phải là hình thức, mà là một cấp độ của chế độ dân
chủ. Nội dung của dân chủ cơ sở được thực hiện thông qua các hình thức dân chủ
trực tiếp và dân chủ đại diện [Xem: 5, tr.20]. Việc bảo đảm, không ngừng mở
rộng và phát huy dân chủ ở cơ sở không chỉ nhằm bảo đảm quyền tham gia vào công
ciệc quản lý nhà nước và xã hội của người dân, mà còn là một phương thức để
nâng cao sức mạnh và hiệu quả hoạt động của Nhà nước, trước hết là ở cơ sở,
trong đó cấp xã, phường, thị trấn là một loại hình cơ sở phổ biến.
Đồng bào các dân tộc thiểu số là bộ phận cấu thành cộng đồng các dân tộc
Việt Nam, vùng dân tộc thiểu số là bộ phận trong cấu trúc xã hội Việt Nam. Vì
vậy, thực hiện dân chủ cơ sở trong vùng dân tộc thiểu số, về thực chất, là triển
khai Chỉ thị 30-CT/TW ngày 18-2-1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) Về xây
dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; sau đó là Pháp lệnh số
34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20-4-2007 Về
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Theo đó, việc thực hiện dân chủ ở
cơ sở trên phạm vi cả nước nói chung và trong vùng dân tộc thiểu số nói riêng
diễn ra theo phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Biết, bàn, làm,
kiểm tra là 4 nội dung của một thể thống nhất biện chứng - quyền dân chủ của
nhân dân ở cơ sở. Những khâu đó có mối liên hệ chặt chẽ, thể hiện quy trình
thực hiện dân chủ.
Điểm cốt lõi, mấu chốt quan trọng nhất cần được
thống nhất cả trong nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn đối với vấn đề thực hiện
dân chủ cơ sở ở nước ta nói chung và vùng dân tộc thiểu số nói riêng là chủ thể
của dân chủ chính là dân - dân là chủ,
đồng thời dân cũng chính là người làm chủ,
như Hồ Chí Minh đã khẳng định.
Có thể nói, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là
những khâu căn bản nhất có liên quan chặt chẽ với nhau và theo một trình tự hết
sức lôgíc, nhờ vậy mà dân chủ ở cơ sở được thực hiện. Nó được xem như một
phương châm, bởi dân chủ hiện diện trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, từ dân chủ trong chính trị, trong kinh tế đến trong văn hóa, xã hội; song,
dù là ở lĩnh vực nào thì nhân dân cũng phải được biết, bàn, làm và kiểm tra. Có
như vậy mới đích thực dân là chủ và dân làm chủ. Tất nhiên, những cái gì phải
công khai cho dân biết, họ được bàn cái gì và kiểm tra như thế nào... còn là do
pháp luật quy định. Điều quan trọng ở chỗ, trong tất cả các khâu đó trong quy
trình thực hiện dân chủ ở cơ sở, người dân đều đóng vai trò là chủ thể: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Đó cũng chính là những nội dung căn
cốt nhất của dân chủ ở cơ sở.
Nội dung thứ nhất - dân biết:
Dân biết là yêu cầu, là nội dung quan trọng đầu tiên của dân chủ. Người dân ở cơ sở phải được biết những chủ trương,
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, những vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc
sống hàng ngày của họ trên địa bàn.
Dân chủ là quyền tham gia của người dân vào quản lý
các công việc của Nhà nước, xã hội và cộng đồng. Để thực hiện quyền đó cũng như
thu hút nhân dân tham gia quản lý công việc của Nhà nước, xã hội và cộng đồng
một cách thực sự hiệu quả, thì trước hết họ phải được biết, được cung cấp thông
tin đầy đủ và có định hướng, từ đó giúp họ có thể xử lý thông tin đã tiếp nhận,
hình thành nên ý kiến, quan điểm cũng như thái độ của mình về vấn đề nhất định.
Đây là một yêu cầu hết sức quan trọng, nhưng cũng rất chính đáng, tạo lập những
căn cứ, cơ sở để người dân tham gia bàn bạc, thảo luận và góp ý xây dựng các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trước hết là ở cơ sở - nơi họ trực
tiếp sinh sống và làm việc. Nói cách khác, dân biết là điều kiện tiên quyết để
các khâu khác - bàn, làm, kiểm tra -
trong toàn bộ quy trình “Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” được triển khai thực
hiện một cách thực sự có chất lượng. Rõ ràng, nếu người dân không biết hay
không được biết về một vấn đề nhất định nào đó thì họ cũng không thể tham gia
bàn bạc, thực hiện (làm) và càng không thể kiểm tra, giám sát. Do dân biết có
vị trí và tầm quan trọng đặc biệt như vậy cả về phương diện nhận thức lẫn
phương diện hoạt động thực tiễn, nên làm cho dân biết thông qua việc cung cấp
đầy đủ, kịp thời, trung thực và khách quan các thông tin cần thiết và có liên
quan là trách nhiệm hàng đầu của hệ thống chính trị trong
thực hiện dân chủ ở cơ sở, mà trước hết là của đảng bộ và chính quyền ở cơ sở
với tư cách những tổ chức phục vụ nhân dân. Các quyền được cung cấp thông tin
của nhân dân và trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước, trước
hết ở cấp cơ sở cho nhân dân là những điều đã được quy định rõ trong nhiều văn
bản pháp luật của Nhà nước.
Một tất yếu khách quan khác là việc thông tin để
dân biết đặt ra yêu cầu phải mở rộng
tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Vì
thế, các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số, nhất là
Ủy ban nhân dân xã phải đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa để nhân dân nắm
được chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, những vấn đề trực tiếp liên quan đến đời sống hàng ngày của nhân
dân trên địa bàn thông qua nhiều hình thức đa dạng, như tuyên truyền, các bản tin
thông báo, hệ thống đài phát thanh, công bố trong các cuộc họp Hội đồng nhân
dân, các đoàn thể chính trị - xã hội hoặc họp dân...
Liên quan chặt chẽ đến việc dân
biết là vấn đề dân trí. Hiển nhiên là trình độ dân trí có cao thì việc tiếp
nhận, xử lý thông tin... của người dân mới hiệu quả. Nói cách khác, dân trí có
liên hệ mật thiết đến năng lực làm chủ của người dân, đặc biệt là ở các vùng
dân tộc thiểu số nước ta hiện nay.
Nội dung
thứ hai - dân bàn:
Dân bàn là nội dung quan trọng tiếp theo thể hiện dân chủ ở cơ sở. Người
dân tham gia bàn bạc, thảo luận và đóng góp ý kiến về một vấn đề nào đó được
đưa ra bàn trên cơ sở họ đã biết, đã được cung cấp thông tin. Bàn bạc là để đi
đến thống nhất; bàn để tham gia, bàn để quyết định và bàn để thực hiện. Do đó,
nhân dân được tự do đề xuất ý kiến, quan điểm của mình. Đây là một trong những
hình thức thể hiện tự do ngôn luận - một trong những quyền dân chủ cơ bản. Tất
nhiên, việc bàn bạc, thảo luận phải được tiến hành trên tinh thần xây dựng, có
tổ chức và kỷ luật.
Thông qua sự bàn bạc, thảo luận và đóng góp ý kiến
một cách dân chủ, trí tuệ và năng lực sáng tạo của nhân dân sẽ được phát huy
góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; xây dựng, bổ sung và hoàn thiện chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Có thể nói, phát
huy trí tuệ của nhân dân thông qua sự góp ý, bàn bạc của họ không chỉ là thực
hiện dân chủ cơ sở, mà đó còn là một cách thức, phương thức khai thác nguồn lực
nội sinh để phát triển. Nói cách khác, tổ chức tốt việc dân bàn tại cơ sở chính
là một cách phát huy vai trò động lực của dân chủ.
Để việc dân bàn thực sự có tác dụng tích cực, ngoài
yêu cầu làm tốt khâu dân biết trước đó, còn đòi hỏi phải làm tốt công tác tổ
chức. Đây là trách nhiệm của các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở cơ sở. Theo
đó, các tổ chức thuộc hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là chính quyền cấp
xã phải tạo điều kiện cho nhân dân được bàn bạc, khơi dậy và lắng nghe ý kiến
đóng góp của họ, tổng hợp và biết chắt lọc từ đó những hạt nhân, những giá trị
hợp lý để tiếp thu, bổ sung và hoàn thiện chủ trương, chính sách phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương.
Nội dung
thứ ba - dân làm:
Dân làm được xem như một thước đo đánh giá dân chủ,
thể hiện trình độ nhận thức và mức độ hiệu quả của dân chủ như một giá trị xã
hội. Trên cơ sở được biết, được bàn và đi đến sự thống nhất về chủ trương,
chính sách, với tư cách chủ thể sáng tạo nên lịch sử chân chính của mình, nhân
dân là lực lượng chủ đạo có trách nhiệm tự giác, tích cực thực hiện, đưa các
chủ trương, chính sách đó của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Nhiệm
vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội ở cơ sở là chỉ đạo, hướng dẫn
và tổ chức cho người dân thi hành, hình thành những phong trào thi đua rộng
rãi, những hoạt động thực tiễn thiết thực để “dân làm” đạt hiệu quả, góp phần
hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành những giá
trị vật chất và giá trị tinh thần cụ thể.
Hiệu quả của “dân làm” cao hay thấp phụ thuộc vào
chỗ các chủ trương, chính sách, các công việc triển khai trong thực tiễn có phù
hợp với nguyện vọng, lợi ích của người dân hay không; họ có được biết rõ, bàn
bạc thấu đáo và đạt được sự thống nhất cao hay không. Cả lý luận lẫn thực tiễn
đã chỉ ra rằng, mọi hành động của con người đều thông qua đầu óc của họ, tức
xuất phát từ sự nhận thức, đồng thời được thúc đẩy bởi những lợi ích nhất định.
Do đó, để “dân làm” một cách tự giác, tích cực, sáng tạo và hướng tới những giá
trị chung của cộng đồng và xã hội, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội ở
cơ sở phải coi trọng giải quyết đúng đắn, hợp lý mối quan hệ lợi ích giữa cá
nhân, tập thể và xã hội, đồng thời tôn trọng và bảo đảm các quyền dân chủ của
con người với tư cách cá nhân.
Nội dung
thứ tư - dân kiểm tra:
Dân kiểm tra là khâu đặc biệt quan trọng, thể hiện
quyền dân chủ của nhân dân nhằm góp phần xây dựng và củng cố hệ thống chính
trị, trước hết là ở cấp cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời, nhằm
bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Đây là khâu cuối của một chu
trình quản lý nhà nước nhằm kiểm tra, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm việc
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
trên mọi phương diện của đời sống xã hội ở cấp cơ sở. Nội dung cơ bản của hoạt
động này là nhân dân thực hiện sự kiểm tra, giám sát đối với những hoạt động
của các cơ quan nhà nước cũng như với cán bộ, công chức và viên chức ở cấp cơ
sở. Đó là sự thể hiện cao nhất quyền làm chủ của người dân, bản chất Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Nói cách khác, đó là sự
thể hiện tập trung nhất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Cũng giống như các nội dung khác của dân chủ ở cơ
sở, quyền dân chủ của nhân dân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ
quan nhà nước và các cán bộ, công chức và viên chức được thực hiện dưới hình
thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Họ có thể trực tiếp tham gia kiểm
tra, giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền; có thể gián tiếp thực hiện quyền kiểm tra, giám sát thông qua cơ
chế đại diện, chẳng hạn như Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của
cộng đồng...
Việc nhân dân thực hiện sự kiểm tra với tư cách một
nội dung của quyền dân chủ có ý nghĩa hết sức to lớn, nó không chỉ giúp thực
hiện hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, mà còn ngăn
chặn sự tha hóa quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan
liêu, lợi dụng chức quyền để mưu lợi cá nhân; góp phần bảo đảm quyền làm chủ
của nhân dân, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung và trong
vùng dân tộc thiểu số nói riêng. Để việc kiểm tra, giám sát được thuận lợi,
đúng thực chất và chính xác, các cơ quan, tổ chức và cá nhân cán bộ, viên chức
ở cơ sở có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu cần
thiết cho Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng; tiến hành
xem xét, giải quyết và trả lời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân
hoặc kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng...
Thực chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tham
gia một cách bình đẳng và rộng rãi của nhân dân vào quản lý công việc của Nhà
nước và xã hội. Những nội dung căn cốt nhất về dân chủ ở cơ sở, trong đó có
vùng dân tộc thiểu số là dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và các quyền dân chủ đó chỉ được thể hiện đầy đủ,
đích thực trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng và
hoàn thiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
[1] Ban Dân
vận Trung ương (1997), “Dân biết, dân
bầu, dân làm, dân kiểm tra”: Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn (Sách tham khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
[2] Phạm
Văn Đức (Chủ biên) (2017), Thực hành dân
chủ trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
[3] Hội đồng Quốc gia chỉ đạo
biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, t.1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách
khoa Việt Nam, Hà Nội.
[4] Từ điển Triết học (1986),
Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
[5] Lê Thi (2009), Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng
cường ý thức trách nhiệm của Nhà nước, Tạp chí Triết học, số 8 (219).
Tác giả: TS. Nguyễn Đình Hòa - Viện Triết học