NHỮNG NỖ LỰC ĐIỀU CHỈNH TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HÓA - GIÁO DỤC CỦA MINH MỆNH VÀ HỆ QUẢ CỦA NÓ
Tóm tắt: Bài viết phân tích các cơ hội cho sự
củng cố sức mạnh quân sự quốc gia và phát triển sức mạnh kinh tế của đất nước
do bối cảnh khu vực và trong nước đem lại vào thời kỳ Hoàng đế Minh Mệnh cai
trị. Với uy quyền và tài năng của mình, Minh Mệnh đã phát triển quốc gia trên
một số phương diện. Ông cũng đã có một số nỗ lực tiếp nhận văn minh phương Tây
nhưng điều đó không làm thay đổi lựa chọn kiên định và nhất quán đường lối văn
hóa - giáo dục theo Nho giáo của ông. Sự lựa chọn đó đã làm hạn chế rất nhiều
sự nắm bắt vận hội phát triển của đất nước thời kỳ này. Và, đó là một nguyên
nhân khởi đầu những bất cập của nền chính trị triều Nguyễn sau thời Minh Mệnh
với những hệ quả căn bản trên các phương diện chính trị, văn hóa và kinh tế,
khiến Việt Nam bỏ lỡ cơ hội củng cố và phát triển toàn diện sức mạnh và vị thế
quốc gia trong khu vực.
Từ khóa: Minh Mệnh, văn hóa Nho giáo, văn minh phương Tây.
Tư duy văn hóa - giáo dục có ý nghĩa quyết định tới
sự phát triển của một dân tộc. Sự lựa chọn và củng cố đường lối văn hóa - giáo
dục theo Nho giáo, kiên quyết chối từ tiếp nhận và học hỏi các giá trị văn hóa,
khoa học phương Tây của Hoàng đế Minh Mệnh đã giúp ông củng cố sự vững mạnh của
triều đại trong ngắn hạn, đồng thời cũng làm suy giảm nhiều nguồn lực tiềm năng
của đất nước và bỏ lỡ một cơ hội lịch sử để phát triển đất nước giàu mạnh.
1. Cơ hội phát triển quốc gia và tầm nhìn của Minh
Mệnh
Lịch sử khu vực Đông Á thế kỷ XIX, trong đó có Việt
Nam là lịch sử sự va chạm mạnh mẽ giữa hai nền văn minh Á - Âu, giữa văn hóa
Nho giáo và văn hóa Kitô giáo, giữa tư tưởng Nho giáo với các triết thuyết và
khoa học phương Tây. Trước sự va chạm đó, đời sống tư tưởng các nước Đông Á đều
có những biến động sâu sắc theo nhiều xu hướng và tùy thuộc rất lớn vào quyết
định của vị quân vương nắm quyền thống trị của mỗi quốc gia.
Thế giới bên ngoài nhãn quan Nho giáo trong giai
đoạn trị vì của Minh Mệnh (1820-1840) có rất nhiều biến động với sự phát triển
mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế hàng hải, đặt ra cơ hội lớn để phát
triển kinh tế quốc gia, nhưng cũng là thách thức rất nghiêm trọng về chủ quyền
đối với Việt Nam. Những thuyền buôn Anh, Pháp, Mỹ thèm khát thị trường tiêu thụ
hàng hóa và cung cấp nguyên liệu cho nền sản xuất chính quốc liên tục cập bến
các nước phương Đông và Việt Nam, xin được thông thương, gia tăng yêu sách ký
kết hiệp ước thương mại chính thức với triều đình Minh Mệnh(*).
Trong khi đó, sau gần 20 năm vương triều Nguyễn thiết
lập nền thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Minh Mệnh đã được thừa hưởng một
quốc gia với những điều kiện đầy tiềm năng cho sự củng cố, phát triển vương
triều, như một lãnh thổ thống nhất rộng lớn từ Móng Cái tới mũi Cà Mau, một
triều đình đã dần đi vào khuôn khổ phong kiến trung ương tập quyền với nhiều
tướng lĩnh tài giỏi, lão luyện và đội ngũ quan lại giàu tài năng, nhiệt huyết
kinh bang tế thế và khối cư dân đông đúc, đa sắc tộc khao khát hòa bình, yên ổn
làm ăn. Gia Long cũng để lại cho triều vua kế nhiệm một nhóm quan binh người
Pháp mong muốn được triều đình sử dụng các khả năng kỹ thuật, văn minh phương
Tây vào các công việc xây dựng, kỹ thuật, sản xuất liên quan đến bộ Công. Minh
Mệnh cũng là người nắm chắc và cập nhật thông tin về sự đổi thay mạnh mẽ của
thế giới bên ngoài Trung Hoa do tác động của trào lưu tư bản chủ nghĩa tràn
sang châu Á kiếm tìm thị trường(**).
Tuy
nhiên, vị vua thông minh, quyết đoán và đầy uy quyền đã nhìn nhận và phân tích
vấn đề theo nhãn quan chính trị Nho giáo cực đoan của mình để định đoạt các
giải pháp chiến lược. Những vấn đề vĩ mô phức tạp nhằm mục đích tối thượng là
củng cố vững chắc chế độ thống trị của nhà Nguyễn, như khẳng định tính chính
thống của triều đại theo quan điểm Nho giáo; bảo vệ, củng cố quyền thống trị
tuyệt đối, không chia sẻ của họ Nguyễn; ổn định lòng dân bằng phương thức khôi
phục lại nền kinh tế trọng nông nghiệp và củng cố lại hệ chuẩn giá trị đạo đức
Nho giáo; củng cố sự thống nhất quốc gia bằng phương thức tổ chức lại bộ máy
quản lý hành chính theo hướng trung ương tập quyền chuyên chế và phát triển nền
giáo dục - đào tạo khoa cử, v.v., vẫn là những vấn đề căn bản chi phối mạnh mẽ
tư duy chính trị của nhà vua. Hoàng đế Minh Mệnh đã tiếp tục xử lý những vấn đề
này theo hướng kiên định và cực đoan hơn nhiều so với cha mình là Gia Long, vị
hoàng đế sáng lập triều Nguyễn.
Minh Mệnh đặc
biệt chú trọng tới công cuộc khẳng định tính chính danh của vương triều là
triều đại thống trị tuyệt đối thuận theo mệnh trời. Đây được coi là sứ mệnh
chính trị quan trọng nhất của nhà vua. Việc triển khai sứ mệnh này được Minh
Mệnh quyết liệt tiến hành theo ba hướng. Hướng
thứ nhất là tiếp tục trừng phạt các nhóm chống đối và có nguy cơ chống đối
cả về mặt sức mạnh vũ trang và sức mạnh tinh thần trên mọi miền đất nước, như
Công giáo, các nhóm phiên thuộc luôn tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc vào triều
đình, các nhóm chống đối là tàn dư của các triều đại trước, các nhóm bất mãn
với nền thống trị mới, trong đó bao gồm cả nhóm gồm một số quan lại bất mãn với
chính sách cai trị hay muốn chia sẻ quyền lực của vương triều. Hướng thứ hai là liên tục củng cố và mở
rộng lãnh thổ quốc gia về phía Tây và Tây Nam. Và hướng thứ ba là củng cố, hoàn thiện chế độ khoa cử Nho giáo, đào
tạo đội ngũ quan lại trung thành tuyệt đối với Nho đạo và triều Nguyễn.
Có thể nói, cả ba hướng của quá trình khẳng định tính
chính danh thống trị tuyệt đối và quyền lực chính đáng của triều Nguyễn được
Hoàng đế Minh Mệnh tiếp nối Gia Long thực hiện hết sức thành công xuyên suốt
trong toàn bộ thời gian thống trị của mình. Suốt quá trình này, Minh Mệnh đã
tận dụng những thời cơ lớn, lựa chọn đường lối chính trị kiên định, nhất quán,
sử dụng phương pháp quân sự kết hợp chính trị và ngoại giao hết sức kiên quyết
và khôn khéo để dập tắt mọi âm mưu cát cứ và các cuộc phiến loạn chống lại
triều đình, củng cố vững chắc sự thống trị tuyệt đối của triều Nguyễn. Kế thừa
triệt để quan điểm chính trị của vua cha trong văn hóa, thương mại và đối
ngoại, Minh Mệnh tin rằng bế quan tỏa cảng sẽ giúp ngăn chặn các nước phương
Tây không có cơ hội hoạt động gây hại cho sự thống trị tuyệt đối của nhà
Nguyễn. Kiến thức về sự bành trướng quyền lực của Anh tại Ấn Độ và sự lấn lướt
của các nước phương Tây ở các tỉnh duyên hải Trung Quốc với sự thất thế của nhà
Thanh trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất càng củng cố cho quan điểm cự
tuyệt giao thương, ngoại giao, cấm truyền bá đạo Công giáo và từ chối tiếp thu
văn hóa phương Tây của nhà vua để bảo vệ chủ quyền quốc gia và uy quyền thống
trị đất nước của nhà Nguyễn[1].
Trước những nhượng bộ của nhà Thanh cho phép liên quân Anh, Pháp, Đức, Mỹ được
tự do thương mại và lập trụ sở giao thương tại các thành phố duyên hải Trung
Quốc, Minh Mệnh đã không đánh giá được sức mạnh ưu việt về vũ khí, kỹ thuật và
nguồn lực vật chất của nền văn minh phương Tây “có thể công phá mọi thành trì
phong kiến kiên cố nhất” so với nền văn minh Nho giáo chính là lý do nhà Thanh
thất bại trong cuộc chiến tranh này. Vì vậy, ông cho rằng nguyên nhân thất bại
nằm ở khía cạnh vị lợi của quan lại nhà Thanh đã “tối mắt bởi viễn tưởng về lợi
nhuận từ thương mại với “người man di” mà quên giữ những phòng bị cần thiết”
[Xem: 11], và khẳng định Việt Nam sẽ không phạm phải sự sai lầm như vậy.
Trên cả ba hướng của phương diện củng cố tính chính
danh thống trị quốc gia này, Nho giáo đã tiếp tục được Minh Mệnh sử dụng và
củng cố triệt để, có vị thế tối cao, hơn hẳn mọi hệ tư tưởng, tôn giáo khác
cùng thời kỳ, góp phần to lớn và cực kỳ quan trọng vào việc củng cố ý thức hệ
phong kiến. Nho giáo đã tiếp tục được Minh Mệnh sử dụng là hệ tư tưởng chính
thống, độc tôn để xây dựng và củng cố triều đại cũng như giáo dục, đào tạo đội
ngũ quan liêu trung thành với triều đình, để hoạch định đường lối, chính sách
đối ngoại, kinh tế và giáo dục nhằm đối phó với những nguy cơ tiềm ẩn xâm hại
về chủ quyền quốc gia và quyền thống trị của triều Nguyễn đang ngày càng bộc lộ
rõ ràng. Có khoảng gần 300 cuộc nổi dậy và can thiệp lớn nhỏ trong và ngoài
nước đã bị trấn áp, bình định dưới thời trị vì của Minh Mệnh giúp cho vương
quyền triều Nguyễn trở nên vững chắc hơn bao giờ hết. Lãnh thổ và lãnh hải Việt
Nam trở nên rộng lớn chưa từng có trong lịch sử. Công giáo bị cấm truyền bá hết
sức gắt gao và bị kiểm soát nghiêm ngặt, đối kháng với xu thế thống trị ý thức
hệ phong kiến và lan tỏa các tri thức văn hóa và chuẩn mực đạo đức của Nho
giáo. Có thể nói, cùng với sự rộng lớn chưa từng có về quốc gia là sự phát
triển sâu rộng chưa từng có của văn hóa Nho giáo dưới triều đại Minh Mệnh trị
vì.
Tuy nhiên,
những định hướng chính trị Nho giáo rất thành công trong thực tiễn xây dựng một
quốc gia thống nhất và hùng mạnh về cương giới và văn hóa đó đã làm mờ đi nhận
thức về tầm quan trọng của việc củng cố, nâng cao sức mạnh kinh tế là một trong
hai yếu tố căn bản của sức mạnh quốc gia, làm mờ đi nhận thức về cơ hội phát
triển đất nước mà văn minh vật chất phương Tây đem lại qua sự mở cửa giao lưu
thương mại, văn hóa, khoa học. Mải mê với sứ mệnh củng cố tính chính thống của
triều đại bằng những phương thức truyền thống dùng sức mạnh quân sự để trấn áp
các lực lượng chống đối và áp đặt các giá trị văn hóa - giáo dục hệ tư tưởng
Nho giáo trong xã hội, lựa chọn đóng cửa, bế quan tỏa cảng, từ chối tiếp nhận
văn minh phương Tây, Minh Mệnh đã không chịu nhìn nhận khao khát của nhân dân
được yên ổn sinh sống, đã quên mất một phương châm tối quan trọng của đường lối
chính trị nhân nghĩa Nho giáo “phú, thứ, giáo” để thấy rằng phương án gia tăng
sức mạnh kinh tế phi truyền thống cũng là một hướng quan trọng cho việc củng c ố
sự ủng hộ của dân chúng đối với triều đại của ông. Do đó, Minh Mệnh đã từ chối
cơ hội lớn hoàn toàn nằm trong khả năng thực hiện của ông[2]
là đưa đất nước phát triển sang một hướng mới, độc lập và giàu mạnh theo con
đường chủ động mở cửa giao thương, trao đổi văn hóa và học thuật với phương
Tây, một con đường quá xa lạ với nhận thức chính trị, đạo đức Nho giáo về xã
hội lý tưởng vua sáng, tôi hiền.
2. Những nỗ lực trong điều chỉnh tư tưởng văn hóa -
giáo dục của Minh Mệnh
Khó có thể tìm ra bất cứ dấu hiệu nào cho thấy Minh
Mệnh dao động hay nhượng bộ trước ảnh hưởng của phương Tây trong tư tưởng văn
hóa - giáo dục theo Nho giáo của ông. Minh Mệnh tiếp tục củng cố tư tưởng văn
hóa - giáo dục khoa cử, đào tạo nhân tài thời Gia Long qua các thiết chế khoa
cử và giáo hóa: “Khoa mục là con đường bằng phẳng của học trò, thực không thiếu
được. Phải nên giáo dục thành tài, rồi sau thi Hương, thi Hội lần lượt cử hành,
thì người hiền tài sẽ nối nhau lên giúp việc” [6, tr.527]. Nho học được coi là
bệ đỡ cho tư tưởng giáo dục, thể hiện rõ qua việc lựa chọn chữ Hán làm ngôn ngữ
trong quản lý nhà nước, sử dụng trong trường học, khoa cử và văn học. Minh Mệnh
triệt để tuân theo quan điểm của khoa cử Trung Quốc khi nhìn nhận vai trò quan
trọng của giáo dục Nho học là sợi dây gắn kết lực lượng quan liêu phục vụ cho
bộ máy nhà nước, đồng thời là thước đo giá trị của giới nho sĩ trí thức. Bản
thân ông tự nhận: “Trẫm từ khi làm thái tử, sau khi vấn an được nhàn rỗi, không
làm việc gì, chỉ chăm xem sách. Phàm những sử Hán Đường Tống Nguyên Minh, không
bộ nào là không xem” [2, tr.249-250]. Do đó, Nho học là tín niệm không phải bàn
cãi trong đường lối giáo dục, khoa cử của Minh Mệnh: “Ta muốn triệu dân các
người chăm chỉ chính học, biết rõ luân lý. Đạo Nghiêu Thuấn chỉ có hiếu đễ mà
thôi, đạo Khổng Mạnh thì lấy nhân nghĩa làm đầu” [4, tr.10], “vậy hạ lệnh cho
đình thần hết lòng bàn kỹ, phàm phép giảng dạy ngày thường như thế nào có thể
đào tạo được nhiều học trò, phép khảo thí như thế nào có thể lấy được thực tài,
cùng là cách phân biệt học thần hay dở” [3, tr.200].
Hết sức lạ lùng là mặc dù Gia Long có mối quan hệ
rộng rãi với nhiều người Pháp và châu Âu, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự, buôn
bán, xây dựng, chẳng hạn, trong khoảng từ 1780 đến 1820, có khoảng 400 người
Pháp giúp việc cho nhà vua [Xem: 10, tr.16] nhưng mô hình giáo dục phương Tây
không để lại dấu vết gì trong sự nghiệp giáo hóa của triều Nguyễn, kể cả dưới
thời Gia Long và sau đó. Do vậy, tư tưởng văn hóa - giáo dục của Minh Mệnh hoàn
toàn tuân thủ Nho giáo là điều không khó lý giải. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có
thể tìm thấy một số biểu hiện điều chỉnh trong tư tưởng văn hóa - giáo dục của
ông, dù là hết sức nhỏ nhoi.
Trước hết, bản thân Minh Mệnh đã sớm nhận ra những
bất cập trong giáo dục, đào tạo khoa cử, nhất là sự không tương thích giữa sở
học và sở hành: “Ta thường thắc mắc về việc dùng người. Đại để, dùng khoa mục
để kén lấy kẻ sĩ, vẫn là đường chính. Nhưng cái sở học của họ lại khác với sở
hành” [6, tr.117], “sĩ tử ngày thường chỉ chuyên học sách vở, nhớ được một hai
việc đời xưa thôi. Còn sự thể triều đình và thể chế về điện, các, lâu đài ở
Kinh thành, chưa từng am hiểu, sợ không làm được nên văn” [6, tr.212].
Trong quá
trình thực tiễn điều hành xử trí việc công, ông cũng nhận thấy rất nhiều bất
cập của đội ngũ quan lại, cho dù triều đình đã có rất nhiều chính sách khuyến
khích người tài và nhiều lần ra chiếu cầu hiền: “Kẻ có văn học vị tất giỏi về
chính sự, nhưng cũng chưa có ai học nuôi con rồi mới lấy chồng. Người làm thú
mục không tham lam, không phiền nhiễu thì làm chính sự có gì khó. Nếu không thế
thì dù văn học có nhiều cũng chẳng dùng được” [7, tr.151].
Đặc biệt, vào
giai đoạn các thông tin về chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất đem lại những khả
năng xấu ảnh hưởng tới triều chính và chủ quyền quốc gia, Minh Mệnh đã có những
băn khoăn, phản tỉnh về phương thức đối phó với phương Tây. Ông không còn tuyệt
đối tin tưởng vào phương án thụ động củng cố tuyến phòng thủ bờ biển đã áp
dụng, khi nghe tin những chiến hạm với trọng pháo phương Tây có tốc độ di
chuyển nhanh và sức chiến đấu vượt trội đã tấn công Nam Kinh và chiếm đoạt các
bờ biển Trung Quốc, đem tới những nguy cơ đen tối về một thất bại tương tự nếu
Đại Nam bị tấn công. Vì vậy, Minh Mệnh đã chủ động cử các phái đoàn ngoại giao
tới London, Batavia và Paris với hy vọng biết thêm về các khả năng và ý đồ của
phương Tây [Xem: 11].
Từ những thay đổi nhận thức trên cơ sở bám sát thực
tiễn điều hành quốc gia như đã nêu, Minh Mệnh đã có một số nỗ lực để thay đổi
chính sách văn hóa - giáo dục và thay đổi suy nghĩ của chính ông. Có thể kể một
số không nhiều các thay đổi chính sách đó trong suốt 20 năm trị vì của Minh
Mệnh:
Một là,
không ít lần Minh Mệnh ra chỉ dụ kén chọn con em khôi ngô, có năng lực cử đi
học ngoại ngữ để dịch sách vở ngoại quốc và làm thông ngôn cho triều đình: “Nên
cho học tập ngôn ngữ cùng cách viết chữ nước ngoài, để đủ làm thông dịch. Chuẩn
cho các ấn quan, những bộ, viện, các, cùng kinh doãn được chọn lựa con em các
thuộc viên, hoặc sĩ dân từ 16 tuổi trở lên, tư chất minh mẫn, lại lược thông
nghĩa kinh sách, bộ thần gom góp tâu lên, khiến các học trò học tập thành tài,
lượng xét cho lục dụng” [8, tr.254].
Hai là, ra
chỉ dụ kiếm tìm sách cũ, sách hiếm, sách lạ của ngoại quốc: “Mở sách ra coi
những sự tích hưng phế và chế độ đổi thay của các đời trước, cùng là các nhân
vật hay dở, phong thổ đồng dị, thường nghĩ góp nhặt lấy để tham khảo... Ai có
sách vở đời trước để lại, hoặc tạp chí của tư gia và bí thư của ngoại quốc đều
cho phép đem đến hiến, trẫm sẽ hậu thưởng”[9, tr.79].
Ba là, sử
dụng phương pháp khảo cứu phương Tây để mở rộng và chính xác các kiến thức,
hiểu biết về tự nhiên. Ông ra lệnh khảo cứu, sưu tầm, ghi chép tên các loại cỏ
cây, chim cá, biên tập thành sách để làm căn cứ thống nhất tên gọi cho đúng và
rõ ràng: “Tên các cây cỏ chim muông, trước nay theo nhau xưng hô, phần nhiều
chưa được rõ ràng, cũng nên một phen khảo cứu để gọi đúng tên... trước hết đem
những loài chim cá ra tham khảo bàn định với nhau mà ghi chép thành sách” [9,
tr.101].
Bốn là,
chính Minh Mệnh đã sử dụng kiến thức, thành tựu khoa học kỹ thuật, văn hóa
phương Tây trong quân sự, ngoại giao, đời sống xã hội... để chỉ đạo nâng cao
sức mạnh quân sự, tăng hiệu quả sử dụng vũ khí sát thương binh lực giặc, giữ
gìn quốc thể và thế bình đẳng với phương Tây trong đối ngoại hay giúp cho sinh
hoạt trong cuộc sống được thuận lợi. Ví dụ, nhà vua chỉ đạo cấp đá lửa sử dụng
cho máy bắn đá của súng điểu sang, dùng thuốc tây để chữa trị vết thương cho
quân lính, duy trì việc bắn súng đáp lễ các tàu buôn ngoại quốc theo thể lệ
phương Tây, chế ra xe chở nước làm máy nước sinh hoạt trong cung, làm xe chữa
cháy có bình chứa nước và vòi cứu hỏa [Xem: 6, tr.110], v.v.. “Chấn địa lôi là
thứ lợi khí giết giặc, nên truyền lệnh kín cho bọn pháo thủ dùng cái thước ở
súng mà ước lược tính độ số, thường nhắm vào trong pháo đài của giặc mà bắn,
cốt bắn sao thật trúng” [6, tr.24, 57, 58]...
Năm là,
Minh Mệnh còn cử người đi khảo sát, nghiên cứu thời tiết, phong thổ, luồng lạch
hải trình vùng biển Đông, bao gồm hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo
đơn lớn nhỏ trong vùng, theo kỹ thuật vẽ bản đồ phương Tây để hoàn thành “Đại
Nam nhất thống đại toàn đồ” vào năm 1838. Đây là bản đồ phản ánh chính xác và
khoa học toàn bộ cương giới quốc gia Việt Nam trên biển và đất liền, có giá trị
nhất thời phong kiến độc lập.
Những ví dụ trên cũng cho chúng ta thấy, rõ ràng đây
là những nỗ lực của Minh Mệnh ứng dụng tri thức khoa học kỹ thuật phương Tây
vào một số mặt của đời sống, dù sự ứng dụng này không có tính hệ thống. Mặc dù
những ứng dụng được coi là sáng kiến của nhà vua này về thực chất là ứng dụng
tri thức khoa học kỹ thuật phương Tây, những tri thức mà ông đã đọc trong sách
vở hay có được từ những tiếp xúc với những người Âu phục vụ trong triều đình
vua cha, nhưng Minh Mệnh luôn không thừa nhận sự ảnh hưởng gián tiếp này.
Đồng thời, việc sử dụng tri thức khoa học, kỹ thuật
của Minh Mệnh như nêu ở trên cũng cho thấy ông hoàn toàn không có ý định thay
đổi tư tưởng chỉ đạo trong giáo dục, đào tạo, xây dựng văn hóa của triều đại.
Ví dụ, một việc rất thiết thực và được Minh Mệnh rất chú trọng nhằm đáp ứng nhu
cầu thông tin, ngoại giao của triều đình là công tác đào tạo phiên dịch, cũng
được nhà vua trực tiếp chỉ đạo phải giới hạn trong phạm vi độc tôn giáo dục Nho
giáo: “Việc giảng tập ở dịch quán, chỉ muốn thông dịch quốc âm ra tiếng nước
ngoài, để đủ đáp ứng với người ngoại quốc mà thôi. Đến như việc học nước ta vốn
theo Châu Lễ về đạo thường làm người như vua tôi, cha con. Nếu nhất thiết dựng
lên một thuyết khác để nghe thấy sự mới lạ, chính phải nghĩ đến bọn trẻ nhỏ,
biết ngôn ngữ, văn tự ngoại quốc, tập thành thói quen, bị hãm hại” [8, tr.256].
Do tính kiên định trong tư tưởng văn hóa - giáo dục,
đào tạo lấy Nho giáo làm nhất thống đó, mặc dù có những nhận thức mang tính phê
phán thực trạng kết quả nền giáo dục khoa cử mà Minh Mệnh tuyệt đối tôn sùng và
có những nỗ lực tiếp cận các thành tựu khoa học của phương Tây không thể phủ
nhận, nhưng những nỗ lực thay đổi đó hoàn toàn không để lại tác động hay dấu ấn
nào về định hướng đối với học thuật và văn hóa của Việt Nam dưới triều đại của
ông nói riêng, triều Nguyễn nói chung. Bởi vậy, ngay với việc đào tạo thông
ngôn, một chỉ đạo quyết liệt và rõ ràng của nhà vua mà kết quả cuối cùng vẫn là
vô cùng tệ hại, có thể nói là số không khi đến thời Tự Đức, đất nước bị Pháp
xâm lược, triều đình phải cầu hòa, mà không có được phiên dịch viên hay thông
ngôn riêng của triều đình đủ giỏi để giúp vào việc nghị hòa có lợi cho triều
đình.
3. Hệ quả của đường lối giáo dục kiên định theo Nho
giáo
Trong bối cảnh của những chuyển biến lớn lao trong
khu vực châu Á, đặc biệt là việc các nước phương Tây bành trướng xâm chiếm, sáp
nhập những vùng đất mới, Việt Nam phải chịu áp lực ngày càng gia tăng của
phương Tây trên mọi lĩnh vực tôn giáo, giao thương, phòng thủ quốc gia. Đứng
trước nguy cơ chủ quyền quốc gia bị đe dọa đã hiển hiện rõ ràng, Minh Mệnh vẫn
kiên quyết thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”, từ chối tiếp nhận các giá
trị văn hóa, văn minh phương Tây. Tư tưởng văn hóa, giáo dục, đào tạo của ông
bị chi phối mạnh mẽ bởi nhận thức văn hóa - đạo đức Nho giáo mang tính định
kiến sâu sắc, khó thay đổi về các quốc gia phương Tây: “Anh Cát Lợi là một quốc
gia vốn được coi là cường thịnh và sâu hiểm, quỷ quyệt vô cùng; hễ đi đến đâu
là luôn luôn sinh chuyện với người ta tới đó. Chúng ta cần phải xử trí cho khéo
léo, không nên để cho người nước ngoài họ được qua lại tự do” [8, tr.373].
Chính định kiến văn hóa này khiến ông, dù là một nhà chính trị thực tiễn lão
luyện, vẫn tiếp tục kiên định duy trì, củng cố một nền giáo dục khoa cử Nho học
bảo thủ, nếu không nói là bảo thủ hơn trước, thể hiện qua sự khắc nghiệt của
các luật thi, sự tán thưởng hư văn và xa rời các yêu cầu của cuộc sống hiện
thực.
Sự trì trệ và bảo thủ của giáo dục khoa cử xuất phát
từ tư duy văn hóa Nho giáo là một nguyên nhân căn bản khiến tiềm lực sáng tạo
của con người không được khai phóng, sức mạnh vật chất của đất nước không được
khai thác, phát triển, dẫn tới sự yếu kém về kinh tế và quân sự, lạc hậu về tri
thức khoa học và văn minh vật chất.
Nền giáo dục, đào tạo theo Nho giáo
chỉ tập trung vào lĩnh vực chính trị, vào mục tiêu duy nhất là lựa chọn quan
lại trung thành giúp triều đình cai quản đất nước nên đã bỏ qua việc đào tạo,
sử dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực sản xuất, phát triển kinh tế... phục vụ
đời sống sinh hoạt xã hội. Nền giáo dục đó đương nhiên không thể đáp ứng nhu
cầu cần hiền tài kinh bang tế thế, giúp vua xây dựng đất nước của Minh Mệnh. Do
vậy, những nỗ lực mà Minh Mệnh theo đuổi nhằm hoàn thiện nền giáo dục khoa cử
hay cố gắng thay đổi chất lượng đào tạo đều không đưa lại kết quả như ông kỳ
vọng. Bởi, chính ông, vị vua quyền lực nhất triều Nguyễn, đã không thể vượt qua
những giới hạn ý thức hệ để tiếp cận tới các cơ hội mới có thể đem lại một viễn
cảnh mới cho quốc gia của mình. Nhìn lại lịch sử, có thể thấy thất bại của Việt
Nam dưới triều Nguyễn trong cuộc đối đầu với cuộc xâm lược của Pháp vào nửa sau
thế kỷ XIX là một kết cục có thể dự báo trước. Một cái giá quá đắt từ việc bỏ
lỡ cơ hội học hỏi khoa học, văn minh phương Tây để phát triển đất nước trong
nửa đầu thế kỷ XIX.
Tư duy văn hóa - giáo dục Nho giáo chịu ảnh hưởng của
ý thức hệ phong kiến đã hạn chế Minh Mệnh, vị hoàng đế quyền năng nhất triều
Nguyễn, trong chính giới hạn sứ mệnh mà ông đặt ra về một vương triều hùng
mạnh. Sự kiên định từ chối giao lưu văn hóa, thương mại, ngoại giao với phương
Tây của ông đã đi ngược lại tính quy luật phát triển của văn hóa, vô hình trung
đã thu hẹp những cơ hội và tiềm năng củng cố sức mạnh toàn diện của quốc gia.
Bài học văn hóa này vẫn đầy tính thời sự cho việc xử lý mối quan hệ dân tộc -
quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hiện nay.
(*)Có khoảng 13 lần các tàu thuyền Anh, Pháp, Mỹ tới Việt Nam xin ký hiệp định thương mại, buôn bán trực tiếp với triều đình Huế trong khoảng thời gian từ 1820-1840 với giá trị nhập khẩu riêng năm 1839 là 1, 882 423 triệu Frăng [Xem: 1, tr.410-412].
(**) Minh Mệnh hiểu rõ khung cảnh cạnh tranh chính trị - thương mại ngày càng gia tăng giữa Anh và Pháp tại châu Á, sự câu kết giữa truyền giáo và thương mại, sự gia tăng xâm nhập vào Trung Quốc, Việt Nam tìm kiếm cơ hội truyền giáo của các nhà truyền giáo Kitô, sự yếu thế dẫn tới nhân nhượng chủ quyền của triều Thanh tại các vùng ven biển phía Đông Trung Quốc... và sự gia tăng các nguy cơ vi phạm pháp luật và chủ quyền Việt Nam đến từ hoạt động thương mại, truyền giáo và ngoại giao của phương Tây trong thời ông trị vì [Xem: 11].
Tài liệu tham khảo
[1] 1. Viện Sử
học, Trương Thị Yến (chủ biên) (2017), Lịch
sử Việt Nam tập 5 từ 18021858, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[2] 2. Đại Nam thực lục chính biên (1964),
t.VI, Đệ nhị kỷ II, Tổ phiên dịch
Viện Sử học biên dịch, Nxb Khoa học, Hà Nội.
[3] 3. Đại Nam thực lục chính biên (1964),
t.VII, Đệ nhị kỷ III, Tổ phiên dịch
Viện Sử học biên dịch, Nxb Khoa học, Hà Nội.
[4] 4. Đại Nam thực lục chính biên (1964),
t.XV, Đệ nhị kỷ X, Tổ phiên dịch Viện
Sử học biên dịch, Nxb Khoa học, Hà Nội.
[5] 5. Viện Sử học
(2007), Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, t.1, Nxb Giáo
dục.
[6] 6. Viện Sử học
(2007), Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, t.4, Nxb Giáo dục.
[7] 7. Quốc sử
quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính
yếu, t.1, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[8] 8. Quốc sử
quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính
yếu, t.2, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[9] 9. Quốc sử
quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính
yếu, t.3, Nxb Thuận Hóa, Huế.
[10 10. Alexander Barton Woodside (1971), Vietnam and the Chinese model. A
Comparative Study of Nguyen and Ch’ing Civil Government in the First Half of
the Nineteenth Century. Harvard University Press. Cambridge,
Massachusetts.
[11 11. Mark W
McLeod (1991), Vietnam's response to
French intervention from 1862 to 1874, Publisher Praeger, New York,
USA.
Tác giả: PGS. TS. Lê Thị Lan-Viện Triết Học