MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM
Tóm tắt: Bài
viết chỉ ra những thành tựu đã đạt được trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt
Nam, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết, khoảng trống cần phải tiếp tục nghiên
cứu, bổ sung. Cụ thể về các vấn đề, như khung lý thuyết, hệ quy chiếu, đối
tượng phạm vi nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu,… với mục đích phác thảo một bức
tranh tương đối đầy đủ và chi tiết về lịch sử tư tưởng Việt Nam trên tinh thần
khách quan, đồng thời xác định rõ lôgíc vận động của lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Công việc này cần phải được tiếp tục tiến hành một cách hết sức căn bản nhằm
cung cấp những luận cứ có giá trị, góp phần giữ gìn truyền thống và phát triển
tư duy lý luận Việt Nam trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Tư tưởng triết học Việt Nam, vấn đề trong nghiên cứu.
Nếu nhìn nhận
Việt Nam có lịch sử triết học và nền triết học của riêng mình, trở thành khuôn
khổ giá trị tinh thần và công cụ lý luận của dân tộc Việt Nam để tiếp tục tồn
tại và phát triển trong thời hiện đại, thì một công cuộc nghiên cứu dài hơi về
lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam cho xứng tầm vẫn đang ở giai đoạn bước đầu.
Bởi lẽ, một dân tộc tuy giữ được ngôn ngữ của riêng mình, nhưng nếu thiếu đi
chiều sâu của tư duy triết học thì cũng thiếu hụt tầm văn hóa tư duy lý luận.
Tư duy triết học được xem như “mạch nguồn và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động
của con người Việt Nam, đặc biệt là hoạt động nhận thức giải thích thế giới một
cách đúng đắn và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới một cách hiệu quả, trong
suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam” [2, tr.8].
Tư tưởng hay hệ tư tưởng bao giờ cũng là thành tố chủ đạo của bất kỳ một nền
văn hóa nào, thậm chí nó cùng phương thức sản xuất là hai nhân tố cơ bản tạo
nên diện mạo của một nền văn hóa, trong đó tư tưởng đóng vai trò hạt nhân văn
hóa.
Khi nói về
vai trò của tư duy lý luận, Ph.Ăngghen đã viết: Một dân tộc muốn đứng vững trên
đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận. Song, theo
ông, ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào cũng như bất cứ cá nhân nào, tư
duy lý luận cũng chỉ là năng lực bẩm sinh, hay còn gọi là “đặc tính bẩm sinh”
[1, tr.487]. Muốn cho “đặc tính bẩm sinh” ấy chuyển thành tư duy lý luận thực
sự, thì “không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ triết học thời
trước” [1, tr.487].
Trong bài
viết này, tác giả chỉ ra những thành tựu đã đạt được trong nghiên cứu lịch sử
tư tưởng Việt Nam từ trước đến nay và những khiếm khuyết, những khoảng trống
cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, như khung lý thuyết, hệ quy chiếu nghiên
cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu, làm rõ các cách tiếp cận nghiên cứu (nghiên
cứu nội dung, nghiên cứu đặc điểm tư tưởng, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu ý
nghĩa giá trị,…), với mục đích phác thảo một bức tranh tương đối đầy đủ và chi
tiết về lịch sử tư tưởng Việt Nam trên tinh thần khách quan, đồng thời cố gắng
xác định rõ lôgíc vận động chính yếu trong dòng lịch sử đó. Dĩ nhiên, việc chỉ
ra những điểm bất cập, chưa đầy đủ trong nghiên cứu này vẫn còn là sơ khởi, tác
giả không có tham vọng đưa ra một khung nghiên cứu hoàn chỉnh ấn định cho công
tác nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, mà mới chỉ dừng lại ở việc
nêu ra những ý tưởng, kinh nghiệm từ thực tiễn công tác nghiên cứu của mình với
hy vọng góp thêm ý kiến cho hướng nghiên cứu rất quan trọng này.
1. Những công
trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng/tư tưởng triết học Việt Nam – Thành tựu và
bất cập
Có lẽ, công
trình đầu tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống về tư tưởng Việt Nam là bộ sách
Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục. Đây là bộ sách biên soạn rất
công phu với nguồn tư liệu được tác giả khai thác cả từ tiếng Trung, tiếng Anh,
tiếng Pháp. Bộ sách gồm 7 tập(*). Tác giả bộ sách đã có ý thức phân biệt rõ tư
tưởng bình dân với tư tưởng bác học và sự phát triển của các tư tưởng đó theo
tiến trình lịch sử dân tộc. Ở đây, ông đã bám sát tiến trình lịch sử qua các
triều đại và các nhà tư tưởng tiêu biểu cho các triều đại đó.(*)
Khi bàn đến
tư tưởng bình dân, Nguyễn Đăng Thục đã khai thác khá triệt để hệ thống thần
thoại, tín ngưỡng, kho tàng tục ngữ, ca dao, ý thức và ứng xử cộng đồng làng
xã, một số tôn giáo đã được dân gian hóa, như Phật giáo và Đạo giáo, có chứa
đựng tâm thức và ý thức bình dân này.
Luôn có sự
tương tác giữa ý thức bình dân với tư tưởng bác học, nhưng theo tác giả, tư
tưởng Việt Nam ở dòng thượng tầng là tư tưởng Tam giáo đồng nguyên, mà nhân vật
có công và thể hiện đầu tiên là Sĩ Nhiếp với vai trò “Nam Giao học tổ”. Tư
tưởng này đã thống trị tư tưởng Việt Nam thời phong kiến tự chủ, tiêu biểu là
thời Lý - Trần. Đến thời Lê, với sự độc tôn của Nho giáo, mà Nguyễn Trãi là đại
diện, đã chấm dứt giai đoạn Tam giáo thống trị trên ý thức thượng tầng xã hội,
tuy đây đó nó vẫn tồn tại trong đời sống tư tưởng của tầng lớp bình dân. Tư
tưởng Nho giáo đạt đến đỉnh cao thời Lê và sang thời Trịnh – Nguyễn thì ý thức
hệ Nho giáo dần đi vào khủng hoảng. Tác giả kết thúc bộ sách ở tư tưởng tổng
hợp của Lê Quý Đôn, thế kỷ XVIII, mà không bàn tiếp tới sự biến động của tư
tưởng Việt Nam thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một giai đoạn giao thời khá phức tạp
trong lịch sử phát triển của tư tưởng Việt Nam.
Sự khiếm
khuyết trong công trình của Nguyễn Đăng Thục về tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX và
XX đã được Trần Văn Giàu bổ sung một cách xuất sắc qua công trình Sự phát triển
của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám gồm 3 tập. Tập 1
nói về ý thức hệ phong kiến, chủ yếu là ý thức Nho giáo thời thoái trào và sự
thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất
lúc này là canh tân đất nước nhằm chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân
Pháp. Tập 2 của bộ sách đi vào nghiên cứu sự hình thành ý thức hệ tư sản trong
điều kiện nước ta không có giai cấp tư sản dân tộc và sự bất lực của nó trước
nhiệm vụ lịch sử, đó là vai trò lãnh đạo tư tưởng cho cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc. Tập 3 với nội dung là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
gắn chặt với sự ra đời của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam, đã
lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với mốc thắng lợi vang
dội là Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh, sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh là nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Có thể nói,
với hai công trình lớn nêu trên, các tác giả đã có những đóng góp quan trọng,
đó là cày xới lên những vạt đất đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư
tưởng Việt Nam.
Viện Triết
học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ngay từ những năm 80 - 90 của
thế kỷ XX, đã quan tâm tới nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam. Công trình đầu
tiên được thực hiện là bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam gồm 3 tập, đã xuất bản
được tập 1 và tập 2. Để chuẩn bị tư liệu nhằm triển khai nghiên cứu lịch sử tư
tưởng, bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển đã được biên soạn tập 1: Tư
tưởng Việt Nam từ đầu Công nguyên đến cuối thời Lý, xuất bản năm 2002. Cho tới
nay, cho dù chưa được xuất bản đầy đủ, bộ sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam của
Viện Triết học vẫn là “sách gối đầu giường” của những người giảng dạy, học tập,
nghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đóng góp lớn nhất của bộ sách này là ở
chỗ, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử, tập
thể tác giả đã cung cấp một khung lý thuyết về lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong
đó giải quyết một số vấn đề căn cốt, như lịch sử tư tưởng Việt Nam là gì, nó
cần được tiếp cận nó dưới góc độ nào, sử dụng những phương pháp gì, việc trình
bày và phân kỳ nó như thế nào…? Cho tới nay, bộ sách này vẫn được xem là bộ
công cụ lý luận vừa sáng tỏ vừa hệ thống về lịch sử tư tưởng Việt Nam.
Bộ sách của
Doãn Chính với tiêu đề Lịch sử triết học phương Đông là giáo trình dành cho
giảng dạy, do vậy, các kiến thức được đề cập thường mang tính cố định và mô tả.
Tính gợi mở, dẫn dắt, khai sáng vẫn chưa thể vượt được các cuốn sách trước đó
trong lĩnh vực nghiên cứu này. Chính vì thế, một cuốn sách lịch sử tư tưởng
triết học Việt Nam vừa vững vàng về phương pháp luận, khung lý thuyết, vừa đầy
đủ, toàn diện về nội dung vẫn còn chờ các thế hệ nghiên cứu đi sau.
Tiếp đến,
trong cuốn sách Khái lược Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (PGS, TS. Nguyễn
Tài Đông chủ biên, Nxb Đại học Sư phạm, 2015), các nội dung liên quan đến tư
tưởng triết học qua các thời kỳ, giai đoạn chỉ mới được các tác giả trình bày
một cách khái quát, chưa tập trung phân tích sâu vào tính chất, đặc trưng của
tư tưởng triết học Việt Nam qua các khái niệm, phạm trù mà các nhà tư tưởng
Việt Nam sử dụng.
Việt triết
luận tập của GS. Trần Văn Đoàn, Đại học Quốc gia Đài Loan, là một cách đặt vấn
đề, thể hiện những suy tư và trăn trở đối với việc nghiên cứu triết học Việt
Nam. Tác giả cuốn sách khẳng định, nghiên cứu triết học chính là nghiên cứu bản
chất, linh hồn của văn hóa Việt Nam, để sao cho toát lên đúng đặc trưng, cốt
cách Việt thông qua nghiên cứu, vừa không bị nghèo nàn hóa, vừa không tự ti
thái quá và cũng không tự tôn thái quá; đồng thời nhấn mạnh Việt Nam có triết
học tuy không đồ sộ, sâu và chuyên biệt như các hệ thống triết học trên thế
giới. Và cần hiểu rõ, hiểu đúng về mình trong quá khứ bằng sự khách quan, thấu
đáo mới có thể tìm ra được phương pháp luận ứng phó với các khó khăn của chính
mình trong thời hiện đại.
Qua các công
trình nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, những nghiên cứu đã có về lịch sử tư
tưởng/ tư tưởng triết học Việt Nam nếu đảm bảo tính hệ thống thì lại chưa
chuyên sâu; ngược lại, nếu đảm bảo phân tích sâu thì lại thiếu độ bao quát, hệ
thống. Hoặc phần nghiên cứu tốt về nguyên tắc, phương pháp luận trong triển
khai nhưng lại chưa được vận dụng triệt để và hiệu quả trong nghiên cứu để có
được những công trình quy mô và bài bản.
2. Khung lý
thuyết và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp
liên quan tới chất lượng của nội dung trình bày, có phương pháp khoa học và
thích hợp thì sẽ lột tả được đúng nội dung, ngược lại, một phương pháp không
thích hợp sẽ làm nghèo nàn và sai lạc nội dung. Sau đây, chúng tôi xin điểm qua
một số cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu được các công trình nghiên cứu
tư tưởng Việt Nam sử dụng.
Kim Định xuất
phát từ huyền sử để quy các thành tựu của triết học và văn minh Trung Hoa đều
do người Việt sáng tạo (mà ông gọi là Viêm tộc). Cứ tạm chấp nhận các định lý
của ông về nguồn gốc vinh quang của tộc Việt về mặt trí tuệ, thì dường như nó
vẫn không lý giải được sự thiếu ý thức phát triển hệ thống triết thuyết do
chính mình sáng tạo ra của người Việt để đưa nó trở thành những dòng phái tư
tưởng triết học chính thức có sức ảnh hưởng, như Thiền học, Đạo học, Lý học,
Huấn hỗ học, Kinh học, Thực học,… những thứ là thành quả của Hoa tộc và đã ngự
trị trong ý thức hệ của người Hoa hơn 2000 năm. Cho dù đi theo hướng truy
nguyên nguồn cội như Kim Định, người Việt dù có là chủ nhân của Hà đồ, Lạc thư,
Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Việt Nho, v.v. thì cũng tương tự như
Phật giáo, những triết thuyết đó chỉ thực sự phát triển khi được hấp thụ, tiếp
nhận, truyền bá và hoàn thiện bên ngoài tộc người đã sản sinh ra chúng. Những
nghiên cứu của Kim Định bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc nên các nhận định
trong Triết lý cái đình, Việt lý tố nguyên, Cơ cấu Việt Nho chứa đựng nhiều suy
luận chủ quan, suy diễn. Mặc dù vậy, sự nhiệt thành của ông đã cung cấp cho các
thế hệ nghiên cứu sau một lượng kiến thức phong phú của cả triết Đông lẫn triết
Tây.
Trong cuốn Lịch
sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Đăng Thục khẳng định, “chúng tôi viết về tư tưởng
Việt Nam, nghĩa là chúng tôi không cắt đứt hẳn tình cảm với lý trí, thần thoại
với triết học” [8, tr.32] và “phép trình bày tư tưởng theo ngụ ngôn không hợp
hệ thống triết học nhưng giàu ý nghĩa hơn cho độc giả và ít xuyên tạc sự thật”
[8, tr.34]. Như vậy, theo Nguyễn Đăng Thục, triết học thuộc về lý trí con
người, còn tư tưởng có thể nằm ở vị trí trung gian giữa tình cảm và lý trí. Với
vốn kiến thức phong phú và khả năng xử lý các tài liệu tiếng Trung, Pháp, Anh,
học giả Nguyễn Đăng Thục đã cung cấp một nguồn tư liệu dồi dào cho những ai có
nhu cầu nghiên cứu về tư tưởng Việt Nam. Tuy nhiên, bộ sách của ông vẫn chưa
phải là hoàn chỉnh về kết cấu lẫn độ bao phủ, đối tượng nghiên cứu chưa rõ
ràng, thậm chí tính hệ thống cũng chưa được đảm bảo. Tuy nhiên, một điểm đáng
ghi nhận khác là Nguyễn Đăng Thục đã ý thức rõ minh triết dân gian, phân tích
tư duy của người Việt bình dân qua thần thoại, cổ tích.
GS. Trần Văn
Đoàn dùng phương pháp đặt triết Việt trong mối tương quan với các hình thái ý
thức xã hội khác, như văn hóa, khoa học, tôn giáo, lịch sử với các tính chất lý
luận khác, như chân lý, tri thức, cách mạng, v.v. để khoanh vùng và định ranh
giới cho triết học Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu liên ngành, so sánh đối
chiếu được ông đặc biệt coi trọng, vì tư tưởng triết học Việt Nam gắn tương đối
chặt và lẫn vào các hình thái ý thức xã hội khác. Qua Việt triết luận tập, toàn
bộ khung nghiên cứu đã được tác giả chỉ rõ, từ xác định đối tượng, phạm vi và
mục đích nghiên cứu đến phân tích đặc trưng, tính chất của đối tượng nghiên
cứu. Đồng thời, ông chỉ ra rằng, triết học Việt Nam không phải là thứ triết học
nặng về tư biện thuần lý tính, mà nó vừa bị quy định vừa chứa đựng một “thế
sinh”(*)
của người Việt. Một ví dụ tiêu biểu là tác giả đã áp dụng khung lý thuyết này
để phân tích Truyện Kiều nhằm làm rõ quan niệm triết học của Nguyễn Du - đại
diện tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa Việt Nam thế kỷ XIX.
Cuốn Lịch sử
tư tưởng Việt Nam, tập 1 của GS,TS. Nguyễn Tài Thư thể hiện rõ nhất khung lý
thuyết và cách nghiên cứu tư tưởng Việt Nam. Về đối tượng nghiên cứu, cuốn sách
cho rằng, lịch sử tư tưởng Việt Nam là “lịch sử tư tưởng triết học và những tư
tưởng có quan hệ mật thiết với tư tưởng triết học” [9, tr.13], trình bày tư
tưởng phải “xoay quanh các vấn đề triết học, hệ thống triết học”. Triết học
Việt Nam tuy chưa phát triển đầy đủ, chưa hoàn chỉnh, chưa trở thành một hệ
thống vững chắc, nhưng nó rất quan trọng. Phương pháp quan trọng trong nghiên
cứu tư tưởng Việt Nam là phương pháp phân tích chứ không phải so sánh hay truy
nguyên về nguồn gốc tư tưởng, hoặc tìm ra dân tộc nào sở hữu các thành tựu phát
minh triết học như Kim Định đã làm. Phương pháp trình bày sự phát triển của tư
tưởng cần phải phù hợp với quy luật tác động qua lại giữa tồn tại và ý thức,
quy luật phát triển của bản thân tư tưởng. Mục tiêu nghiên cứu là để “thấy tư
duy dân tộc phải vận động như thế nào trong mỗi thời kỳ lịch sử để tiến lên một
giai đoạn cao hơn” [9, tr.30].
Phân kỳ
nghiên cứu cũng là một vấn đề mang tính phương pháp luận quan trọng. Cuốn sách
khẳng định, việc phân kỳ theo hình thái kinh tế - xã hội là đúng phương pháp
luận duy vật biện chứng hơn cả, tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử cụ thể của
Việt Nam, sự chuyển đổi giữa các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch
sử lâu dài và bảo lưu nhiều dấu vết của các hình thái kinh tế - xã hội trước
trong các hình thái kinh tế - xã hội sau, không xuất hiện cách mạng xã hội, nên
sự phân kỳ lịch sử tư tưởng kết hợp các mốc sự kiện chính trị - xã hội lớn
trong lịch sử với các mốc hình thái kinh tế - xã hội là phù hợp hơn cả.
Về khung
nghiên cứu, cuốn sách này đã chỉ ra rằng, triết học là một bộ phận của kiến
trúc thượng tầng, xét đến cùng bị quy định bởi đời sống vật chất của xã hội.
Những mầm mống của tư tưởng triết học phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan
của con người, đồng nhất và gắn kết với các hình thái ý thức xã hội khác (nghệ
thuật, tôn giáo, đạo đức, chính trị, khoa học,…). Khi trình độ văn minh càng
phát triển thì triết học cũng phát triển theo, ngày càng tách biệt khỏi các
hình thái ý thức xã hội khác và trở thành một hình thái ý thức xã hội độc lập
và đặc thù. Ở Việt Nam, hình thái ý thức xã hội triết học có đặc trưng gắn kết
chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác, bởi thế, tính độc lập của nó đối
với cấu trúc kinh tế - chính trị - xã hội còn tương đối mờ nhạt. Đây cũng là
đặc trưng dễ nhận ra khi so sánh nó với các nền triết học khác.
Cuốn sách
cũng gợi ý một hệ quy chiếu phù hợp nhất khi bóc tách các tư tưởng triết học
Việt Nam, đó là phân theo mảng vấn đề: Tư tưởng triết học tự nhiên, tư tưởng
triết học chính trị - xã hội, tư tưởng triết học nhân sinh. Bởi lẽ, cách phân
chia này tương thích với mục đích của tư duy triết học của người Việt, tư duy
nhằm mục đích thực tế, thực dụng, không chú trọng chuyên sâu vào tư duy tư biện
thuần túy, xa cách với các mục tiêu thực dụng.
Như vậy, bộ
công cụ để bóc tách, mổ xẻ tư tưởng Việt Nam theo quan niệm duy vật biện chứng
về lịch sử đã được xác định tương đối rõ. Công việc cần làm là sử dụng công cụ
đó ra sao và vận dụng nó như thế nào để nghiên cứu các vấn đề của tư tưởng Việt
Nam một cách đúng đắn và hiệu quả.
3. Đối tượng,
nội dung nghiên cứu
GS. Trần Văn
Đoàn có cách tiếp cận triết học từ góc độ giá trị và sự phân biệt với văn hóa.
“Như chúng tôi đã nhắc sơ qua, triết học là cái linh hồn, hay tinh thần của văn
hóa. Tuy nhiên không phải bất cứ nền văn hóa nào cũng có một nền triết học đáng
gọi là triết học. Vậy ta có thể nói (theo kiểu chơi chữ), là mọi nền văn hóa
đều có triết lý. Tùy theo hiệu quả (tất yếu) và mức độ ảnh hưởng (phổ
biến), mà chúng ta có thể xưng nền triết lý này là triết lý sống, minh triết
hay triết học. Nếu triết lý là một lối suy tư, một ý thức hệ căn cơ, một phương
thế cho cuộc sống chỉ của một cá nhân, một tộc, một xã hội hay một
quốc gia, thì triết học là một môn học có hệ thống về
các nền triết lý này, và có tham vọng tìm ra nguyên lý chung của
chúng để áp dụng cho tất cả mọi người ở mọi thời đại. Như vậy, ta có thể
nói, chỉ nền triết lý nào có thể giúp dân tộc, xã hội, quốc gia sinh tồn, liên
kết, phát triển mới đáng được gọi là minh triết; và chỉ có nền triết lý
nào vượt khỏi giới hạn của không gian, tộc tính, thời gian (lịch sử) và đảm bảo
cho một nền tri thức chân thật (khoa học), cũng như luôn phát sinh ra cùng hiệu
quả cho tất cả mọi đối tượng, nền triết lý này mới đáng gọi là triết học”
[7, 105].
Nếu GS. Trần
Văn Đoàn cho rằng, ở Việt Nam mới chỉ có triết lý và minh triết chứ chưa có
triết học (với ý nghĩa là một hệ thống), thì GS,TS. Nguyễn Tài Thư gọi đó là
“tư tưởng triết học”: “Lịch sử tư tưởng Việt Nam không phải là lịch sử tư tưởng
nói chung, cũng không phải là lịch sử của các tư tưởng trong hệ ý thức, mà cơ
bản là lịch sử tư tưởng triết học và những tư tưởng có quan hệ mật thiết với tư
tưởng triết học. Việt Nam trong lịch sử, tuy triết học không phát triển, nhưng
đã có tư tưởng triết học của mình. Tư tưởng này cần được xem xét, hệ thống hóa
và trình bày theo sự phát triển của lịch sử”… “đối tượng nghiên cứu thích hợp
có thể là các vấn đề sau: Tiền triết học, tư tưởng triết học, triết học, những
tư tưởng chính trị - xã hội gắn bó hữu cơ với triết học, nghĩa là những nội
dung xoay quanh cái trục triết học và thể hiện lên các mức độ phát triển của
triết học” [9, tr.13].
Cách xác định
đối tượng nghiên cứu của GS. Trần Văn Đoàn mang tính nguyên tắc phương pháp
luận, còn cách định nghĩa của GS, TS. Nguyễn Tài Thư vừa đảm bảo tính nguyên
lý, vừa có khả năng ứng dụng trong triển khai nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu
là “những nội dung nghiên cứu xoay quanh các trục triết học và thể hiện các mức
độ phát triển của triết học”, vậy thì “triết lý, minh triết, hệ thống triết lý,
triết học” Việt Nam theo cách GS. Trần Văn Đoàn gọi đều thuộc vào đối tượng
nghiên cứu của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam.
Vậy, đối
tượng nghiên cứu đó được thể hiện ở những nội dung nào và những nội dung nào
chưa được đề cập một cách thấu đáo trong các nghiên cứu đã có? Ở đây, chúng tôi
không đề cập tới những nội dung nghiên cứu đã được đi sâu và tương đối quen
thuộc, mà chỉ nhắc tới những nội dung nghiên cứu sẽ làm nên cái mới trong việc
nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, đó là:
Thứ nhất, sắc
thái Thiền tông Phật giáo giai đoạn Lý - Trần so với các dòng Thiền Trung Hoa,
Ấn Độ như thế nào? Việc hợp nhất 3 dòng Thiền: Dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ
Ấn Độ sang, dòng Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa sang, Thảo Đường có từ đời Lý -
thành nhất tông Trúc Lâm ra sao? Nhìn nhận như thế nào về sự mai một nhanh
chóng của Thiền phái Trúc Lâm qua 3 vị tổ truyền thừa? Có vấn đề gì về mặt tư
tưởng trong một hệ phái luôn được tự hào là dòng Thiền đầu tiên thuộc về dân
tộc Việt Nam? Phật giáo Trúc Lâm thường được nhắc tới như biểu hiện thịnh trị
của Phật giáo Việt Nam, là thành tựu của Phật giáo đời Trần. Song, do tư liệu
đã bị mất mát nên các nghiên cứu về các dòng tu, các hệ phái, phương thức tu
tập, các sắc thái khác biệt của nhiều dòng Thiền không có nhiều. Mặc dù vậy,
đây vẫn là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu sâu, bởi khi tiến hành nghiên
cứu so sánh, chính các học giả nước ngoài lại nhận ra nhiều điểm khác biệt của
lối tu tập Thiền hành của các tăng sĩ Việt Nam so với cách tu tập gốc. Do các
dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, v.v. được truyền bá vào
nước ta qua con đường Trung Hoa, Ấn Độ, nên việc bổ túc kiến thức Phật học và
đào tạo các chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam là việc làm cấp
bách. Có thể nói, cho đến nay, ngoài hai cuốn sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam
do GS,TS. Nguyễn Tài Thư biên soạn và Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn
Lang, hầu như chưa có một tác phẩm chuyên khảo giá trị nào đi sâu hơn nữa về
lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Một vấn đề
đặt ra nữa là, dòng Thiền Trúc Lâm vốn được các học giả hết lời ngợi khen, đã
thiết lập được một dòng Phật giáo Việt Nam thống nhất (Phật giáo nhất tông),
cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất đầu tiên trong lịch sử, bởi một
nhân vật vừa là quân vương vừa là giáo chủ, song lại chỉ tồn tại trong một thời
gian quá ngắn ngủi (sau 2 đời truyền thừa Pháp Loa, Huyền Quang). Phải chăng
nguyên nhân cơ bản chính là sự buông lỏng về giới luật và tổ chức tu tập? Những
vấn đề trên đều đang chờ các thế hệ nghiên cứu đi sau trả lời.
Thứ hai, tư
tưởng của các nhân vật nho sĩ trong giai đoạn biến loạn, những tập đoàn nho sĩ
mà tác giả bài viết tạm gọi là “thời biến” khá tiêu biểu cho lối tư duy và lựa
chọn giá trị linh hoạt, thực tế của người Việt. Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì
Nhậm, Phan Huy Ích, v.v. là những ẩn số về tư duy chính trị. Chính vì vậy,
nghiên cứu nhằm lý giải thấu đáo hơn tư tưởng của những nhân vật mang tính thời
đại này là cần thiết, vì thông qua đó sẽ thấy được tính chất độc đáo trong cách
suy tư triết học và lựa chọn xử thế của người Việt trong một số hoàn cảnh đặc
thù.
Thứ ba,
nghiên cứu so sánh: Trước các thử thách lịch sử, Việt Nam thiếu những nhân tố
gì về mặt tư tưởng so với Nhật Bản với tư cách nguyên nhân dẫn đến thất bại
trong sự nghiệp cải cách, duy tân?
Thứ tư, cần
nghiên cứu làm rõ vấn đề Tam giáo trong tư tưởng của các nhà nho Việt Nam, đặc
biệt là những nhà nho lỗi lạc chịu ảnh hưởng sâu sắc của cửa Khổng, sân Trình,
như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lê Quý Đôn, v.v..
Thứ năm,
nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận liên ngành vấn đề “yêu nước”, quan niệm “nước”
của người Việt; mối quan hệ giữa “làng” với “nước”; ảnh hưởng của sự tự trị
tương đối của “làng” và tính khu biệt giữa các làng với tinh thần cộng đồng đến
đặc trưng yêu nước của người Việt, v.v..
Thứ sáu, cần
trả lời cho một loạt câu hỏi, như vấn đề sở hữu đất đai trong lịch sử đã cấu
trúc nên một tâm lý, ý thức đất và nước của người Việt ra sao? Vai trò của
phương thức sản xuất châu Á tác động như thế nào đến mức độ và sự phát triển tư
duy triết học Việt Nam? Nó quy định ra sao đến đặc trưng, tính chất của tư
tưởng triết học Việt Nam?
Thứ bảy, tư
duy triết học dân gian Việt Nam trong các nghiên cứu đã có, ở một chừng mực nào
đó, bị đồng nhất với tư duy của người Việt cổ thông qua thần thoại, cổ tích.
Nhưng, các loại hình khác, như ca dao, hò vè, tục ngữ, dân ca, v.v. đều là
những sản phẩm truyền khẩu, khó xác định niên đại. Hiện nay, chúng ta chỉ có
thể khẳng định rằng, tính chất của nó là tính chất bình dân, đời sống của nó
thuộc về tầng lớp bình dân, dẫu rằng những người sáng tác ra nó có thể là tinh
hoa trong tầng lớp trí thức nhưng khuyết danh.
Thông qua ca
dao, thành ngữ, tục ngữ - kho tàng trí tuệ của ông cha Việt Nam để lại, cách tư
duy tùy theo hoàn cảnh (“ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”), tinh thần yêu thương đùm
bọc lẫn nhau (“bầu ơi thương lấy bí cùng”, “lá lành lá rách”), triết lý đời
sống vô thường (“sống gửi thác về”), các quan niệm thể hiện triết lý linh hoạt
mang tính chất chỉ dẫn nhân sinh, hay có tính phê phán, cảnh tỉnh lối sống xu
thời nịnh thế (“thấy người sang bắt quàng làm họ”, “tát nước theo mưa”, “mượn
gió bẻ măng”, “theo đóm ăn tàn” v.v.) vẫn còn lưu giữ và in đậm sức ảnh hưởng
trong đời sống văn hóa Việt Nam. Nguyễn Đăng Thục đã ý thức rõ mảng vấn đề này,
nhưng với lối trình bày ngụ ngôn thì tính chất hệ thống về mặt triết lý qua ca
dao, tục ngữ sẽ thiếu sự đảm bảo và hầu như mới là sự phác thảo cho mảng nghiên
cứu còn rất tiềm năng này. Kim Định đã quan tâm đến mảng này qua Triết lý cái
đình, song thực chất, ông mới chỉ “cảm” thấy có một tinh thần triết học nằm
trong ca dao, hò vè, tục ngữ, lề lối sinh hoạt tư duy của người nông dân Việt
Nam, mà thiếu đi một phương pháp luận, một khung lý thuyết để cắt nghĩa cho
thấu triệt thứ tư duy triết học đó là như thế nào và sức ảnh hưởng của nó tới
văn hóa và tinh thần yêu nước của Việt Nam ra sao. Triết lý cái đình cũng thiên
về tản văn triết học hơn là một cuốn sách có luận chứng đầy đủ, chi tiết.
Kết luận
GS,TS. Nguyễn
Trọng Chuẩn đã nhận xét rất xác đáng về tình trạng của tư tưởng triết học Việt
Nam: “Ông cha ta đã phải mất quá nhiều thời gian, sức lực, trí tuệ để giành lại
và giữ độc lập cho đất nước; những gì tốt nhất cũng đều phải dành cho các cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; khoa học, kỹ thuật được đầu
tư quá ít nên phát triển rất kém, rất lạc hậu; không có sự phân công lao động
triệt để, không hình thành một đội ngũ chuyên về lao động trí óc để nghiên cứu
những vấn đề trừu tượng” [3, tr.23].
Dẫu vậy,
thông qua quá trình giành và giữ đất nước, tư duy triết học của người Việt vẫn
được thúc đẩy và phát triển, song, sự phát triển chủ yếu nhằm phục vụ mục đích
giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu bằng cách nào, nghiên cứu như
thế nào, nghiên cứu phục vụ định hướng gì, đầu tư lâu dài hay tập trung, v.v.
là một bài toán lớn và phức tạp đặt ra cho giới nghiên cứu quan tâm tới tư
tưởng văn hóa Việt Nam.
Tổng quát
lại, bất cứ nghiên cứu nào giải quyết được triệt để một trong các vấn đề nêu
trên sẽ đều có đóng góp mới trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đây là
một công việc lâu dài, không hề đơn giản và cần được định hướng đầu tư nghiêm
túc mới có thể đạt được những thành quả thực sự.
Tài liệu tham
khảo
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập,
t.20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] Doãn Chính (chủ biên) (2013), Lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam – Từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
[3] Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên, 2006), Lịch
sử tư tưởng triết học Việt Nam, t.1, Nxb Khoa học Xã hội.
[4] Kim Định (2016), Triết lý cái đình, Nxb
Hội nhà văn.
[5] Kim Định (2016), Cơ cấu Việt Nho, Nxb Hội
nhà văn.
[6] Kim Định (2015), Việt lý tố nguyên, Nxb
Hội nhà văn.
[7] Trần Văn Đoàn (2000), Việt triết luận
tập, Thượng Tập, Washington D.C: Vietnam University Press.
[8] Nguyễn Đăng Thục (1998), Lịch sử tư tưởng
Việt Nam, t.1, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.
[9] Nguyễn Tài Thư (chủ biên 1993), Lịch sử
tư tưởng Việt Nam, t.1, Nxb Khoa học xã hội.
Tác giả: Trần Thị Thúy
Ngọc-Viện Triết
học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.