image banner
            VI | EN
QUAN NIỆM CỦA PLATO VỀ THỂ CHẾ DÂN CHỦ ATHENS TRONG TÁC PHẨM “CỘNG HÒA”
Lượt xem: 10

Tóm tắt: “Cộng hòa” là một trong những tập hội thoại nổi tiếng của Plato và cũng được xem là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của triết học phương Tây về chính trị học. Trong đó, thể chế dân chủ Athens là một nội dung được ông đề cập nhưng với thái độ phê phán. Nguồn gốc ra đời của thể chế dân chủ này là do sự suy đồi của các loại thể chế chính trị. Bản chất của dân chủ, theo Plato, là tự do và bình đẳng. Những quan niệm của ông về thể chế dân chủ Athens đem lại cho chúng ta những gợi ý để tạo dựng một nền dân chủ ngày càng hoàn thiện trong thời đại ngày nay.

Từ khóa: Plato, cộng hòa, dân chủ, thể chế dân chủ, chính thể dân chủ Athens, tự do, bình đẳng.


Plato (427 - 347 TrCN) được xem là một trong những nhà triết học phương Tây vĩ đại nhất. Gần như trong hầu hết những nghiên cứu của các triết gia sau này đều có cội nguồn từ những vấn đề được đặt ra trong tư tưởng của Plato. Tư tưởng chính trị - xã hội của Plato đã có ảnh hưởng lớn đối với tư tưởng phương Tây qua các thời kỳ. Những đối thoại mang tên ông đã được nghiên cứu, chắt lọc, kế thừa bởi các nhà tư tưởng từ cổ đại, trung đại đến cận đại và hiện đại. Khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của Plato, đặc biệt là tư tưởng chính trị trong tác phẩm “Cộng hòa”, chúng ta không thể bỏ qua tư tưởng về thể chế dân chủ được ông đưa ra trong đó bởi tầm ảnh hưởng và những bài học kinh nghiệm quý giá của nó.

Tác phẩm “Cộng hòa” được Plato viết vào khoảng năm 380 TrCN, dưới dạng hội thoại, gồm 10 quyển (việc chia tác phẩm này thành 10 quyển, mỗi quyển tương đương với một chương trong các sách hiện nay, được thực hiện bởi nhà triết học La Mã – Marecus Jillius Cicero). Nó được coi là tập hội thoại nổi tiếng nhất của Plato và cũng được coi là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của triết học phương Tây về chính trị học.

Bằng lối viết hội thoại khéo léo, Plato đã xây dựng hình tượng một nhóm triết gia có tư chất ưa phản biện, thích đưa ra quan điểm riêng của mình. Một số trong đó được bộc lộ theo cách dường như có cái nhìn hiện đại và cách mạng. Ở đây, Plato đã thành công trong việc diễn giải tư tưởng của mình khi những cuộc hội thoại này được ông đẩy lên đến cao trào mà rốt cuộc, được kết luận bởi một nhân vật trung tâm - Socrates, một con người uyên thâm đầy uy tín. Các bằng hữu của Socrates tưởng chừng như khó thuyết phục lại trở nên khá dễ dàng đồng ý với tất cả những gì ông nói. Vì lẽ đó mà nhóm tác giả Dave Robinson và Judy Groves đánh giá “Cộng hòa” thực chất là độc thoại, bởi tất cả những gì được cho là đúng thì chỉ là những phát ngôn của Socrates [Xem: 4, tr.61]. Mặc dù bị đánh giá là độc thoại, nhưng với cách viết hội thoại như vậy, Plato đã cho người đọc một cái nhìn nhiều chiều, phân tích ở nhiều khía cạnh. Những câu hỏi của các triết gia tham gia hội thoại dường như cũng chính là những thắc mắc, trăn trở của người đọc đối với tư tưởng của ông được trình bày bởi Socrates. Qua hội thoại, ông cũng đã bảo vệ và chứng minh học thuyết của mình là đúng. Hội thoại “Cộng hòa” không những đã toát lên sự hiểu biết sâu rộng của ông, mà còn cho thấy ông rất hiểu lối suy nghĩ của độc giả, của các triết gia thời đó.

Có thể thấy rằng, vào thời đại của Plato, sự thịnh vượng của thể chế chính trị ở thành bang Sparta, với những chính sách, kỷ cương và sự thượng tôn pháp luật đã ảnh hưởng không nhỏ đến Plato. Hơn nữa, cuộc chiến Peloponnesos kéo dài 27 năm giữa phe ủng hộ dân chủ Athens và cơ chế quả đầu(*) Sparta, với những mâu thuẫn xã hội được đẩy lên đến đỉnh điểm đã tác động rất nhiều đến những nhận định của Plato về thể chế chính trị và xã hội. Đây là thời kỳ mà trên toàn bộ thành quốc Hy Lạp tồn tại chủ yếu hai thể chế chính trị: Quả đầu và dân chủ. Khi đó, sự phân tầng xã hội cũng đã hình thành tương đối rõ nét với giai cấp thống trị bóc lột và giai cấp hạ lưu. Sự khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, cùng với sự xung đột xã hội được đẩy lên mức căng thẳng, mất phương hướng đã làm lu mờ những ưu điểm của thể chế dân chủ và dẫn đến sự hoài nghi ở Plato về những điều tốt đẹp mà thể chế này có thể mang lại. Thêm nữa, cái chết của Socrates được định đoạt bởi số đông đã tạo nên ở Plato một sự ác cảm đối với nền dân chủ. Những điều kiện tự nhiên và xã hội cũng đã có ảnh hưởng ít nhiều đến tư tưởng chính trị của Plato. Từ đó, ông đưa vào tác phẩm của mình những suy tư và nỗi niềm của người dân Hy Lạp, thực sự mong muốn có được một xã hội lý tưởng. Ông cho rằng, chính những suy tư triết học có thể làm thay đổi được điều kiện xã hội lúc đó, khai mở được những bế tắc mà xã hội đang phải hứng chịu. Trong tư tưởng của ông, chúng ta thấy toát lên lập trường chính trị của giới quý tộc chủ nô và phần nào đó, tư tưởng của ông về dân chủ vẫn hàm chứa nhiều hạn chế và có khuynh hướng bảo thủ. Song, những tư tưởng chính trị của Plato nói chung, tư tưởng về thể chế dân chủ của ông nói riêng đã tạo nên xuất phát điểm vững chắc cho lịch sử tư tưởng phương Tây sau này.(*)

Khi nghiên cứu tư tưởng của Plato về thể chế dân chủ, trước hết chúng ta cần xem xét quan niệm của ông về nguồn gốc hình thành chế độ dân chủ. Theo ông, một “chính thể ra đời không “từ cây sồi hay tảng đá”, mà từ con người sống trong cộng đồng” [3, tr.550]. Rằng, “chính thể hình thành từ con người, đó là con đường duy nhất khả dĩ” [3, tr.551]. Chính con người tạo nên chính quyền và những đặc trưng của chính quyền bị quy định bởi con người. Mỗi một mẫu người trong xã hội luôn mang trong mình những tính cách, đặc trưng riêng và từ đó, tác động đến sự hình thành các loại chính thể tương ứng. Con đường hình thành nên các loại chính thể cũng chính là con đường biến đổi của của các mẫu người.

Theo Plato, sự ra đời chính thể dân chủ xuất phát từ quá trình suy đồi của các loại chính thể. Loại chính thể đầu tiên là chính thể lý tưởng hay chính thể quý tộc tương ứng với giai cấp quý tộc. Đó là chính thể mà người cầm đầu phải am hiểu triết học và mẫu người tương ứng với chính thể này là mẫu người vừa tốt đẹp, vừa công bằng. Tuy nhiên, theo ông, chính thể này cũng sẽ băng hoại và đó là lẽ tự nhiên trên cõi đời. “Mọi vật có sinh đều có hóa, ngay cả trật tự xã hội cũng không thể kéo dài mãi mãi, mà thể nào cũng suy tàn” [3, tr.553]. Chính thể được tạo ra từ con người, mà con người thì không phải lúc nào cũng hoàn hảo, mặc dù người cầm quyền trong chính thể lý tưởng được đào luyện cẩn thận, khôn ngoan, nhưng về lâu dài, lý luận và nhận thức sẽ không còn giúp họ biết đúng hay sai và khả năng tạo ra người kế vị cũng không hoàn hảo. Điều này dẫn đến kết quả là thế hệ kế tiếp có thể có người cầm quyền không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của một chính thể hoàn hảo. Tương ứng với người cầm quyền ấy là một chính thể suy đồi. Khi đó, sự chuyển đổi chế độ sẽ diễn ra do mâu thuẫn nội tại giữa các thành phần cầm quyền. Tuy nhiên, “nếu thành phần này đoàn kết nhất trí, dù số lượng rất nhỏ, thay đổi sẽ không xảy ra” [3, tr.553]. Mặc dù vậy, khi mâu thuẫn nội tại bắt đầu, tất sẽ dẫn đến chiến tranh và thù hận. Để giải quyết sự chống đối và cạnh tranh quyết liệt này, cuối cùng, họ buộc phải chấp nhận một sự hòa giải. Khi đó, chế độ sẽ thay đổi, giữa các thành phần trong xã hội cũng có sự thay đổi vị thế.

Bước đầu tiên dẫn đến sự suy đồi của chính thể, theo Plato, là chính thể vị danh. Chính thể vị danh này tồn tại như là giai đoạn chuyển giao giữa hai chế độ và đó là “chế độ đứng giữa giai cấp quý tộc và thành phần quả đầu” [3, tr.557]. Trong chính thể vị danh, thế hệ sau không đủ tinh khôn bằng thế hệ trước và những đặc tính bất thường sẽ sinh ra mâu thuẫn khiến cho “chế độ sẽ giống chế độ trước kia mặt này và giống chế độ quả đầu mặt nọ” [3, tr.558]. Trong chế độ này vẫn lưu giữ những đặc trưng của chế độ trước kia, đó là “đề cao người cầm đầu, thành phần chiến đấu không tham gia nông nghiệp, lao động chân tay, kỹ nghệ, thương mại, nhưng sẽ tổ chức ăn chung, tập luyện thể dục, thụ huấn quân sự và đề phòng chiến tranh” [3, tr.558]. Tuy nhiên, con người trong chế độ này lại có nhiều thay đổi và có những đặc trưng riêng biệt. Con người bắt đầu ham mê tiền bạc không chút hạn chế, họ tìm mọi cách để bảo vệ khối tài sản riêng ấy, nhưng lại không muốn cho người khác biết, vì thế mà họ thường ăn chơi lén lút, tránh né pháp luật, khao khát chiến thắng, ham mê danh dự và quyền lực. Đặc trưng của chế độ này là ngại bổ nhiệm người tài trí vào chức vụ cai trị, bởi người ta không tìm thấy loại người cương nghị, thuần nhất nữa, mà chỉ thấy một loại hỗn tạp, chỉ biết dồn sức chuẩn bị cho chiến tranh.

Do tiền bạc đổ vào gia sản, nên số người thích tích trữ tài sản ngày càng nhiều. Dần dần, tài sản trở thành thước đo giá trị, số người ghen ghét, ganh tỵ lẫn nhau ngày một gia tăng. Từ đó, những kẻ ham danh vọng, ưa chiến thắng sẽ biến thành đám đông hành xử giống nhau và đều chuộng tiền bạc, trở thành những kẻ hám tiền. Chúng hạ thấp vai trò của đạo đức, làm cho hố sâu ngăn cách giữa đạo đức và tiền bạc ngày càng lớn. Cuối cùng, cảnh chuyển tiếp sẽ diễn ra, người ham chiến thắng và trọng danh dự trở thành người yêu tiền của. Rốt cuộc, tài sản trở thành thước đo quyền lực, của cải càng nhiều, chính quyền càng mang tính quả đầu. Đó chính là cách thức dẫn đến sự ra đời của chính quyền quả đầu.

Chính thể quả đầu là chính thể mà thành bang Sparta là đại diện. Theo Plato, nhược điểm của chính thể này là lấy tài sản làm thước đo quyền lực chính trị. Ví nhà nước như con thuyền, Plato đặt vấn đề: Nhà nước sẽ ra sao, khi người lái thuyền là người nhiều tiền, nhưng không biết phương hướng, trong khi người có thể làm hoa tiêu thì lại không được trao vì họ nghèo khó. Hơn nữa, vì thước đo là tài sản, nên thành bang bị phân chia thành hai thành bang cùng chung sống – thành bang toàn người giàu và thành bang toàn người nghèo. Hai thành bang này luôn tìm cách hại nhau, nhưng lại né tránh chiến tranh, không muốn bỏ tiền của để theo đuổi chiến tranh. Mẫu người trong thành bang quả đầu do ham mê tiền bạc mà trở nên bủn xỉn, không đề cao đạo đức và do vậy, không quan tâm đến giáo dục. Người được cầm quyền nhờ có của cải không muốn sử dụng luật pháp để “hạn chế tình trạng vô độ, quá trớn, ngăn cản đám trẻ tiêu pha hoang phí làm hại bản thân” [3, tr.574]. Bởi, họ muốn kiếm lời từ chính tình trạng này và cũng bởi, do muốn tích tụ tài sản, nên họ rất muốn sự vô độ ấy xảy ra để có thể gia tăng sự giàu có, tiếng tăm và củng cố quyền lực. Nhưng, cũng do tình trạng đó mà “có người nợ nần, có người mất quyền công dân, có người bị cả hai. Họ (…) căm thù đám sở đắc tài sản của mình, âm mưu chống lại đám này và đám khác, âm thầm ngồi im, nóng lòng trông chờ đổi thay” [3, tr.575]. Trong quan niệm của Plato, “mỗi người chỉ làm một việc, nếu làm nhiều việc, đương nhiên phải phân chia cố gắng, người làm sẽ thất bại chẳng việc nào ra trò… một người chẳng thể sắm nhiều vai hoàn hảo” [3, tr.229]. Nhưng ở chính thể quả đầu, vì muốn kiếm được nhiều tiền, nên một người thường kiêm nhiệm nhiều việc khác nhau. Nội tâm họ bị rối loạn bởi sự ham muốn tiền của đến vô độ và do vậy, họ không làm được một việc gì chuyên tâm và chuyên sâu, qua đó, tạo nên một xã hội bất tuân trật tự. 

Nhìn thấy những hạn chế nghiêm trọng trong thành bang quả đầu, Plato cho rằng, việc để mất chính quyền trong thành bang này là điều khó tránh khỏi. Rằng, một chính quyền coi trọng tài sản, coi nhẹ giáo dục và đạo đức, ủng hộ việc kiếm tiền một cách trắng trợn và xấu xa trên sự đau khổ của kẻ khác thì chính quyền đó có thể hủy hoại tương lai của chính mình. Rằng, “thể chế đó sụp đổ là do thèm muốn quá đáng của cải, khiến không nghĩ tới vấn đề khác mà chỉ nghĩ đến làm tiền” [3, tr.589]. Do vậy, theo Plato, giải pháp để bảo tồn chính thể quả đầu này là phải bổ sung điều luật, hạn chế sự vô độ, buộc quần chúng phải hành xử theo quy định đã được đặt ra. Thế nhưng, những người cầm quyền lại lơ là trước sự mạnh yếu của thành bang. Họ chỉ biết lo cho bản thân và đẩy thứ dân vào tình trạng cùng quẫn. Thế hệ sau của người cai trị vô giáo dục trở nên bạc nhược và không có khả năng chống đỡ khi có hiểm họa xảy ra. Khi đó, người nghèo nhận thấy kẻ giàu có đang bóc lột và sống nhờ vào chính họ; rằng, cái đám người giàu có đó cũng vô dụng và không phải hạng người tốt. Họ không chấp nhận tình trạng hiện thời. Từ đó, chiến tranh diễn ra và người nghèo đã thắng thế. Như vậy, Plato đã cho chúng ta thấy, một chế độ tồn tại mà thiếu giáo dục, nuôi dưỡng thói ham tiền một cách trắng trợn, hệ thống chính trị được tổ chức lỏng lẻo và xấu xa thì hậu quả ắt phải nhường vị trí cho một thế lực khác. Chính thể dân chủ ra đời khi người nghèo lên nắm chính quyền, tàn sát người giàu và loại trừ những thành phần đối lập lưu vong.

Bài học rút ra từ những phân tích về sự ra đời chính thể dân chủ của Plato là: Thứ nhất, muốn bảo toàn chính quyền, người cầm quyền phải tuyệt đối sáng suốt, anh minh và công bằng; thứ hai, sự phát triển quá độ về vật chất mà không quan tâm đến giáo dục con người, coi thường đạo đức xã hội, thì nguy cơ bị lật đổ chính quyền là điều có thể xảy ra; thứ ba, sự bóc lột trắng trợn của tầng lớp trên đối với tầng lớp dưới sẽ tạo ra một sự phản kháng, mất niềm tin vào sự lãnh đạo và thái độ coi thường tầng lớp trên, sự hỗn loạn sẽ nổ ra thay thế cho một trật tự mới; thứ tư, chính quyền luôn phải xem xét sự cân bằng quyền lực và không được ham mê cái gì quá đà, ham danh quá cũng không được, ham vật chất quá cũng không ổn, mọi việc đều phải hài hòa.

Rõ ràng, Plato đã nhìn thấy nguyên nhân của sự sụp đổ chính quyền. Chỉ có điều ông hơi cực đoan, khi chỉ nhìn thấy mặt trái mà không đưa ra được những yếu tố tích cực trong sự vận động của lịch sử xã hội.

Trong chính thể dân chủ, “dân” được Plato liệt kê ra bao gồm ba thành phần cơ bản. Một là, thành phần lười biếng, tự do buông thả, phát triển tự nhiên, đây là thành phần nghèo khó nhưng lại là chủ chốt, lãnh đạo thành bang. Mọi việc trong thành bang đều do họ quyết định, trừ vài trường hợp nhỏ. Hai là, thành phần liên tục nổi bật trong quần chúng, đó là những kẻ có tiền, có của, nơi cung cấp mật ngọt cho thành phần thứ nhất giống như “đồng cỏ” của đám “ong đực”(*). Thứ ba, thành phần quần chúng lao động, họ kiếm sống, lo việc của mình và không can dự vào chính trị. Mỗi khi họp bàn về quốc sự, thành phần này không muốn tham gia, trừ phi tụ họp với nhau để chia chác. Với quan niệm này, “dân”, theo Plato, không bao gồm nô lệ và dân nhập cư.

Vậy, chính thể dân chủ được thiết lập với các thành phần ấy có những đặc trưng gì?

Chúng ta có thể phác thảo những đặc trưng cơ bản của chính thể dân chủ được Plato đưa ra như sau:(*)

Thứ nhất, trong chính quyền dân chủ, việc trao quyền, bổ nhiệm chức vụ trong xã hội theo nguyên tắc bốc thăm và đặc biệt, chính khách được đề cao khi người đó “tuyên bố là bạn của nhân dân, quyết tâm phục vụ mọi điều nhân dân ao ước” [3, tr.580].

Thứ hai, quần chúng trong xã hội bình đẳng và đều có cơ hội tham gia chính quyền, tất cả được phân chia đồng đều, như nhau.

Thứ ba, quần chúng có quyền tự do và tự do ngôn luận rộng rãi, công dân đều tự do muốn làm gì thì làm. Mọi người được tự do tổ chức cuộc sống riêng tư thích hợp với mình.

Với những đặc trưng đó của chính thể dân chủ, chúng ta thấy quan niệm của Plato về dân chủ như sau: Dân chủ là quần chúng có quyền tự do (tự do lựa chọn, tự do ngôn luận, tự do tổ chức cuộc sống riêng tư), bình đẳng chính trị như nhau, đều có cơ hội tham gia chính quyền theo nguyên tắc lựa chọn bằng cách bốc thăm, chính quyền thực hiện ý nguyện của nhân dân, phục vụ nhân dân.

Qua những phân tích của Plato về chính thể, chúng ta thấy, trong chính thể quả đầu (hay chính thể đầu sỏ) thì quyền lực chính trị thuộc về giới quý tộc, nhiều tiền; còn trong chính thể dân chủ, quyền lực chính trị thuộc về quần chúng nhân dân, của tầng lớp nghèo khó.

Trong quan niệm của Plato, chính quyền nào cũng đều phải ban hành luật pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của chính quyền ấy. Vì vậy, chính quyền dân chủ ban hành luật pháp dân chủ, khẳng định sự công bằng, hợp lý với nhân dân và hợp với quyền lợi của họ [Xem: 3, tr.97].

Cái chính thể dân chủ mà Plato miêu tả ấy, dù mô hình có khác nhiều so với chính thể dân chủ ngày nay, nhưng, có thể nói, đó là một chính thể có nhiều yếu tố mà ngày nay, người ta vẫn đang muốn củng cố và duy trì. “Tự do” và “bình đẳng” có quan hệ mật thiết và phổ biến nhất trong chính thể này, dưới góc nhìn hiện đại, rõ ràng đó là những yếu tố tiến bộ hơn chính thể quả đầu. Quần chúng được tự do ngôn luận, tự do lựa chọn cuộc sống riêng tư mà không phải chịu sự ép buộc của bất cứ ai. Tầng lớp dân nghèo trước đây bị chèn ép, bóc lột, nay có cơ hội được tham gia vào mọi hoạt động, kể cả hoạt động chính trị. Đặc biệt, tính nhân văn và cao cả nhất là người có quyền lực chính trị được lựa chọn phải là người có tâm huyết phục vụ nhân dân, làm bạn với nhân dân. Những yếu tố như “người nghèo thắng thế”, “tự do”, “bình đẳng”, “phục vụ nhân dân” thực sự đã tô màu cho bức tranh dân chủ. Cơ chế thực thi dân chủ trong chính thể dân chủ, theo Plato, là thực thi tự do và bình đẳng. Plato cũng thừa nhận một cách mỉa mai rằng, “có lẽ đây là cơ chế hấp dẫn khủng khiếp. Như tấm áo thêu thùa đủ loại hoa hình, trình bày đủ loại màu sắc, tô điểm đủ loại nét vẻ con người, cơ chế trở nên lôi cuốn lạ kỳ. Vì thế, quả nhiên và có lẽ, như đàn bà và trẻ con nom thấy đồ vật màu sắc sặc sỡ, đa số dân chúng nhận xét đó là hình thức xã hội tốt đẹp hơn hết” [3, tr.578].

Như vậy, về cơ bản, dân chúng thích loại hình chính thể dân chủ. Tuy nhiên, Plato lại có quan niệm ngược lại. Theo ông, với những đặc trưng về “tự do” và “bình đẳng chính trị”, chính thể dân chủ lại là biểu tượng đáng tiếc nhất gây nên những điều bất ổn trong thành bang. Công dân hoàn toàn được tự do, nhưng theo ông, “tự do” ấy đã bị đẩy lên mức cực điểm – đó là một sự “tự do” quá đáng, mất kiểm soát. Còn “bình đẳng” bị đẩy đến mức bất kể có bằng nhau hay không, khi nó xóa nhòa những ranh giới trong trật tự xã hội. Có lẽ, cuộc chiến 27 năm và việc bại trận của thành bang Athens đã bao phủ lên tư tưởng của ông một bóng đen tiêu cực. Do vậy, ông đã chỉ trích kịch liệt sự “tự do” và “bình đẳng” trong chính thể này. Theo ông, sự tự do rộng rãi sẽ trở thành buông thả cho sự tự do xây dựng cơ chế, xã hội sẽ bấn loạn trong một loạt các mô hình, thể chế. Cũng giống như sự suy đồi của chính thể quả đầu do ham mê tiền bạc một cách thái quá, chính thể dân chủ do ham mê “tự do” một cách quá độ ắt dẫn đến những hậu quả không thể kiểm soát nổi. “Tự do” kiểu này chỉ đem đến cho con người sự coi thường vị thế quyền lực, coi thường trật tự xã hội, đạo lý và cả pháp luật. Còn dân chúng thì không chịu khép mình trong bất kỳ một tổ chức chính trị, tôn giáo hay đạo đức nào [Xem: 3, tr.579-591].

Bản chất dân chủ đã được Plato nhìn nhận từ việc rút ra kinh nghiệm trực tiếp từ thành bang Athens. Nền dân chủ Athens mà Plato chỉ trích khác xa với nền dân chủ mà ngày nay chúng ta quan niệm. Đó là một nền dân chủ trực tiếp. Trong khoảng hai, ba trăm ngàn người dân của thành bang Athens, đã có gần bảy, tám chục ngàn thuộc vào hàng nô lệ và ba, bốn chục ngàn người là dân nhập cư hoặc kiều cư, họ bị tước đoạt cả quyền chính trị lẫn quyền công dân. Với số người còn lại thì chỉ có một thiểu số người đủ tuổi công dân được đại diện tại quốc hội để bàn luận và quyết định về các vấn đề của quốc gia. Tuy nhiên, nền dân chủ đó, có thể nói, là hoàn hảo nhất cho tới thời điểm đó. Bởi lẽ, ở đây, Đại hội đồng là cơ quan tối cao của quốc gia và cơ quan hành pháp được tuyển chọn theo thứ tự trong danh sách của toàn thể công dân và đều do dân chúng kiểm soát [Xem: 3, tr.26].

Plato chỉ ra rằng, trong chính thể dân chủ, cơ chế trao quyền điều hành quốc sự được trao cho đám đông dân chúng không được giáo dục cẩn thận, không được nuôi dưỡng trong một môi trường trong sạch, nguồn gốc, tiểu sử không rõ ràng, không có thứ bậc và đó là điều không thể chấp nhận. Dân chúng thiếu kinh nghiệm, ít hiểu biết, nhận xét theo cảm tính hoặc thành kiến tất dẫn đến việc lựa chọn người vào Đại hội đồng là không chuẩn xác và kết quả là lợi ít, hại nhiều, hậu quả chính là dễ dàng dẫn đến chính thể độc tài, đàn áp dân chúng một cách man rợ.

Qua những nhận xét của Plato, chính thể dân chủ Athens cũng là một chính thể suy đồi. Dưới cái nhìn của ông, hầu như nó là một chính thể tiêu cực, còn những yếu tố tích cực, được đánh giá cao, được dân chúng ủng hộ, như tự do và bình đẳng, lại là những yếu tố nguy hại.

Vậy, chúng ta thấy được giá trị gì qua những phân tích của Plato về nền dân chủ Athens này?

Từ quan niệm của Plato về nền dân chủ hay chính thể dân chủ Athens đã tạo cơ sở cho các triết gia sau này phát triển tư tưởng về dân chủ và xây dựng quan niệm về thể chế dân chủ. Yếu tố “tự do” và “bình đẳng” đã được quan tâm nghiên cứu và bổ sung, gắn với sự phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt động của chính thể dân chủ. Nhiều triết gia đã kế thừa và chắt lọc những tinh túy trong tư tưởng của Plato để phát triển tư tưởng dân chủ của mình. Từ những phân tích về các mặt tiêu cực của chính thể dân chủ, các triết gia sau này đã hoàn thiện lý thuyết về dân chủ để không còn những mặt hạn chế có thể xảy ra.

Từ việc nhận rõ những khuyết điểm của “tự do” và “bình đẳng” trong thể chế dân chủ Athens mà Plato đã đưa ra, chúng ta có thể rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình hoàn thiện cơ chế dân chủ hiện nay, việc xây dựng quyền tự do cá nhân, làm cho mỗi người đều được hưởng quyền tự do mà không xâm phạm đến trật tự xã hội, không vi phạm đạo đức và pháp luật, tự do trong khuôn khổ, tự do trong cái tất yếu.

Tóm lại, qua việc nghiên cứu tư tưởng của Plato về thể chế dân chủ Athens, ta có thể thấy ông có cái nhìn cực đoan về thể chế dân chủ, ông không đề cập đến mặt tích cực của nó mà ra sức phân tích mặt tiêu cực. Những gì ông phân tích về mô hình trong chính thể dân chủ chưa thực sự đầy đủ. Đánh giá của ông về vai trò và tầm quan trọng của thể chế dân chủ chưa thực sự khách quan. Ông không thấy hết được những ưu điểm của thể chế dân chủ đem lại cho xã hội và cho con người. Tuy nhiên, ông đã đặt những “viên gạch” đầu tiên cho việc xây dựng nền dân chủ dù bắt nguồn từ sự phê phán.

 

Tài liệu tham khảo

[1]  David Held (2006), Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại (Phạm Nguyên Trường dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội.

[2] Benjamin Jowett & M.J.Knight (2008). Plato chuyên khảo, (Lưu Văn Hy và Trí Tri biên dịch), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

[3]  Plato (2013), Cộng hòa (Dịch giả Đỗ Khánh Hoan), Nxb Thế giới, Hà Nội.

[4]  Dave Robinson và Judy Groves (2006), Nhập môn Plato, (Trần Tiễn Cao Đăng dịch và Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính). Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

[5]   P.S.Taranop (2000), 106 nhà thông thái, (Đỗ Minh Hợp dịch), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.



(*) Có nhiều sách viết “cơ chế quả đầu” là “cơ chế đầu sỏ”. Ở đây, tác giả chọn dùng từ “cơ chế quả đầu”  theo tác phẩm “Cộng hòa” được dịch bởi Đỗ Khánh Hoan, Nxb Thế giới.

(*) Đám ong đực, theo Plato, ý nói đến thành phần thứ nhất.

 

Tác giả:  Đỗ Thị Kim Hoa -Tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1